Thứ bảy 23/05/2026 23:22
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật về tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm

Trên cơ sở phân tích thực trạng hệ thống pháp luật tố tụng hình sự, tác giả đề xuất phương hướng hoàn thiện pháp luật về tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm.

1. Khái quát pháp luật về tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm

Nguồn tin về tội phạm là căn cứ để cơ quan có thẩm quyền tiến hành các hoạt động tiếp nhận, kiểm tra, xác minh thực tế có hay không dấu hiệu của tội phạm, từ đó kịp thời ra quyết định khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Điểm d khoản 1 Điều 4 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021 (Bộ luật Tố tụng hình sự) quy định: “Nguồn tin về tội phạm gồm tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố của cơ quan, tổ chức, cá nhân, lời khai của người phạm tội tự thú và thông tin về tội phạm do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện”. Theo đó, ngoài tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, nguồn tin về tội phạm còn bao gồm lời khai của người phạm tội tự thú và thông tin về tội phạm do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện. Để ra được quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự trên cơ sở nguồn tin về tội phạm, các cơ quan có thẩm quyền phải thực hiện hoạt động tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm theo đúng quy định của pháp luật tố tụng hình sự về trình tự, thủ tục tiến hành.

Hiện nay, Bộ luật Tố tụng hình sự đã có 01 chương riêng quy định về giai đoạn khởi tố vụ án hình sự, trong đó tại Điều 143 về căn cứ khởi tố vụ án hình sự quy định: “Chỉ được khởi tố vụ án khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm”. Đồng thời, Điều 143 đã quy định việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa vào một trong sáu căn cứ: “1. Tố giác của cá nhân; 2. Tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân; 3. Tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng; 4. Kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước; 5. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm; 6. Người phạm tội tự thú”. Về bản chất, các căn cứ được quy định tại Điều 143 chính là nguồn tin về tội phạm.

Chương IX Bộ luật Tố tụng hình sự cũng đưa ra những quy định về tiếp nhận, giải quyết đối với các loại nguồn tin về tội phạm, cụ thể: Quy định về trình tự, thủ tục, thời hạn tiếp nhận, giải quyết đối với tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố từ Điều 144 đến Điều 151; quy định về tiếp nhận, giải quyết đối với trường hợp người phạm tội tự thú tại Điều 152; quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong việc giải quyết nguồn tin về tội phạm, trong việc tiếp nhận và kiểm sát việc giải quyết nguồn tin về tội phạm. Đối với việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã ban hành Thông tư liên tịch số 01/2017/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC ngày 29/12/2017 quy định việc phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố (Thông tư liên tịch số 01/2017/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC), Thông tư liên tịch số 01/2021/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC ngày 29/11/2021 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư liên tịch số 01/2017/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC. Bên cạnh đó, Bộ trưởng Bộ Công an đã ban hành Thông tư số 28/2020/TT-BCA ngày 26/3/2020 quy định trình tự, thủ tục tiếp nhận, phân loại, xử lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố của lực lượng Công an nhân dân (Thông tư số 28/2020/TT-BCA), Thông tư số 129/2021/TT-BCA ngày 31/12/2021 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 28/2020/TT-BCA.

Nội dung các văn bản quy phạm pháp luật nói trên đã quy định về chủ thể tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; trình tự, thủ tục và các hoạt động mà các cơ quan có thẩm quyền giải quyết được thực hiện trong kiểm tra, xác minh đối với tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; hình thức xử lý đối với tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; giải quyết tranh chấp về thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; thủ tục tiếp nhận, xử lý đối với trường hợp người phạm tội tự thú… Các quy định của pháp luật về vấn đề này chính là căn cứ pháp lý để các cơ quan có thẩm quyền áp dụng trong thực tiễn tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm.

2. Hạn chế, bất cập về tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm

Mặc dù, hệ thống pháp luật tố tụng hình sự đã có chế định quy định cụ thể về nguồn tin về tội phạm; quy định về việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, song vẫn còn tồn tại một số hạn chế, bất cập nhất định. Cụ thể:

Thứ nhất, Bộ luật Tố tụng hình sự và các văn bản hướng dẫn thi hành chưa có quy định về trình tự, thủ tục giải quyết nguồn tin về tội phạm là thông tin về tội phạm do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện, do người phạm tội tự thú.

Hiện nay, Bộ luật Tố tụng hình sự và các văn bản hướng dẫn thi hành mới chỉ tập trung quy định về hoạt động tiếp nhận, giải quyết đối với tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố. Đối với nguồn tin về tội phạm là lời khai người phạm tội tự thú cũng mới chỉ quy định về thủ tục tiếp nhận nguồn tin khi người phạm tội đến tự thú tại Điều 152 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đối với nguồn tin về tội phạm là thông tin về tội phạm do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện hoặc do người phạm tội tự thú chưa có quy định về trình tự, thủ tục tiến hành. Điều này dẫn đến việc các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng gặp lúng túng trong việc xác định trình tự, thủ tục, thời hạn giải quyết, nhất là khi có nhiều thông tin về tội phạm do các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện bằng các biện pháp nghiệp vụ, mang tính bí mật.

Thứ hai, khái niệm về tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố chưa cụ thể.

Các khoản 1, 2, 3, 4 Điều 144 Bộ luật Tố tụng hình sự đã giải thích về tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Tuy nhiên, “dấu hiệu tội phạm” được đề cập trong khái niệm về tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố còn chưa được giải thích cụ thể, chưa có tiêu chí, căn cứ để xác định là trường hợp nào là tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; trường hợp nào là vi phạm pháp luật hành chính, dân sự. Điều này dẫn đến việc các cơ quan có thẩm quyền gặp lúng túng trong quyết định có thực hiện việc tiếp nhận, giải quyết đối với tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự hay là giải quyết theo quy định của pháp luật hành chính hoặc chuyển cơ quan có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự sau khi thực hiện việc phân loại đối với tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố…

Thứ ba, thời hạn giải quyết đối với tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố còn chưa phù hợp với trường hợp phức tạp.

Theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng hình sự, thời hạn giải quyết đối với tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố là 20 ngày; trường hợp có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm thì thời hạn giải quyết tố giác, tin báo, kiến nghị khởi tố có thể kéo dài nhưng không quá 02 tháng, có thể gia hạn một lần nhưng không quá 02 tháng. Quy định này chưa phù hợp với yêu cầu thực tiễn hoạt động giải quyết nguồn tin về tội phạm. Thực tiễn cho thấy, đối với các vụ việc phức tạp, có nhiều đối tượng, các đối tượng và những người tham gia tố tụng có liên quan cư trú ở nhiều địa phương khác nhau nên cần có nhiều thời gian để triển khai việc thu thập tài liệu, chứng cứ, xác minh, giải quyết triệt để. Tuy nhiên, với thời hạn được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự đã gây ra những khó khăn đối với các cơ quan có thẩm quyền giải quyết đối với tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố trong việc đưa ra kết luận xử lý khi chưa có đủ thời gian để thực hiện các biện pháp xác minh.

Thứ tư, phạm vi áp dụng các biện pháp tố tụng hình sự trong quá trình kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm còn hạn chế.

Khoản 3 Điều 147 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định các biện pháp điều tra, xác minh mà cơ quan có thẩm quyền giải quyết nguồn tin về tội phạm là tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố có thể áp dụng, bao gồm: “a) Thu thập thông tin, tài liệu, đồ vật từ cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để kiểm tra, xác minh nguồn tin; b) Khám nghiệm hiện trường; c) Khám nghiệm tử thi; d) Trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản”. Theo đó, phạm vi các biện pháp điều tra mà cơ quan có thẩm quyền áp dụng để kiểm tra, xác minh làm rõ nguồn tin về tội phạm còn hẹp. Thực tiễn cho thấy, để kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm, các cơ quan có thẩm quyền phải triển khai đồng bộ các hoạt động điều tra khác như khám xét, thực nghiệm điều tra, đối chất, nhận dạng… Tuy nhiên, việc Bộ luật Tố tụng hình sự không có quy định đối với các hoạt động điều tra này trong quá trình kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm đã ảnh hưởng đến giá trị pháp lý của kết quả điều tra thu thập.

Bên cạnh đó, việc quy định về trường hợp dẫn giải đối với người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố đã được triệu tập mà vẫn vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan tại điểm c khoản 2 Điều 127 Bộ luật Tố tụng hình sự đã làm ảnh hưởng đến tiến độ, hiệu quả triển khai các hoạt động điều tra đối với những người này. Bởi lẽ, theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, cơ quan có thẩm quyền chỉ dẫn giải đối với họ khi có đủ căn cứ xác định họ liên quan đến hành vi phạm tội được khởi tố vụ án. Với quy định này, cơ quan có thẩm quyền phải xác định chắc chắn vụ việc được khởi tố vụ án hình sự mới ra quyết định dẫn giải đối với người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố.

Thứ năm, căn cứ tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố chưa đầy đủ, chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn.

Khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định 03 trường hợp tạm đình chỉ việc giải quyết đối với tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố gồm: “a) Đã trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản, yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp nhưng chưa có kết quả; b) Đã yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật quan trọng có ý nghĩa quyết định đối với việc khởi tố hoặc không khởi tố vụ án nhưng chưa có kết quả; c) Không thể kết thúc việc kiểm tra, xác minh để quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án vì lý do bất khả kháng do thiên tai, dịch bệnh”. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, đối với các trường hợp khi hết thời hạn giải quyết, cơ quan có thẩm quyền đã triệu tập nhưng người tố giác, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố và những người tham gia tố tụng khác vắng mặt tại địa phương, không rõ nơi cư trú hoặc rõ nơi cư trú nhưng có lý do chính đáng, cơ quan có thẩm quyền đã buộc phải tạm đình chỉ việc giải quyết. Đối chiếu với quy định của pháp luật hiện hành, việc tạm đình chỉ việc giải quyết nguồn tin về tội phạm trong các trường hợp này là chưa đúng quy định.

3. Một số đề xuất, kiến nghị

Một số hạn chế, bất cập trong quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và các văn bản hướng dẫn thi hành đã có ảnh hưởng nhất định đến chất lượng, hiệu quả tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm của các cơ quan có thẩm quyền. Vì vậy, để góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm của các cơ quan có thẩm quyền trong thời gian tới, hệ thống pháp luật tố tụng hình sự cần hoàn thiện theo hướng:

Một là, sửa đổi, bổ sung quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục trong tiếp nhận, giải quyết đối với trường hợp người phạm tội tự thú; trình tự, thủ tục trong giải quyết đối với thông tin về tội phạm do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện: Đối với nguồn tin tội phạm là lời khai người phạm tội tự thú, Bộ luật Tố tụng hình sự và các văn bản hướng dẫn thi hành cần bổ sung các quy định về thủ tục phân công phó thủ trưởng, điều tra viên, cán bộ điều tra giải quyết nguồn tin về tội phạm cũng như thủ tục phân công phó viện trưởng, kiểm sát viên kiểm tra, giám sát việc giải quyết nguồn tin về tội phạm; phạm vi các biện pháp điều tra cần thực hiện để giải quyết nguồn tin về tội phạm như lấy lời khai, khám xét, thực nghiệm điều tra…

Đối với nguồn tin là thông tin về tội phạm do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện cần bổ sung quy định về trình tự, thủ tục, các biện pháp tiến hành kiểm tra, xác minh trong Bộ luật Tố tụng hình sự tương tự như đối với tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Theo đó, Bộ luật Tố tụng hình sự cần bổ sung cụm từ “thông tin về tội phạm do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện” sau các quy định về trình tự, thủ tục giải quyết đối với tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Bởi lẽ, thông tin về tội phạm mà cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện được cũng chưa thể xác định được ngay căn cứ khởi tố vụ án hình sự, nên cần phải có quá trình tiến hành kiểm tra, xác minh; đồng thời, việc kiểm tra, xác minh đối với nguồn tin này cần tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng hình sự .

Hai là, sửa đổi, bổ sung văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật Tố tụng hình sự về tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm: Để việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm bảo đảm hiệu quả, tránh tình trạng tràn lan, gây lãng phí thời gian, công sức của cơ quan có thẩm quyền giải quyết, trong thời gian tới, cần thiết ban hành văn bản hướng dẫn xác định rõ “dấu hiệu tội phạm” ban đầu được phản ánh trong nguồn tin về tội phạm. Nội dung văn bản hướng dẫn cần đưa ra được các tiêu chí cụ thể để cơ quan có thẩm quyền giải quyết nguồn tin về tội phạm xác định được nguồn tin đó có dấu hiệu tội phạm hay nguồn tin có dấu hiệu của vi phạm hành chính, vụ việc dân sự…, từ đó đi đến quyết định giải quyết theo trình tự, thủ tục tố tụng hình sự hay chuyển cơ quan có thẩm quyền giải quyết đối với vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật hành chính, vụ việc dân sự…

Ba là, sửa đổi, bổ sung đối với quy định về gia hạn thời gian giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố có tính chất phức tạp: Để tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan có thẩm quyền triển khai các biện pháp kiểm tra, xác minh một cách triệt để đối với các tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố có tính chất phức tạp cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung theo hướng tăng thời gian giải quyết. Theo đó, với trường hợp vụ việc phức tạp, có nhiều đối tượng, các đối tượng và những người tham gia tố tụng có liên quan cư trú ở nhiều địa phương khác nhau, đã gia hạn thời hạn giải quyết nhưng vẫn chưa thực hiện xong các yêu cầu xác minh, cần kéo dài thời gian giải quyết, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp xem xét, quyết định.

Bốn là, mở rộng phạm vi áp dụng các biện pháp kiểm tra, xác minh đối với nguồn tin về tội phạm: Trong thời gian tới, cần nghiên cứu sửa đổi khoản 3 Điều 147 Bộ luật Tố tụng hình sự theo hướng mở rộng phạm vi áp dụng các biện pháp kiểm tra xác minh đối với các nguồn tin về tội phạm, không chỉ dừng lại đối với tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Đồng thời, bổ sung các biện pháp kiểm tra, xác minh mà cơ quan có thẩm quyền có thể áp dụng trong quá trình này như khám xét, thực nghiệm điều tra, đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói.

Ngoài ra, nghiên cứu sửa đổi điểm c khoản 2 Điều 127 Bộ luật Tố tụng hình sự theo hướng bỏ cụm từ “mà qua kiểm tra, xác minh có đủ căn cứ xác định người đó liên quan đến hành vi phạm tội được khởi tố vụ án” nhằm đáp ứng yêu cầu triệu tập, khai thác đối với người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố.

Năm là, bổ sung căn cứ tạm đình chỉ điều tra trong trường hợp người tố giác, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố và những người tham gia tố tụng khác vắng mặt, chưa thể triệu tập, lấy lời khai: Theo đó, khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng hình sự cần nghiên cứu bổ sung trường hợp tạm đình chỉ vì lý do khách quan chưa thể triệu tập, lấy lời khai đối với người tố giác, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố và những người tham gia tố tụng khác có ý nghĩa quyết định đối với việc khởi tố hoặc không khởi tố vụ án.

ThS. Hoàng Minh Trung

Cục An ninh điều tra, Bộ Công an

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 388), tháng 9/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: