Chủ nhật 05/04/2026 04:56
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật về tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm

Trên cơ sở phân tích thực trạng hệ thống pháp luật tố tụng hình sự, tác giả đề xuất phương hướng hoàn thiện pháp luật về tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm.

1. Khái quát pháp luật về tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm

Nguồn tin về tội phạm là căn cứ để cơ quan có thẩm quyền tiến hành các hoạt động tiếp nhận, kiểm tra, xác minh thực tế có hay không dấu hiệu của tội phạm, từ đó kịp thời ra quyết định khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Điểm d khoản 1 Điều 4 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021 (Bộ luật Tố tụng hình sự) quy định: “Nguồn tin về tội phạm gồm tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố của cơ quan, tổ chức, cá nhân, lời khai của người phạm tội tự thú và thông tin về tội phạm do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện”. Theo đó, ngoài tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, nguồn tin về tội phạm còn bao gồm lời khai của người phạm tội tự thú và thông tin về tội phạm do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện. Để ra được quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự trên cơ sở nguồn tin về tội phạm, các cơ quan có thẩm quyền phải thực hiện hoạt động tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm theo đúng quy định của pháp luật tố tụng hình sự về trình tự, thủ tục tiến hành.

Hiện nay, Bộ luật Tố tụng hình sự đã có 01 chương riêng quy định về giai đoạn khởi tố vụ án hình sự, trong đó tại Điều 143 về căn cứ khởi tố vụ án hình sự quy định: “Chỉ được khởi tố vụ án khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm”. Đồng thời, Điều 143 đã quy định việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa vào một trong sáu căn cứ: “1. Tố giác của cá nhân; 2. Tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân; 3. Tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng; 4. Kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước; 5. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm; 6. Người phạm tội tự thú”. Về bản chất, các căn cứ được quy định tại Điều 143 chính là nguồn tin về tội phạm.

Chương IX Bộ luật Tố tụng hình sự cũng đưa ra những quy định về tiếp nhận, giải quyết đối với các loại nguồn tin về tội phạm, cụ thể: Quy định về trình tự, thủ tục, thời hạn tiếp nhận, giải quyết đối với tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố từ Điều 144 đến Điều 151; quy định về tiếp nhận, giải quyết đối với trường hợp người phạm tội tự thú tại Điều 152; quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong việc giải quyết nguồn tin về tội phạm, trong việc tiếp nhận và kiểm sát việc giải quyết nguồn tin về tội phạm. Đối với việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã ban hành Thông tư liên tịch số 01/2017/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC ngày 29/12/2017 quy định việc phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố (Thông tư liên tịch số 01/2017/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC), Thông tư liên tịch số 01/2021/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC ngày 29/11/2021 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư liên tịch số 01/2017/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC. Bên cạnh đó, Bộ trưởng Bộ Công an đã ban hành Thông tư số 28/2020/TT-BCA ngày 26/3/2020 quy định trình tự, thủ tục tiếp nhận, phân loại, xử lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố của lực lượng Công an nhân dân (Thông tư số 28/2020/TT-BCA), Thông tư số 129/2021/TT-BCA ngày 31/12/2021 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 28/2020/TT-BCA.

Nội dung các văn bản quy phạm pháp luật nói trên đã quy định về chủ thể tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; trình tự, thủ tục và các hoạt động mà các cơ quan có thẩm quyền giải quyết được thực hiện trong kiểm tra, xác minh đối với tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; hình thức xử lý đối với tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; giải quyết tranh chấp về thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; thủ tục tiếp nhận, xử lý đối với trường hợp người phạm tội tự thú… Các quy định của pháp luật về vấn đề này chính là căn cứ pháp lý để các cơ quan có thẩm quyền áp dụng trong thực tiễn tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm.

2. Hạn chế, bất cập về tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm

Mặc dù, hệ thống pháp luật tố tụng hình sự đã có chế định quy định cụ thể về nguồn tin về tội phạm; quy định về việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, song vẫn còn tồn tại một số hạn chế, bất cập nhất định. Cụ thể:

Thứ nhất, Bộ luật Tố tụng hình sự và các văn bản hướng dẫn thi hành chưa có quy định về trình tự, thủ tục giải quyết nguồn tin về tội phạm là thông tin về tội phạm do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện, do người phạm tội tự thú.

Hiện nay, Bộ luật Tố tụng hình sự và các văn bản hướng dẫn thi hành mới chỉ tập trung quy định về hoạt động tiếp nhận, giải quyết đối với tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố. Đối với nguồn tin về tội phạm là lời khai người phạm tội tự thú cũng mới chỉ quy định về thủ tục tiếp nhận nguồn tin khi người phạm tội đến tự thú tại Điều 152 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đối với nguồn tin về tội phạm là thông tin về tội phạm do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện hoặc do người phạm tội tự thú chưa có quy định về trình tự, thủ tục tiến hành. Điều này dẫn đến việc các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng gặp lúng túng trong việc xác định trình tự, thủ tục, thời hạn giải quyết, nhất là khi có nhiều thông tin về tội phạm do các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện bằng các biện pháp nghiệp vụ, mang tính bí mật.

Thứ hai, khái niệm về tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố chưa cụ thể.

Các khoản 1, 2, 3, 4 Điều 144 Bộ luật Tố tụng hình sự đã giải thích về tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Tuy nhiên, “dấu hiệu tội phạm” được đề cập trong khái niệm về tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố còn chưa được giải thích cụ thể, chưa có tiêu chí, căn cứ để xác định là trường hợp nào là tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; trường hợp nào là vi phạm pháp luật hành chính, dân sự. Điều này dẫn đến việc các cơ quan có thẩm quyền gặp lúng túng trong quyết định có thực hiện việc tiếp nhận, giải quyết đối với tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự hay là giải quyết theo quy định của pháp luật hành chính hoặc chuyển cơ quan có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự sau khi thực hiện việc phân loại đối với tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố…

Thứ ba, thời hạn giải quyết đối với tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố còn chưa phù hợp với trường hợp phức tạp.

Theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng hình sự, thời hạn giải quyết đối với tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố là 20 ngày; trường hợp có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm thì thời hạn giải quyết tố giác, tin báo, kiến nghị khởi tố có thể kéo dài nhưng không quá 02 tháng, có thể gia hạn một lần nhưng không quá 02 tháng. Quy định này chưa phù hợp với yêu cầu thực tiễn hoạt động giải quyết nguồn tin về tội phạm. Thực tiễn cho thấy, đối với các vụ việc phức tạp, có nhiều đối tượng, các đối tượng và những người tham gia tố tụng có liên quan cư trú ở nhiều địa phương khác nhau nên cần có nhiều thời gian để triển khai việc thu thập tài liệu, chứng cứ, xác minh, giải quyết triệt để. Tuy nhiên, với thời hạn được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự đã gây ra những khó khăn đối với các cơ quan có thẩm quyền giải quyết đối với tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố trong việc đưa ra kết luận xử lý khi chưa có đủ thời gian để thực hiện các biện pháp xác minh.

Thứ tư, phạm vi áp dụng các biện pháp tố tụng hình sự trong quá trình kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm còn hạn chế.

Khoản 3 Điều 147 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định các biện pháp điều tra, xác minh mà cơ quan có thẩm quyền giải quyết nguồn tin về tội phạm là tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố có thể áp dụng, bao gồm: “a) Thu thập thông tin, tài liệu, đồ vật từ cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để kiểm tra, xác minh nguồn tin; b) Khám nghiệm hiện trường; c) Khám nghiệm tử thi; d) Trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản”. Theo đó, phạm vi các biện pháp điều tra mà cơ quan có thẩm quyền áp dụng để kiểm tra, xác minh làm rõ nguồn tin về tội phạm còn hẹp. Thực tiễn cho thấy, để kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm, các cơ quan có thẩm quyền phải triển khai đồng bộ các hoạt động điều tra khác như khám xét, thực nghiệm điều tra, đối chất, nhận dạng… Tuy nhiên, việc Bộ luật Tố tụng hình sự không có quy định đối với các hoạt động điều tra này trong quá trình kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm đã ảnh hưởng đến giá trị pháp lý của kết quả điều tra thu thập.

Bên cạnh đó, việc quy định về trường hợp dẫn giải đối với người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố đã được triệu tập mà vẫn vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan tại điểm c khoản 2 Điều 127 Bộ luật Tố tụng hình sự đã làm ảnh hưởng đến tiến độ, hiệu quả triển khai các hoạt động điều tra đối với những người này. Bởi lẽ, theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, cơ quan có thẩm quyền chỉ dẫn giải đối với họ khi có đủ căn cứ xác định họ liên quan đến hành vi phạm tội được khởi tố vụ án. Với quy định này, cơ quan có thẩm quyền phải xác định chắc chắn vụ việc được khởi tố vụ án hình sự mới ra quyết định dẫn giải đối với người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố.

Thứ năm, căn cứ tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố chưa đầy đủ, chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn.

Khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định 03 trường hợp tạm đình chỉ việc giải quyết đối với tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố gồm: “a) Đã trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản, yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp nhưng chưa có kết quả; b) Đã yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật quan trọng có ý nghĩa quyết định đối với việc khởi tố hoặc không khởi tố vụ án nhưng chưa có kết quả; c) Không thể kết thúc việc kiểm tra, xác minh để quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án vì lý do bất khả kháng do thiên tai, dịch bệnh”. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, đối với các trường hợp khi hết thời hạn giải quyết, cơ quan có thẩm quyền đã triệu tập nhưng người tố giác, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố và những người tham gia tố tụng khác vắng mặt tại địa phương, không rõ nơi cư trú hoặc rõ nơi cư trú nhưng có lý do chính đáng, cơ quan có thẩm quyền đã buộc phải tạm đình chỉ việc giải quyết. Đối chiếu với quy định của pháp luật hiện hành, việc tạm đình chỉ việc giải quyết nguồn tin về tội phạm trong các trường hợp này là chưa đúng quy định.

3. Một số đề xuất, kiến nghị

Một số hạn chế, bất cập trong quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và các văn bản hướng dẫn thi hành đã có ảnh hưởng nhất định đến chất lượng, hiệu quả tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm của các cơ quan có thẩm quyền. Vì vậy, để góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm của các cơ quan có thẩm quyền trong thời gian tới, hệ thống pháp luật tố tụng hình sự cần hoàn thiện theo hướng:

Một là, sửa đổi, bổ sung quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục trong tiếp nhận, giải quyết đối với trường hợp người phạm tội tự thú; trình tự, thủ tục trong giải quyết đối với thông tin về tội phạm do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện: Đối với nguồn tin tội phạm là lời khai người phạm tội tự thú, Bộ luật Tố tụng hình sự và các văn bản hướng dẫn thi hành cần bổ sung các quy định về thủ tục phân công phó thủ trưởng, điều tra viên, cán bộ điều tra giải quyết nguồn tin về tội phạm cũng như thủ tục phân công phó viện trưởng, kiểm sát viên kiểm tra, giám sát việc giải quyết nguồn tin về tội phạm; phạm vi các biện pháp điều tra cần thực hiện để giải quyết nguồn tin về tội phạm như lấy lời khai, khám xét, thực nghiệm điều tra…

Đối với nguồn tin là thông tin về tội phạm do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện cần bổ sung quy định về trình tự, thủ tục, các biện pháp tiến hành kiểm tra, xác minh trong Bộ luật Tố tụng hình sự tương tự như đối với tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Theo đó, Bộ luật Tố tụng hình sự cần bổ sung cụm từ “thông tin về tội phạm do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện” sau các quy định về trình tự, thủ tục giải quyết đối với tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Bởi lẽ, thông tin về tội phạm mà cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện được cũng chưa thể xác định được ngay căn cứ khởi tố vụ án hình sự, nên cần phải có quá trình tiến hành kiểm tra, xác minh; đồng thời, việc kiểm tra, xác minh đối với nguồn tin này cần tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng hình sự .

Hai là, sửa đổi, bổ sung văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật Tố tụng hình sự về tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm: Để việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm bảo đảm hiệu quả, tránh tình trạng tràn lan, gây lãng phí thời gian, công sức của cơ quan có thẩm quyền giải quyết, trong thời gian tới, cần thiết ban hành văn bản hướng dẫn xác định rõ “dấu hiệu tội phạm” ban đầu được phản ánh trong nguồn tin về tội phạm. Nội dung văn bản hướng dẫn cần đưa ra được các tiêu chí cụ thể để cơ quan có thẩm quyền giải quyết nguồn tin về tội phạm xác định được nguồn tin đó có dấu hiệu tội phạm hay nguồn tin có dấu hiệu của vi phạm hành chính, vụ việc dân sự…, từ đó đi đến quyết định giải quyết theo trình tự, thủ tục tố tụng hình sự hay chuyển cơ quan có thẩm quyền giải quyết đối với vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật hành chính, vụ việc dân sự…

Ba là, sửa đổi, bổ sung đối với quy định về gia hạn thời gian giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố có tính chất phức tạp: Để tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan có thẩm quyền triển khai các biện pháp kiểm tra, xác minh một cách triệt để đối với các tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố có tính chất phức tạp cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung theo hướng tăng thời gian giải quyết. Theo đó, với trường hợp vụ việc phức tạp, có nhiều đối tượng, các đối tượng và những người tham gia tố tụng có liên quan cư trú ở nhiều địa phương khác nhau, đã gia hạn thời hạn giải quyết nhưng vẫn chưa thực hiện xong các yêu cầu xác minh, cần kéo dài thời gian giải quyết, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp xem xét, quyết định.

Bốn là, mở rộng phạm vi áp dụng các biện pháp kiểm tra, xác minh đối với nguồn tin về tội phạm: Trong thời gian tới, cần nghiên cứu sửa đổi khoản 3 Điều 147 Bộ luật Tố tụng hình sự theo hướng mở rộng phạm vi áp dụng các biện pháp kiểm tra xác minh đối với các nguồn tin về tội phạm, không chỉ dừng lại đối với tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Đồng thời, bổ sung các biện pháp kiểm tra, xác minh mà cơ quan có thẩm quyền có thể áp dụng trong quá trình này như khám xét, thực nghiệm điều tra, đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói.

Ngoài ra, nghiên cứu sửa đổi điểm c khoản 2 Điều 127 Bộ luật Tố tụng hình sự theo hướng bỏ cụm từ “mà qua kiểm tra, xác minh có đủ căn cứ xác định người đó liên quan đến hành vi phạm tội được khởi tố vụ án” nhằm đáp ứng yêu cầu triệu tập, khai thác đối với người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố.

Năm là, bổ sung căn cứ tạm đình chỉ điều tra trong trường hợp người tố giác, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố và những người tham gia tố tụng khác vắng mặt, chưa thể triệu tập, lấy lời khai: Theo đó, khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng hình sự cần nghiên cứu bổ sung trường hợp tạm đình chỉ vì lý do khách quan chưa thể triệu tập, lấy lời khai đối với người tố giác, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố và những người tham gia tố tụng khác có ý nghĩa quyết định đối với việc khởi tố hoặc không khởi tố vụ án.

ThS. Hoàng Minh Trung

Cục An ninh điều tra, Bộ Công an

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 388), tháng 9/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.
Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Bài viết phân tích các vấn đề cốt lõi về hợp đồng tiếp thị liên kết, đánh giá thực tiễn áp dụng và chỉ ra những bất cập trong quy định pháp luật, đặc biệt liên quan đến khái niệm pháp lý, cơ chế giao kết và hiệu lực phụ lục hợp đồng. Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng tiếp thị liên kết, nhằm bảo đảm tính minh bạch, công bằng trong quan hệ hợp đồng và góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của hoạt động tiếp thị liên kết trong môi trường thương mại điện tử tại Việt Nam.
Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự gia tăng của quan hệ hôn nhân xuyên biên giới, vấn đề giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn ngày càng trở nên cấp thiết. Bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá quy định hiện hành về xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch (lex patriae). Qua đó, nhận diện một số bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thực thi nguyên tắc này tại Việt Nam hiện nay.
Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Tóm tắt: Ở Việt Nam, chế định Hội thẩm nhân dân là phương thức thể chế hóa quyền làm chủ của Nhân dân trong hoạt động xét xử. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy, chế định này tồn tại một số hạn chế, dẫn đến sự tham gia của Nhân dân trong nhiều trường hợp còn hình thức. Bài viết phân tích vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử, nhận diện những hạn chế trong quy định pháp luật hiện hành về cơ chế lựa chọn, phân công, tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm pháp lý; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của Hội thẩm nhân dân, đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách tư pháp trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.

Theo dõi chúng tôi trên: