Thứ hai 19/01/2026 18:38
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật về thương mại điện tử ở Việt Nam hiện nay

Ngày 16/5/2013, Chính phủ ban hành Nghị định số 52/2013/NĐ-CP về thương mại điện tử (Nghị định số 52/2013/NĐ-CP) thay thế Nghị định số 57/2006/NĐ-CP ngày 09/6/2006 của Chính phủ. Nghị định 52/2013/NĐ-CP được xây dựng với mục tiêu thiết lập hành lang pháp lý cho các giao dịch thương mại điện tử (TMĐT) được tiến hành một cách minh bạch, trên cơ sở cạnh tranh lành mạnh, qua đó tạo điều kiện để TMĐT phát triển, góp phần nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp và xây dựng tập quán thương mại hiện đại cho Việt Nam.



Trong những năm gần đây, tại Việt Nam, TMĐT đang trở thành một hình thái kinh doanh phổ cập của doanh nghiệp và có sức lan tỏa mạnh mẽ trong cộng đồng người tiêu dùng Việt Nam. So với các nước trong khu vực Đông Nam Á, Việt Nam là quốc gia có tốc độ tăng trưởng về thị phần bán lẻ thuộc top ba của khu vực. Từ năm 2015 đến nay, tốc độ tăng trưởng của 03 nền kinh tế internet lớn nhất khu vực Đông Nam Á đạt trung bình 33 - 35%, theo đó, đứng đầu là Indonesia với 49%, thứ hai là Việt Nam với 38%, thứ ba là Phillipines với 32%[1]. Tuy nhiên, với bản chất của TMĐT là hoạt động thương mại áp dụng các tiến bộ trong công nghệ thông tin và Internet, hoạt động TMĐT cũng là lĩnh vực chịu nhiều tác động và thay đổi nhanh chóng. Nhiều mô hình TMĐT mới xuất hiện, đa dạng về cách thức hoạt động và chủ thể tham gia, đặc biệt các mạng xã hội đang nổi lên là một phương thức giao dịch TMĐT phổ biến nhưng chưa được điều chỉnh; các hành vi vi phạm trong TMĐT diễn ra ngày càng phức tạp, đặc biệt là vấn nạn hàng giả, hàng lậu, hàng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trên các sàn giao dịch TMĐT và mạng xã hội; hoạt động TMĐT có yếu tố nước ngoài phát sinh dưới nhiều hình thức và một số vấn đề khác đang đặt ra yêu cầu mới đối với cơ quan quản lý nhà nước.

Bên cạnh đó, Nghị quyết số 50-NQ/TW ngày 20/8/2019 của Bộ Chính trị về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030 đã xác định: Đa phương hoá, đa dạng hoá đối tác, hình thức đầu tư, đan xen lợi ích trong hợp tác đầu tư nước ngoài và kết nối hữu cơ với khu vực kinh tế trong nước, phù hợp với định hướng cơ cấu lại nền kinh tế và mục tiêu phát triển bền vững; bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh, an sinh, trật tự, an toàn xã hội và nâng cao tính độc lập, tự chủ của nền kinh tế. Ngoài ra, Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư chỉ đạo: Hoàn thiện pháp luật, trước hết là pháp luật về doanh nghiệp, khởi nghiệp sáng tạo, sở hữu trí tuệ, thương mại, đầu tư, kinh doanh để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình chuyển đổi số quốc gia và phát triển các sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh tế mới dựa trên nền tảng công nghệ số, internet và không gian mạng; đồng thời, ngăn chặn kịp thời các tác động tiêu cực cả về kinh tế và xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội trên không gian mạng. Do đó, để bảo đảm thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước cũng như để bảo đảm phù hợp với tình hình thực tiễn, việc đánh giá sơ lược về một số bất cập trong thực tiễn hoạt động TMĐT tại Việt Nam hiện nay từ đó kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này là việc làm cần thiết.

1. Thực tiễn hoạt động thương mại điện tử tại Việt Nam và những vấn đề đặt ra

1.1. Vấn nạn hàng giả, hàng không rõ nguồn gốc xuất xứ và hàng kém chất lượng trên môi trường điện tử

Với đặc thù của hoạt động TMĐT là người mua và người bán không gặp mặt trực tiếp, nên các hành vi vi phạm pháp luật có thể được thực hiện dễ dàng hơn. Một số đối tượng lợi dụng TMĐT để thực hiện các hành vi lừa đảo, mua bán hàng hoá không rõ nguồn gốc xuất xứ, kinh doanh hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, hàng cấm, với các cách thức đưa tin, đăng bài tinh vi, phức tạp để tránh bộ lọc của đơn vị quản lý website và cơ quan chức năng. Không khó để có thể thấy các trường hợp người mua nhận được hàng hóa không rõ nguồn gốc hoặc hàng kém chất lượng và việc xử phạt của các cơ quan có thẩm quyền đối với hàng kém chất lượng. Từ cuối tháng 2, đầu tháng 3/2020, Cục Thương mại điện tử và kinh tế số cho biết, đã rà soát tổng số 463.865 gian hàng và 1.755.559 sản phẩm; đã xử lý khoảng 5.200 gian hàng với trên 21.000 sản phẩm vi phạm. Cụ thể, sàn TMĐT có số sản phẩm vi phạm nhiều nhất là Sendo.vn với hơn 400 gian hàng và gần 4.000 sản phẩm khẩu trang vi phạm. Sàn có nhiều sản phẩm vi phạm thứ hai là Shopee.vn với gần 3.000 gian hàng và hơn 3.500 khẩu trang y tế vi phạm[2].

Ngoài ra, hiện nay, các đơn vị vận hành sàn giao dịch TMĐT là chủ thể đặt ra luật lệ, nắm toàn bộ thông tin cũng như công nghệ để quản lý các giao dịch trên hạ tầng của mình, do vậy họ có năng lực và có trách nhiệm triển khai các nghiệp vụ về xét duyệt thông tin người bán, kiểm soát thông tin hàng hóa, giao dịch, thanh toán trên nền tảng mà họ quản lý. Tuy nhiên, với lý do hạn chế về nhân lực, công nghệ (khách quan) hoặc chưa quan tâm đầu tư đúng mức, thậm chí buông lỏng việc xét duyệt hồ sơ của đối tượng tham gia sàn (chủ quan), hiện tượng hàng hóa không rõ nguồn gốc xuất xứ, hàng giả, hàng nhái, hàng hóa đăng tải bằng ngôn ngữ nước ngoài xuất hiện trên các sàn TMĐT với diễn biến phức tạp, khó lường, chưa cho thấy các biện pháp kiểm soát hữu hiệu.

Về khuôn khổ pháp lý, quy định hiện hành đang xác định việc cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ là trách nhiệm của người bán trên sàn giao dịch TMĐT. Trong khi đó, với hàng chục ngàn đến hàng trăm ngàn người bán thông qua các sàn giao dịch TMĐT, các đơn vị vận hành sàn đang chỉ thực thi trách nhiệm trong việc tự ban hành quy chế đăng tải thông tin. Điều này dẫn đến các sàn giao dịch TMĐT có yêu cầu khác nhau trong thể hiện thông tin về nguồn gốc xuất xứ hay quy cách chất lượng, thông tin người bán, từ đó, tạo kẽ hở để một số đối tượng lợi dụng thực hiện hành vi vi phạm pháp luật.

1.2. Thiếu cơ chế để quản lý hoạt động thương mại điện tử

Hiện nay, vai trò của cơ quan quản lý nhà nước trong hoạt động TMĐT còn chưa rõ nét. Cụ thể, khi liên hệ với chủ thể cung cấp hàng hóa, dịch vụ để giải quyết tranh chấp, khiếu nại sẽ gặp nhiều khó khăn, thậm chí là không thực hiện được mà chủ yếu phụ thuộc vào chính sách, thiện chí của từng chủ thể. Ngoài ra, việc cơ quan quản lý nhà nước xử lý những hành vi vi phạm pháp luật có nhiều bất cập, khó khả thi do khoảng cách địa lý, độ trễ thời gian, quyền tài phán và thậm chí là phụ thuộc hoàn toàn vào thiện chí của các chủ sở hữu.

Từ thực tiễn nêu trên, đặt ra yêu cầu hoàn thiện pháp luật về thương mại điện tử nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển, đặc biệt trong bối cảnh TMĐT là hoạt động thương mại hiện đại có tăng trưởng nhanh và mạnh mẽ, chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong cơ cấu thương mại, qua đó góp phần hướng đến phát triển kinh tế số và chuyển đổi số quốc gia.

2. Một số kiến nghị

Để khắc phục những vướng mắc, bất cập phát sinh từ thực tiễn thi hành Nghị định số 52/2013/NĐ-CP, hướng đến bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng cho hoạt động TMĐT; đảm bảo quyền lợi người tiêu dùng trong TMĐT; không để TMĐT bị lợi dụng trở thành phương thức thực hiện các hành vi mua bán, lưu thông hàng hóa vi phạm pháp luật, tác giả đưa ra một số kiến nghị cụ thể như sau:

Thứ nhất, sửa đổi các quy định trong Nghị định số 52/2013/NĐ-CP để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và phù hợp với quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Theo đó, sửa đổi nguyên tắc xác định nghĩa vụ về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong hoạt động TMĐT và nguyên tắc kinh doanh các hàng hóa, dịch vụ hạn chế kinh doanh, kinh doanh có điều kiện thông qua TMĐT. Cụ thể, tại điểm c khoản 3 và khoản 4 Điều 26 Nghị định số 52/2013/NĐ-CP bổ sung trường hợp thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ thương mại điện tử thực hiện dịch vụ cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ của người bán tới người tiêu dùng trên website thương mại điện tử thì thương nhân, tổ chức đó là bên thứ ba trong việc cung cấp thông tin theo pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Việc bổ sung quy định này cũng phù hợp với quy định tại khoản 12 Điều 3 Nghị định số 98/2020/NĐ-CP ngày 26/8/2020 của Chính phủ trong việc xác định cụ thể bên thứ ba trong việc cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ tới người tiêu dùng.

Bên cạnh đó, sửa đổi quy định thông tin về điều kiện giao dịch chung theo hướng bổ sung nội dung chính sách kiểm hàng tại điểm b khoản 1 Điều 32 Nghị định số 52/2013/NĐ-CP. Theo đó, thương nhân, tổ chức, cá nhân phải công bố điều kiện về chính sách kiểm hàng trên website, bảo đảm tính minh bạch và tăng cường bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Quy định này nhằm khắc phục tình trạng hiện nay nhiều website không công bố rõ ràng chính sách có cho phép hay không việc đồng kiểm hàng của khách hàng ghi nhận hàng, người tiêu dùng không nắm được thông tin dẫn dến việc phát sinh khiếu nại, tranh chấp. Việc bổ sung nội dung chính sách kiểm hàng để đảm bảo, thương nhân, tổ chức, cá nhân thiết lập website phải công bố rõ các điều kiện về chính sách kiểm hàng trên website, bảo đảm tính minh bạch và tăng cường bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

Ngoài ra, cần sửa đổi, bổ sung quy định về thông tin hàng hóa, dịch vụ theo hướng quản lý chặt hơn đối với thông tin hàng hóa công khai trên website. Các thông tin này phải theo quy định của pháp luật về nhãn hàng hóa, loại trừ các thông tin mang tính chất riêng biệt theo sản phẩm như ngày, tháng, năm sản xuất, hạn sử dụng, số lô sản xuất. Việc loại trừ một số thông tin đặc định đối với hàng hóa như ngày sản xuất, hạn sử dụng, số lô sản xuất… là cần thiết do mỗi sàn thương mại điện tử có trưng bày, giới thiệu, bán hàng triệu mặt hàng khác nhau. Trong đó, mỗi mặt hàng lại có thông tin đặc tính như ngày sản xuất, hạn sử dụng, số lô sản xuất khác nhau mặc dù cùng đáp ứng đủ quy chuẩn, tiêu chuẩn của nhà sản xuất. Việc không loại trừ các thông tin này sẽ dẫn đến các sàn TMĐT phải kiểm soát bổ sung một lượng thông tin vô cùng lớn, thậm chí là bất khả thi. Mặt khác, để các cơ quan phòng, chống gian lận thương mại, người tiêu dùng có thể dễ dàng kiểm tra, kiểm soát thông tin, uy tín, tính chấp hành pháp luật của người bán đối với các mặt hàng kinh doanh có điều kiện, cần nghiên cứu bổ sung quy định về nghĩa vụ của chủ website TMĐT phải công bố các văn bản chứng nhận, giấy phép do cơ quan có thẩm quyền cấp trong Nghị định số 52/2013/NĐ-CP.

Thứ hai, nâng cao vai trò quản lý nhà nước của cơ quan có thẩm quyền về TMĐT. Hoạt động TMĐT có liên quan đến nhiều bộ, ngành. Do đó, cần xác định rõ trách nhiệm của các bộ, ngành có liên quan trong việc quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực có liên quan đến TMĐT. Tác giả cho rằng, bên cạnh vai trò chủ trì quản lý hoạt động thương mại điện tử của Bộ Công Thương, cần bổ sung trách nhiệm của Bộ Thông tin và Truyền thông trong việc quản lý internet đối với các website có hoạt động TMĐT tại Việt Nam. Hay vai trò của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong việc cung cấp thông tin về số lượt giao dịch của các website TMĐT hoặc Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong việc cung cấp thông tin, chia sẻ dữ liệu về các doanh nghiệp có đăng ký ngành nghề kinh doanh thương mại điện tử... Mặt khác, trong xu thế toàn cầu hiện nay, việc hội nhập quốc tế để thúc đẩy thương mại điện tử là cần thiết, trong đó, với vai trò quản lý, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần kịp thời rà soát, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để một mặt tạo điều kiện cho TMĐT phát triển, mặt khác bảo đảm cạnh tranh lành mạnh, bảo vệ an ninh mạng, an ninh quốc gia.

Bên cạnh đó, để cơ quan quản lý nhà nước nắm được thông tin chính xác, đầy đủ của các bên, phục vụ cho việc quản lý nhà nước và giải quyết tranh chấp, khiếu nại nếu phát sinh thì việc sửa đổi quy định về thủ tục hành chính thông báo với Bộ Công Thương theo hướng khoanh vùng, ấn định chỉ có website có chức năng đặt hàng trực tuyến mới phải thực hiện thủ tục thông báo. Việc sửa đổi quy định này sẽ góp phần giúp Bộ Công Thương quản lý thực chất hơn các website TMĐT. Bởi vì, hiện nay, theo quy định của Nghị định số 52/2013/NĐ-CP, thì tất cả các website TMĐT đều phải làm thủ tục thông báo với Bộ Công Thương.

Thịnh Anh

[1] Theo báo cáo "Nền kinh tế internet Đông Nam Á" năm 2019 của Google và Temasek, tốc độ tăng trưởng doanh thu kinh tế internet của Việt Nam đạt khoảng 25%/năm, ước đạt 43 tỷ USD vào năm 2025 (số liệu này không bao gồm doanh thu từ dịch vụ Onlsine Media là 36 tỷ USD).

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.

Theo dõi chúng tôi trên: