Thứ sáu 23/10/2026 23:12
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật về tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm

Trên cơ sở phân tích thực trạng hệ thống pháp luật tố tụng hình sự, tác giả đề xuất phương hướng hoàn thiện pháp luật về tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm.

1. Khái quát pháp luật về tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm

Nguồn tin về tội phạm là căn cứ để cơ quan có thẩm quyền tiến hành các hoạt động tiếp nhận, kiểm tra, xác minh thực tế có hay không dấu hiệu của tội phạm, từ đó kịp thời ra quyết định khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Điểm d khoản 1 Điều 4 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021 (Bộ luật Tố tụng hình sự) quy định: “Nguồn tin về tội phạm gồm tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố của cơ quan, tổ chức, cá nhân, lời khai của người phạm tội tự thú và thông tin về tội phạm do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện”. Theo đó, ngoài tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, nguồn tin về tội phạm còn bao gồm lời khai của người phạm tội tự thú và thông tin về tội phạm do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện. Để ra được quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự trên cơ sở nguồn tin về tội phạm, các cơ quan có thẩm quyền phải thực hiện hoạt động tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm theo đúng quy định của pháp luật tố tụng hình sự về trình tự, thủ tục tiến hành.

Hiện nay, Bộ luật Tố tụng hình sự đã có 01 chương riêng quy định về giai đoạn khởi tố vụ án hình sự, trong đó tại Điều 143 về căn cứ khởi tố vụ án hình sự quy định: “Chỉ được khởi tố vụ án khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm”. Đồng thời, Điều 143 đã quy định việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa vào một trong sáu căn cứ: “1. Tố giác của cá nhân; 2. Tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân; 3. Tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng; 4. Kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước; 5. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm; 6. Người phạm tội tự thú”. Về bản chất, các căn cứ được quy định tại Điều 143 chính là nguồn tin về tội phạm.

Chương IX Bộ luật Tố tụng hình sự cũng đưa ra những quy định về tiếp nhận, giải quyết đối với các loại nguồn tin về tội phạm, cụ thể: Quy định về trình tự, thủ tục, thời hạn tiếp nhận, giải quyết đối với tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố từ Điều 144 đến Điều 151; quy định về tiếp nhận, giải quyết đối với trường hợp người phạm tội tự thú tại Điều 152; quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong việc giải quyết nguồn tin về tội phạm, trong việc tiếp nhận và kiểm sát việc giải quyết nguồn tin về tội phạm. Đối với việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã ban hành Thông tư liên tịch số 01/2017/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC ngày 29/12/2017 quy định việc phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố (Thông tư liên tịch số 01/2017/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC), Thông tư liên tịch số 01/2021/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC ngày 29/11/2021 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư liên tịch số 01/2017/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC. Bên cạnh đó, Bộ trưởng Bộ Công an đã ban hành Thông tư số 28/2020/TT-BCA ngày 26/3/2020 quy định trình tự, thủ tục tiếp nhận, phân loại, xử lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố của lực lượng Công an nhân dân (Thông tư số 28/2020/TT-BCA), Thông tư số 129/2021/TT-BCA ngày 31/12/2021 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 28/2020/TT-BCA.

Nội dung các văn bản quy phạm pháp luật nói trên đã quy định về chủ thể tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; trình tự, thủ tục và các hoạt động mà các cơ quan có thẩm quyền giải quyết được thực hiện trong kiểm tra, xác minh đối với tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; hình thức xử lý đối với tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; giải quyết tranh chấp về thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; thủ tục tiếp nhận, xử lý đối với trường hợp người phạm tội tự thú… Các quy định của pháp luật về vấn đề này chính là căn cứ pháp lý để các cơ quan có thẩm quyền áp dụng trong thực tiễn tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm.

2. Hạn chế, bất cập về tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm

Mặc dù, hệ thống pháp luật tố tụng hình sự đã có chế định quy định cụ thể về nguồn tin về tội phạm; quy định về việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, song vẫn còn tồn tại một số hạn chế, bất cập nhất định. Cụ thể:

Thứ nhất, Bộ luật Tố tụng hình sự và các văn bản hướng dẫn thi hành chưa có quy định về trình tự, thủ tục giải quyết nguồn tin về tội phạm là thông tin về tội phạm do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện, do người phạm tội tự thú.

Hiện nay, Bộ luật Tố tụng hình sự và các văn bản hướng dẫn thi hành mới chỉ tập trung quy định về hoạt động tiếp nhận, giải quyết đối với tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố. Đối với nguồn tin về tội phạm là lời khai người phạm tội tự thú cũng mới chỉ quy định về thủ tục tiếp nhận nguồn tin khi người phạm tội đến tự thú tại Điều 152 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đối với nguồn tin về tội phạm là thông tin về tội phạm do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện hoặc do người phạm tội tự thú chưa có quy định về trình tự, thủ tục tiến hành. Điều này dẫn đến việc các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng gặp lúng túng trong việc xác định trình tự, thủ tục, thời hạn giải quyết, nhất là khi có nhiều thông tin về tội phạm do các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện bằng các biện pháp nghiệp vụ, mang tính bí mật.

Thứ hai, khái niệm về tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố chưa cụ thể.

Các khoản 1, 2, 3, 4 Điều 144 Bộ luật Tố tụng hình sự đã giải thích về tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Tuy nhiên, “dấu hiệu tội phạm” được đề cập trong khái niệm về tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố còn chưa được giải thích cụ thể, chưa có tiêu chí, căn cứ để xác định là trường hợp nào là tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; trường hợp nào là vi phạm pháp luật hành chính, dân sự. Điều này dẫn đến việc các cơ quan có thẩm quyền gặp lúng túng trong quyết định có thực hiện việc tiếp nhận, giải quyết đối với tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự hay là giải quyết theo quy định của pháp luật hành chính hoặc chuyển cơ quan có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự sau khi thực hiện việc phân loại đối với tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố…

Thứ ba, thời hạn giải quyết đối với tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố còn chưa phù hợp với trường hợp phức tạp.

Theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng hình sự, thời hạn giải quyết đối với tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố là 20 ngày; trường hợp có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm thì thời hạn giải quyết tố giác, tin báo, kiến nghị khởi tố có thể kéo dài nhưng không quá 02 tháng, có thể gia hạn một lần nhưng không quá 02 tháng. Quy định này chưa phù hợp với yêu cầu thực tiễn hoạt động giải quyết nguồn tin về tội phạm. Thực tiễn cho thấy, đối với các vụ việc phức tạp, có nhiều đối tượng, các đối tượng và những người tham gia tố tụng có liên quan cư trú ở nhiều địa phương khác nhau nên cần có nhiều thời gian để triển khai việc thu thập tài liệu, chứng cứ, xác minh, giải quyết triệt để. Tuy nhiên, với thời hạn được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự đã gây ra những khó khăn đối với các cơ quan có thẩm quyền giải quyết đối với tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố trong việc đưa ra kết luận xử lý khi chưa có đủ thời gian để thực hiện các biện pháp xác minh.

Thứ tư, phạm vi áp dụng các biện pháp tố tụng hình sự trong quá trình kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm còn hạn chế.

Khoản 3 Điều 147 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định các biện pháp điều tra, xác minh mà cơ quan có thẩm quyền giải quyết nguồn tin về tội phạm là tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố có thể áp dụng, bao gồm: “a) Thu thập thông tin, tài liệu, đồ vật từ cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để kiểm tra, xác minh nguồn tin; b) Khám nghiệm hiện trường; c) Khám nghiệm tử thi; d) Trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản”. Theo đó, phạm vi các biện pháp điều tra mà cơ quan có thẩm quyền áp dụng để kiểm tra, xác minh làm rõ nguồn tin về tội phạm còn hẹp. Thực tiễn cho thấy, để kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm, các cơ quan có thẩm quyền phải triển khai đồng bộ các hoạt động điều tra khác như khám xét, thực nghiệm điều tra, đối chất, nhận dạng… Tuy nhiên, việc Bộ luật Tố tụng hình sự không có quy định đối với các hoạt động điều tra này trong quá trình kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm đã ảnh hưởng đến giá trị pháp lý của kết quả điều tra thu thập.

Bên cạnh đó, việc quy định về trường hợp dẫn giải đối với người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố đã được triệu tập mà vẫn vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan tại điểm c khoản 2 Điều 127 Bộ luật Tố tụng hình sự đã làm ảnh hưởng đến tiến độ, hiệu quả triển khai các hoạt động điều tra đối với những người này. Bởi lẽ, theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, cơ quan có thẩm quyền chỉ dẫn giải đối với họ khi có đủ căn cứ xác định họ liên quan đến hành vi phạm tội được khởi tố vụ án. Với quy định này, cơ quan có thẩm quyền phải xác định chắc chắn vụ việc được khởi tố vụ án hình sự mới ra quyết định dẫn giải đối với người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố.

Thứ năm, căn cứ tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố chưa đầy đủ, chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn.

Khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định 03 trường hợp tạm đình chỉ việc giải quyết đối với tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố gồm: “a) Đã trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản, yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp nhưng chưa có kết quả; b) Đã yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật quan trọng có ý nghĩa quyết định đối với việc khởi tố hoặc không khởi tố vụ án nhưng chưa có kết quả; c) Không thể kết thúc việc kiểm tra, xác minh để quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án vì lý do bất khả kháng do thiên tai, dịch bệnh”. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, đối với các trường hợp khi hết thời hạn giải quyết, cơ quan có thẩm quyền đã triệu tập nhưng người tố giác, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố và những người tham gia tố tụng khác vắng mặt tại địa phương, không rõ nơi cư trú hoặc rõ nơi cư trú nhưng có lý do chính đáng, cơ quan có thẩm quyền đã buộc phải tạm đình chỉ việc giải quyết. Đối chiếu với quy định của pháp luật hiện hành, việc tạm đình chỉ việc giải quyết nguồn tin về tội phạm trong các trường hợp này là chưa đúng quy định.

3. Một số đề xuất, kiến nghị

Một số hạn chế, bất cập trong quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và các văn bản hướng dẫn thi hành đã có ảnh hưởng nhất định đến chất lượng, hiệu quả tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm của các cơ quan có thẩm quyền. Vì vậy, để góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm của các cơ quan có thẩm quyền trong thời gian tới, hệ thống pháp luật tố tụng hình sự cần hoàn thiện theo hướng:

Một là, sửa đổi, bổ sung quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục trong tiếp nhận, giải quyết đối với trường hợp người phạm tội tự thú; trình tự, thủ tục trong giải quyết đối với thông tin về tội phạm do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện: Đối với nguồn tin tội phạm là lời khai người phạm tội tự thú, Bộ luật Tố tụng hình sự và các văn bản hướng dẫn thi hành cần bổ sung các quy định về thủ tục phân công phó thủ trưởng, điều tra viên, cán bộ điều tra giải quyết nguồn tin về tội phạm cũng như thủ tục phân công phó viện trưởng, kiểm sát viên kiểm tra, giám sát việc giải quyết nguồn tin về tội phạm; phạm vi các biện pháp điều tra cần thực hiện để giải quyết nguồn tin về tội phạm như lấy lời khai, khám xét, thực nghiệm điều tra…

Đối với nguồn tin là thông tin về tội phạm do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện cần bổ sung quy định về trình tự, thủ tục, các biện pháp tiến hành kiểm tra, xác minh trong Bộ luật Tố tụng hình sự tương tự như đối với tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Theo đó, Bộ luật Tố tụng hình sự cần bổ sung cụm từ “thông tin về tội phạm do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện” sau các quy định về trình tự, thủ tục giải quyết đối với tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Bởi lẽ, thông tin về tội phạm mà cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện được cũng chưa thể xác định được ngay căn cứ khởi tố vụ án hình sự, nên cần phải có quá trình tiến hành kiểm tra, xác minh; đồng thời, việc kiểm tra, xác minh đối với nguồn tin này cần tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng hình sự .

Hai là, sửa đổi, bổ sung văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật Tố tụng hình sự về tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm: Để việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm bảo đảm hiệu quả, tránh tình trạng tràn lan, gây lãng phí thời gian, công sức của cơ quan có thẩm quyền giải quyết, trong thời gian tới, cần thiết ban hành văn bản hướng dẫn xác định rõ “dấu hiệu tội phạm” ban đầu được phản ánh trong nguồn tin về tội phạm. Nội dung văn bản hướng dẫn cần đưa ra được các tiêu chí cụ thể để cơ quan có thẩm quyền giải quyết nguồn tin về tội phạm xác định được nguồn tin đó có dấu hiệu tội phạm hay nguồn tin có dấu hiệu của vi phạm hành chính, vụ việc dân sự…, từ đó đi đến quyết định giải quyết theo trình tự, thủ tục tố tụng hình sự hay chuyển cơ quan có thẩm quyền giải quyết đối với vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật hành chính, vụ việc dân sự…

Ba là, sửa đổi, bổ sung đối với quy định về gia hạn thời gian giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố có tính chất phức tạp: Để tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan có thẩm quyền triển khai các biện pháp kiểm tra, xác minh một cách triệt để đối với các tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố có tính chất phức tạp cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung theo hướng tăng thời gian giải quyết. Theo đó, với trường hợp vụ việc phức tạp, có nhiều đối tượng, các đối tượng và những người tham gia tố tụng có liên quan cư trú ở nhiều địa phương khác nhau, đã gia hạn thời hạn giải quyết nhưng vẫn chưa thực hiện xong các yêu cầu xác minh, cần kéo dài thời gian giải quyết, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp xem xét, quyết định.

Bốn là, mở rộng phạm vi áp dụng các biện pháp kiểm tra, xác minh đối với nguồn tin về tội phạm: Trong thời gian tới, cần nghiên cứu sửa đổi khoản 3 Điều 147 Bộ luật Tố tụng hình sự theo hướng mở rộng phạm vi áp dụng các biện pháp kiểm tra xác minh đối với các nguồn tin về tội phạm, không chỉ dừng lại đối với tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Đồng thời, bổ sung các biện pháp kiểm tra, xác minh mà cơ quan có thẩm quyền có thể áp dụng trong quá trình này như khám xét, thực nghiệm điều tra, đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói.

Ngoài ra, nghiên cứu sửa đổi điểm c khoản 2 Điều 127 Bộ luật Tố tụng hình sự theo hướng bỏ cụm từ “mà qua kiểm tra, xác minh có đủ căn cứ xác định người đó liên quan đến hành vi phạm tội được khởi tố vụ án” nhằm đáp ứng yêu cầu triệu tập, khai thác đối với người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố.

Năm là, bổ sung căn cứ tạm đình chỉ điều tra trong trường hợp người tố giác, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố và những người tham gia tố tụng khác vắng mặt, chưa thể triệu tập, lấy lời khai: Theo đó, khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng hình sự cần nghiên cứu bổ sung trường hợp tạm đình chỉ vì lý do khách quan chưa thể triệu tập, lấy lời khai đối với người tố giác, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố và những người tham gia tố tụng khác có ý nghĩa quyết định đối với việc khởi tố hoặc không khởi tố vụ án.

ThS. Hoàng Minh Trung

Cục An ninh điều tra, Bộ Công an

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 388), tháng 9/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số và yêu cầu hiện đại hóa công tác quản lý đất đai, việc hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai cần được đặt trong mối quan hệ với hoạt động công chứng, cơ sở dữ liệu đất đai và cơ chế xác lập quyền đối với bất động sản (BĐS). Trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề lý luận, phân tích các mô hình đăng ký đất đai và tham khảo kinh nghiệm pháp luật của Pháp, Đức, Trung Quốc…, nghiên cứu làm rõ vai trò của hoạt động công chứng trong giao dịch về quyền sử dụng đất (QSDĐ), từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản lý đất đai.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo (AI) ngày càng đóng vai trò quan trọng, được ứng dụng rộng rãi trong quản trị công và hoạt động lập pháp tại nhiều quốc gia trên thế giới và Việt Nam. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở chính trị, pháp lý, nguyên tắc và phạm vi ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, AI có thể hỗ trợ hiệu quả nhiều công đoạn như xử lý dữ liệu, phân tích chính sách, rà soát văn bản, tổng hợp ý kiến và hỗ trợ kỹ thuật lập pháp. Tuy nhiên, AI chỉ nên được sử dụng như công cụ hỗ trợ dưới sự kiểm soát của con người, không thay thế thẩm quyền, trách nhiệm chính trị, pháp lý và trách nhiệm giải trình của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động lập pháp. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam.
Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Tóm tắt: Pháp quyền xã hội chủ nghĩa là khái niệm được sử dụng rộng rãi ở các quốc gia xã hội chủ nghĩa, nhưng có nội hàm và cách tiếp cận khác nhau, trong khi các nghiên cứu so sánh về vấn đề này còn tương đối hạn chế. Nghiên cứu so sánh quá trình hình thành và phát triển mô hình pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và Trung Quốc cho thấy, Việt Nam chủ yếu tiếp thu mô hình Xô Viết và chịu ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa, thể hiện xu hướng phổ quát pháp lý; ngược lại, Trung Quốc chủ động “Trung Quốc hóa” các học thuyết phương Tây theo hướng đặc thù pháp lý. Trên cở sở đó, nghiên cứu đề xuất Việt Nam có thể tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của Trung Quốc trong xây dựng và hoàn thiện nền pháp quyền xã hội chủ nghĩa phù hợp với thực tiễn đất nước.
Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 81/2025/QH15 (Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024) cho phép ghi âm trong suốt phiên tòa và ghi hình ở phần khai mạc và tuyên án. Các nghiên cứu trong nước về xét xử công khai, quyền tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin hầu như chưa đánh giá riêng quy định này theo học thuyết tương xứng và cân bằng quyền hiến định. Áp dụng ba điều kiện hạn chế quyền tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 (Hiến pháp năm 2013) cho thấy quy định này phù hợp nhưng chưa đáp ứng đầy đủ tính cần thiết và tính tương xứng, bởi tồn tại biện pháp ít hạn chế hơn mà vẫn bảo vệ tương đương nhóm chủ thể yếu thế. Từ học thuyết cân bằng quyền, nghiên cứu xây dựng tiêu chí ưu tiên giữa quyền tự do báo chí và quyền riêng tư; đồng thời, đề xuất sửa đổi khoản 3 Điều 141 và tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp** (Dự thảo Thông tư) để tương thích với khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025 và thiết lập cơ chế phối hợp giữa Tòa án và báo chí.
Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Tóm tắt: Quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh là hai phạm trù pháp lý quan trọng, phản ánh sự phát triển của xã hội. Trong bối cảnh truyền thông số phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong hoạt động báo chí ngày càng phổ biến, làm tăng nguy cơ xâm phạm đời sống riêng tư của trẻ em và phát sinh xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền được bảo vệ đời sống riêng tư của trẻ em. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và nhận diện các dạng xung đột pháp lý giữa hai quyền, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật trong giải quyết xung đột và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm hài hòa giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh.
Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, đồng thời, nâng cao chất lượng xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Nghiên cứu phân tích hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với chính sách và pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện, nghiên cứu làm rõ thực trạng chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

Một bài giảng hôm nay có thể được truyền từ một lớp học nhỏ tới hàng nghìn người học ở nhiều không gian khác nhau; một học sinh chỉ cần vài giây để nhận câu trả lời từ trí tuệ nhân tạo (AI) cho vấn đề từng đòi hỏi hàng giờ tra cứu. Công nghệ đang làm cho lớp học vượt khỏi bốn bức tường. Tuy nhiên, khi những giới hạn vật lý dần biến mất, những giới hạn pháp lý về quyền sáng tạo, dữ liệu, liêm chính học thuật và trách nhiệm của con người càng phải được xác lập rõ hơn. Bởi lớp học có thể không còn biên giới, nhưng quyền và trách nhiệm phải luôn được xác định rõ.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.

Theo dõi chúng tôi trên: