Thứ bảy 27/06/2026 06:56
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật về thương mại điện tử ở Việt Nam hiện nay

Ngày 16/5/2013, Chính phủ ban hành Nghị định số 52/2013/NĐ-CP về thương mại điện tử (Nghị định số 52/2013/NĐ-CP) thay thế Nghị định số 57/2006/NĐ-CP ngày 09/6/2006 của Chính phủ. Nghị định 52/2013/NĐ-CP được xây dựng với mục tiêu thiết lập hành lang pháp lý cho các giao dịch thương mại điện tử (TMĐT) được tiến hành một cách minh bạch, trên cơ sở cạnh tranh lành mạnh, qua đó tạo điều kiện để TMĐT phát triển, góp phần nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp và xây dựng tập quán thương mại hiện đại cho Việt Nam.



Trong những năm gần đây, tại Việt Nam, TMĐT đang trở thành một hình thái kinh doanh phổ cập của doanh nghiệp và có sức lan tỏa mạnh mẽ trong cộng đồng người tiêu dùng Việt Nam. So với các nước trong khu vực Đông Nam Á, Việt Nam là quốc gia có tốc độ tăng trưởng về thị phần bán lẻ thuộc top ba của khu vực. Từ năm 2015 đến nay, tốc độ tăng trưởng của 03 nền kinh tế internet lớn nhất khu vực Đông Nam Á đạt trung bình 33 - 35%, theo đó, đứng đầu là Indonesia với 49%, thứ hai là Việt Nam với 38%, thứ ba là Phillipines với 32%[1]. Tuy nhiên, với bản chất của TMĐT là hoạt động thương mại áp dụng các tiến bộ trong công nghệ thông tin và Internet, hoạt động TMĐT cũng là lĩnh vực chịu nhiều tác động và thay đổi nhanh chóng. Nhiều mô hình TMĐT mới xuất hiện, đa dạng về cách thức hoạt động và chủ thể tham gia, đặc biệt các mạng xã hội đang nổi lên là một phương thức giao dịch TMĐT phổ biến nhưng chưa được điều chỉnh; các hành vi vi phạm trong TMĐT diễn ra ngày càng phức tạp, đặc biệt là vấn nạn hàng giả, hàng lậu, hàng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trên các sàn giao dịch TMĐT và mạng xã hội; hoạt động TMĐT có yếu tố nước ngoài phát sinh dưới nhiều hình thức và một số vấn đề khác đang đặt ra yêu cầu mới đối với cơ quan quản lý nhà nước.

Bên cạnh đó, Nghị quyết số 50-NQ/TW ngày 20/8/2019 của Bộ Chính trị về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030 đã xác định: Đa phương hoá, đa dạng hoá đối tác, hình thức đầu tư, đan xen lợi ích trong hợp tác đầu tư nước ngoài và kết nối hữu cơ với khu vực kinh tế trong nước, phù hợp với định hướng cơ cấu lại nền kinh tế và mục tiêu phát triển bền vững; bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh, an sinh, trật tự, an toàn xã hội và nâng cao tính độc lập, tự chủ của nền kinh tế. Ngoài ra, Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư chỉ đạo: Hoàn thiện pháp luật, trước hết là pháp luật về doanh nghiệp, khởi nghiệp sáng tạo, sở hữu trí tuệ, thương mại, đầu tư, kinh doanh để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình chuyển đổi số quốc gia và phát triển các sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh tế mới dựa trên nền tảng công nghệ số, internet và không gian mạng; đồng thời, ngăn chặn kịp thời các tác động tiêu cực cả về kinh tế và xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội trên không gian mạng. Do đó, để bảo đảm thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước cũng như để bảo đảm phù hợp với tình hình thực tiễn, việc đánh giá sơ lược về một số bất cập trong thực tiễn hoạt động TMĐT tại Việt Nam hiện nay từ đó kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này là việc làm cần thiết.

1. Thực tiễn hoạt động thương mại điện tử tại Việt Nam và những vấn đề đặt ra

1.1. Vấn nạn hàng giả, hàng không rõ nguồn gốc xuất xứ và hàng kém chất lượng trên môi trường điện tử

Với đặc thù của hoạt động TMĐT là người mua và người bán không gặp mặt trực tiếp, nên các hành vi vi phạm pháp luật có thể được thực hiện dễ dàng hơn. Một số đối tượng lợi dụng TMĐT để thực hiện các hành vi lừa đảo, mua bán hàng hoá không rõ nguồn gốc xuất xứ, kinh doanh hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, hàng cấm, với các cách thức đưa tin, đăng bài tinh vi, phức tạp để tránh bộ lọc của đơn vị quản lý website và cơ quan chức năng. Không khó để có thể thấy các trường hợp người mua nhận được hàng hóa không rõ nguồn gốc hoặc hàng kém chất lượng và việc xử phạt của các cơ quan có thẩm quyền đối với hàng kém chất lượng. Từ cuối tháng 2, đầu tháng 3/2020, Cục Thương mại điện tử và kinh tế số cho biết, đã rà soát tổng số 463.865 gian hàng và 1.755.559 sản phẩm; đã xử lý khoảng 5.200 gian hàng với trên 21.000 sản phẩm vi phạm. Cụ thể, sàn TMĐT có số sản phẩm vi phạm nhiều nhất là Sendo.vn với hơn 400 gian hàng và gần 4.000 sản phẩm khẩu trang vi phạm. Sàn có nhiều sản phẩm vi phạm thứ hai là Shopee.vn với gần 3.000 gian hàng và hơn 3.500 khẩu trang y tế vi phạm[2].

Ngoài ra, hiện nay, các đơn vị vận hành sàn giao dịch TMĐT là chủ thể đặt ra luật lệ, nắm toàn bộ thông tin cũng như công nghệ để quản lý các giao dịch trên hạ tầng của mình, do vậy họ có năng lực và có trách nhiệm triển khai các nghiệp vụ về xét duyệt thông tin người bán, kiểm soát thông tin hàng hóa, giao dịch, thanh toán trên nền tảng mà họ quản lý. Tuy nhiên, với lý do hạn chế về nhân lực, công nghệ (khách quan) hoặc chưa quan tâm đầu tư đúng mức, thậm chí buông lỏng việc xét duyệt hồ sơ của đối tượng tham gia sàn (chủ quan), hiện tượng hàng hóa không rõ nguồn gốc xuất xứ, hàng giả, hàng nhái, hàng hóa đăng tải bằng ngôn ngữ nước ngoài xuất hiện trên các sàn TMĐT với diễn biến phức tạp, khó lường, chưa cho thấy các biện pháp kiểm soát hữu hiệu.

Về khuôn khổ pháp lý, quy định hiện hành đang xác định việc cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ là trách nhiệm của người bán trên sàn giao dịch TMĐT. Trong khi đó, với hàng chục ngàn đến hàng trăm ngàn người bán thông qua các sàn giao dịch TMĐT, các đơn vị vận hành sàn đang chỉ thực thi trách nhiệm trong việc tự ban hành quy chế đăng tải thông tin. Điều này dẫn đến các sàn giao dịch TMĐT có yêu cầu khác nhau trong thể hiện thông tin về nguồn gốc xuất xứ hay quy cách chất lượng, thông tin người bán, từ đó, tạo kẽ hở để một số đối tượng lợi dụng thực hiện hành vi vi phạm pháp luật.

1.2. Thiếu cơ chế để quản lý hoạt động thương mại điện tử

Hiện nay, vai trò của cơ quan quản lý nhà nước trong hoạt động TMĐT còn chưa rõ nét. Cụ thể, khi liên hệ với chủ thể cung cấp hàng hóa, dịch vụ để giải quyết tranh chấp, khiếu nại sẽ gặp nhiều khó khăn, thậm chí là không thực hiện được mà chủ yếu phụ thuộc vào chính sách, thiện chí của từng chủ thể. Ngoài ra, việc cơ quan quản lý nhà nước xử lý những hành vi vi phạm pháp luật có nhiều bất cập, khó khả thi do khoảng cách địa lý, độ trễ thời gian, quyền tài phán và thậm chí là phụ thuộc hoàn toàn vào thiện chí của các chủ sở hữu.

Từ thực tiễn nêu trên, đặt ra yêu cầu hoàn thiện pháp luật về thương mại điện tử nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển, đặc biệt trong bối cảnh TMĐT là hoạt động thương mại hiện đại có tăng trưởng nhanh và mạnh mẽ, chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong cơ cấu thương mại, qua đó góp phần hướng đến phát triển kinh tế số và chuyển đổi số quốc gia.

2. Một số kiến nghị

Để khắc phục những vướng mắc, bất cập phát sinh từ thực tiễn thi hành Nghị định số 52/2013/NĐ-CP, hướng đến bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng cho hoạt động TMĐT; đảm bảo quyền lợi người tiêu dùng trong TMĐT; không để TMĐT bị lợi dụng trở thành phương thức thực hiện các hành vi mua bán, lưu thông hàng hóa vi phạm pháp luật, tác giả đưa ra một số kiến nghị cụ thể như sau:

Thứ nhất, sửa đổi các quy định trong Nghị định số 52/2013/NĐ-CP để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và phù hợp với quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Theo đó, sửa đổi nguyên tắc xác định nghĩa vụ về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong hoạt động TMĐT và nguyên tắc kinh doanh các hàng hóa, dịch vụ hạn chế kinh doanh, kinh doanh có điều kiện thông qua TMĐT. Cụ thể, tại điểm c khoản 3 và khoản 4 Điều 26 Nghị định số 52/2013/NĐ-CP bổ sung trường hợp thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ thương mại điện tử thực hiện dịch vụ cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ của người bán tới người tiêu dùng trên website thương mại điện tử thì thương nhân, tổ chức đó là bên thứ ba trong việc cung cấp thông tin theo pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Việc bổ sung quy định này cũng phù hợp với quy định tại khoản 12 Điều 3 Nghị định số 98/2020/NĐ-CP ngày 26/8/2020 của Chính phủ trong việc xác định cụ thể bên thứ ba trong việc cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ tới người tiêu dùng.

Bên cạnh đó, sửa đổi quy định thông tin về điều kiện giao dịch chung theo hướng bổ sung nội dung chính sách kiểm hàng tại điểm b khoản 1 Điều 32 Nghị định số 52/2013/NĐ-CP. Theo đó, thương nhân, tổ chức, cá nhân phải công bố điều kiện về chính sách kiểm hàng trên website, bảo đảm tính minh bạch và tăng cường bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Quy định này nhằm khắc phục tình trạng hiện nay nhiều website không công bố rõ ràng chính sách có cho phép hay không việc đồng kiểm hàng của khách hàng ghi nhận hàng, người tiêu dùng không nắm được thông tin dẫn dến việc phát sinh khiếu nại, tranh chấp. Việc bổ sung nội dung chính sách kiểm hàng để đảm bảo, thương nhân, tổ chức, cá nhân thiết lập website phải công bố rõ các điều kiện về chính sách kiểm hàng trên website, bảo đảm tính minh bạch và tăng cường bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

Ngoài ra, cần sửa đổi, bổ sung quy định về thông tin hàng hóa, dịch vụ theo hướng quản lý chặt hơn đối với thông tin hàng hóa công khai trên website. Các thông tin này phải theo quy định của pháp luật về nhãn hàng hóa, loại trừ các thông tin mang tính chất riêng biệt theo sản phẩm như ngày, tháng, năm sản xuất, hạn sử dụng, số lô sản xuất. Việc loại trừ một số thông tin đặc định đối với hàng hóa như ngày sản xuất, hạn sử dụng, số lô sản xuất… là cần thiết do mỗi sàn thương mại điện tử có trưng bày, giới thiệu, bán hàng triệu mặt hàng khác nhau. Trong đó, mỗi mặt hàng lại có thông tin đặc tính như ngày sản xuất, hạn sử dụng, số lô sản xuất khác nhau mặc dù cùng đáp ứng đủ quy chuẩn, tiêu chuẩn của nhà sản xuất. Việc không loại trừ các thông tin này sẽ dẫn đến các sàn TMĐT phải kiểm soát bổ sung một lượng thông tin vô cùng lớn, thậm chí là bất khả thi. Mặt khác, để các cơ quan phòng, chống gian lận thương mại, người tiêu dùng có thể dễ dàng kiểm tra, kiểm soát thông tin, uy tín, tính chấp hành pháp luật của người bán đối với các mặt hàng kinh doanh có điều kiện, cần nghiên cứu bổ sung quy định về nghĩa vụ của chủ website TMĐT phải công bố các văn bản chứng nhận, giấy phép do cơ quan có thẩm quyền cấp trong Nghị định số 52/2013/NĐ-CP.

Thứ hai, nâng cao vai trò quản lý nhà nước của cơ quan có thẩm quyền về TMĐT. Hoạt động TMĐT có liên quan đến nhiều bộ, ngành. Do đó, cần xác định rõ trách nhiệm của các bộ, ngành có liên quan trong việc quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực có liên quan đến TMĐT. Tác giả cho rằng, bên cạnh vai trò chủ trì quản lý hoạt động thương mại điện tử của Bộ Công Thương, cần bổ sung trách nhiệm của Bộ Thông tin và Truyền thông trong việc quản lý internet đối với các website có hoạt động TMĐT tại Việt Nam. Hay vai trò của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong việc cung cấp thông tin về số lượt giao dịch của các website TMĐT hoặc Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong việc cung cấp thông tin, chia sẻ dữ liệu về các doanh nghiệp có đăng ký ngành nghề kinh doanh thương mại điện tử... Mặt khác, trong xu thế toàn cầu hiện nay, việc hội nhập quốc tế để thúc đẩy thương mại điện tử là cần thiết, trong đó, với vai trò quản lý, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần kịp thời rà soát, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để một mặt tạo điều kiện cho TMĐT phát triển, mặt khác bảo đảm cạnh tranh lành mạnh, bảo vệ an ninh mạng, an ninh quốc gia.

Bên cạnh đó, để cơ quan quản lý nhà nước nắm được thông tin chính xác, đầy đủ của các bên, phục vụ cho việc quản lý nhà nước và giải quyết tranh chấp, khiếu nại nếu phát sinh thì việc sửa đổi quy định về thủ tục hành chính thông báo với Bộ Công Thương theo hướng khoanh vùng, ấn định chỉ có website có chức năng đặt hàng trực tuyến mới phải thực hiện thủ tục thông báo. Việc sửa đổi quy định này sẽ góp phần giúp Bộ Công Thương quản lý thực chất hơn các website TMĐT. Bởi vì, hiện nay, theo quy định của Nghị định số 52/2013/NĐ-CP, thì tất cả các website TMĐT đều phải làm thủ tục thông báo với Bộ Công Thương.

Thịnh Anh

[1] Theo báo cáo "Nền kinh tế internet Đông Nam Á" năm 2019 của Google và Temasek, tốc độ tăng trưởng doanh thu kinh tế internet của Việt Nam đạt khoảng 25%/năm, ước đạt 43 tỷ USD vào năm 2025 (số liệu này không bao gồm doanh thu từ dịch vụ Onlsine Media là 36 tỷ USD).

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Để bảo đảm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng được triển khai kịp thời, thống nhất và hiệu quả trên phạm vi cả nước, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu đã ký Quyết định số 925/QĐ-TTg ngày 25/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.
Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 1111/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch tổ chức "Ngày Văn hóa Việt Nam" giai đoạn 2026 - 2030 (Kế hoạch), đánh dấu bước triển khai quan trọng Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 130/2025/QH15 (Luật năm 2025) được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10 (ngày 10/12/2025), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 gồm 11 Chương và 107 Điều quy định về hoạt động hàng không dân dụng, bao gồm các quy định về tàu bay, cảng hàng không, nhân viên hàng không, hoạt động bay, vận tải hàng không thương mại, hàng không chuyên dùng, hàng không chung, an toàn hàng không, an ninh hàng không, trách nhiệm dân sự và các hoạt động khác có liên quan đến hàng không dân dụng.
Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Quy định mới tại Nghị quyết số 254/2025/QH15 và Nghị định số 49/2026/NĐ-CP với cơ chế đồng thuận trên 75% được kỳ vọng khơi thông hàng nghìn dự án, sẽ tháo gỡ một trong những vướng mắc lớn nhất trong quá trình triển khai các dự án có sử dụng đất.
Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Ngày 10/12/2025, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 chính thức thông qua Luật số 132/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026).
Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 thay thế Pháp lệnh Dân số số 06/2004/PL-UBTVQH11 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Pháp lệnh số 07/2025/UBTVQH15). Một trong những thay đổi căn bản của Luật Dân số năm 2025 là chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển. Những nội dung liên quan đến dân số và phát triển đã được thể hiện trong việc hướng tới giải quyết đồng bộ các vấn đề về quy mô dân số, cơ cấu dân số, thích ứng với già hóa dân số, nâng cao chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của từng địa phương, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.
Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.

Theo dõi chúng tôi trên: