Thứ hai 21/09/2026 08:00
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản xuất, kinh doanh thực phẩm không an toàn

Bài viết đề cập đến các quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản xuất, kinh doanh thực phẩm không an toàn, đồng thời, phân tích một số vướng mắc, bất cập và đưa ra các kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về vấn đề này.

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản xuất, kinh doanh thực phẩm không an toàn là trách nhiệm dân sự, phát sinh giữa các chủ thể với nhau trong đời sống xã hội. Chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm không an toàn, có tác động tiêu cực đến sức khỏe, tính mạng của khách hàng thì phải chịu hậu quả pháp lý bất lợi và có trách nhiệm phải bồi thường cho những thiệt hại phát sinh. Có thể hiểu, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản xuất, kinh doanh thực phẩm không an toàn là trách nhiệm pháp lý bất lợi đặt ra cho chủ thể là người sản xuất, kinh doanh thực phẩm không an toàn, theo đó, chủ thể là người sản xuất, kinh doanh thực phẩm có hành vi vi phạm các điều kiện về an toàn thực phẩm, gây ra hậu quả tiêu cực đến sức khỏe, tính mạng của người tiêu dùng phải bồi thường những tổn thất mà mình gây ra với người bị thiệt hại.

1. Quy định pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản xuất, kinh doanh thực phẩm không an toàn

Thứ nhất, về nguyên tắc thực hiện trách nhiệm bồi thường thiệt hại:

Theo quy định của pháp luật hiện hành, khi chủ thể sản xuất, kinh doanh thực phẩm không bảo đảm an toàn mà gây ra thiệt hại cho các chủ thể khác thì sẽ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bên chịu thiệt hại. Khoản 1 Điều 59 Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa năm 2007 quy định: “Thiệt hại do vi phạm quy định về chất lượng sản phẩm, hàng hóa phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời”. Điều 23 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 cũng quy định: “Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp hàng hóa có khuyết tật do mình cung cấp gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người tiêu dùng, kể cả khi tổ chức, cá nhân đó không biết hoặc không có lỗi trong việc phát sinh khuyết tật, trừ trường hợp được quy định tại Điều 24 của Luật này”. Việc bồi thường thiệt hại sẽ được thực hiện theo quy định tại Điều 608 Bộ luật Dân sự năm 2015. Như vậy, khi cá nhân, tổ chức sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ không bảo đảm an toàn, gây thiệt hại cho người tiêu dùng thì phải bồi thường, chứ không nhất thiết phải phát sinh từ quan hệ hợp đồng hay ngoài hợp đồng.

Nguyên tắc bồi thường thiệt hại sẽ được thực hiện theo nguyên tắc chung của chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, được quy định tại Điều 585 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Thứ hai, về chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại:

Khi thực phẩm đến tay người tiêu dùng thì thường có sự tham gia của nhiều chủ thể và trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, từ khâu sản xuất đến khâu cung cấp, phân phối. Chính vì vậy, khi thực phẩm không bảo đảm chất lượng an toàn thì chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường có thể là một hoặc nhiều chủ thể khác nhau. Theo Điều 3 và Điều 6 Luật An toàn thực phẩm năm 2010, trách nhiệm của mọi tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm là phải bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm. Có thể thấy, Luật này đã quy định rõ rằng, chủ thể phải chịu trách nhiệm về an toàn thực phẩm là các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm, đồng nghĩa với việc, các chủ thể này đều phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại nếu như thực phẩm của mình gây thiệt hại cho những chủ thể khác. Đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại, Luật An toàn thực phẩm năm 2010 đã quy định cho hai chủ thể là nhà sản xuất và nhà kinh doanh thực phẩm ở hai điều khoản khác nhau là điểm l khoản 2 Điều 7 và điểm l khoản 2 Điều 8.

Điều 23 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 quy định về chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường và giải thích thêm về khái niệm “tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ” tại khoản 2 Điều 3. Bên cạnh đó, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 cũng công nhận các cá nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên và không đăng ký kinh doanh cũng có thể là các chủ thể kinh doanh hàng hóa, dịch vụ, có trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi thiệt hại xảy ra.

Theo quy định tại Điều 608 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì: “Cá nhân, pháp nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ không bảo đảm chất lượng hàng hóa, dịch vụ mà gây thiệt hại cho người tiêu dùng thì phải bồi thường”.

Thứ ba, về mức bồi thường thiệt hại:

Luật An toàn thực phẩm năm 2010 không có quy định về những thiệt hại được bồi thường mà chỉ quy định chung chung việc bồi thường sẽ được thực hiện theo pháp luật. Về nguyên tắc, khi luật chuyên ngành không có quy định cụ thể về vấn đề này thì sẽ áp dụng quy định của Điều 4 Bộ luật Dân sự năm 2015. Theo đó, đối với những thiệt hại phát sinh ngoài hợp đồng, Điều 608 Bộ luật Dân sự năm 2015 có quy định: “Cá nhân, pháp nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ không bảo đảm chất lượng hàng hóa, dịch vụ mà gây thiệt hại cho người tiêu dùng thì phải bồi thường”. Khi đó, những thiệt hại phải bồi thường sẽ là những thiệt hại khi tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín bị xâm hại. Việc xác định thiệt hại về sức khỏe được Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định tại Điều 590 và thiệt hại về tính mạng được quy định tại Điều 591.

Thứ tư, về thời hạn được bồi thường thiệt hại:

Khoản 1 Điều 59 Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa năm 2007 quy định bồi thường thiệt hại cần phải “toàn bộ và kịp thời”. Tương tự, Điều 585 Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng có quy định: “Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời”. Điều 593 Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng quy định về thời hạn được bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khỏe bị xâm phạm như người bị thiệt hại mất hoàn toàn khả năng lao động; người bị thiệt hại chết mà còn có người cần được cấp dưỡng.

2. Một số vướng mắc, bất cập trong quy định pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản xuất, kinh doanh thực phẩm không an toàn và kiến nghị hoàn thiện

Thứ nhất, hoàn thiện pháp luật về thời hạn thực hiện trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản xuất, kinh doanh thực phẩm không bảo đảm an toàn.

Có thể thấy, pháp luật đã có các quy định cụ thể về thời hạn được bồi thường, tuy nhiên, các quy định này đang hướng đến giải quyết bồi thường với những thiệt hại đã xảy ra. Trên thực tế, có nhiều trường hợp, những tác động của thực phẩm không an toàn có thể sẽ không làm cho người tiêu dùng tức thời phát bệnh mà sẽ từ từ tấn công, hủy hoại sức khỏe của người tiêu dùng. Để được bồi thường thiệt hại theo quy định pháp luật, người tiêu dùng phải chứng minh được mình có bị thiệt hại về sức khỏe, tính mạng… Điều này thực sự là vấn đề không đơn giản và tốn rất nhiều thời gian. Người tiêu dùng có quyền khởi kiện, có quyền đòi bồi thường, tuy nhiên họ phải chứng minh được thiệt hại thì Tòa án mới thụ lý. Trên thực tế, rất khó để người bị thiệt hại có thể chứng minh được thiệt hại cụ thể khi thực phẩm không an toàn âm thầm tấn công họ trong khoảng thời gian dài[1]. Bên cạnh đó, có nhiều trường hợp, nhiều bên có trách nhiềm bồi thường cố tình kéo dài thời gian, làm khó nạn nhân để né tránh trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Để thiệt hại có thể được bồi thường kịp thời, Tòa án cần giải quyết nhanh chóng yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại trong thời hạn luật định. Trường hợp cần thiết, có thể áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của pháp luật tố tụng để giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự[2].

Hiện nay, tại Việt Nam chưa có quy định cụ thể về thời hạn giải quyết khiếu nại của các tổ chức, doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh thực phẩm, dẫn đến có một số trường hợp khách hàng phản ánh về chất lượng sản phẩm và hậu quả tiêu cực đến doanh nghiệp, cơ sở sản xuất nhưng bị “lờ đi”, mất nhiều thời gian để giải quyết.

Trên thực tế, có nhiều vụ việc ở Việt Nam, khi xảy ra thiệt hại về sức khỏe sau khi sử dụng thực phẩm tại cửa hàng và có khiếu nại của khách hàng, các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm luôn “cố tình” trì hoãn việc thực hiện bồi thường thiệt hại, hoặc tự thỏa thuận, “ra giá” bồi thường với người bị thiệt hại nhưng mức bồi thường không tương xứng với các chi phí mà người tiêu dùng bị thiệt hại phải gánh chịu. Điều này vi phạm nghiêm trọng đến nguyên tắc bồi thường thiệt hại là “toàn bộ và kịp thời”, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của người tiêu dùng.

Vì vậy, theo tác giả, cần có các điều khoản quy định rõ ràng về thời hạn trả lời khiếu nại của người tiêu dùng và quy định về mức bồi thường thiệt hại cho người tiêu dùng. Nếu bên có trách nhiệm bồi thường không phản hồi kịp thời và bồi thường đầy đủ cho bên bị thiệt hại mà không có lý do rõ ràng thì cần có chế tài xử lý nghiêm minh, ví dụ như yêu cầu cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm đóng cửa, ngừng hoạt động ít nhất 03 tháng, yêu cầu truyền thông vào cuộc, đưa tin về vụ việc này, yêu cầu mức bồi thường cho người bị hại gấp 03 lần so với thực tế… Có như vậy, sẽ nâng cao ý thức chấp hành an toàn thực phẩm của các cá nhân, tổ chức sản xuất, kinh doanh thực phẩm ngay từ đầu, tránh trường hợp để đến khi có thiệt hại về sức khỏe và tính mạng từ phía người tiêu dùng mới khắc phục, từ đó, chất lượng an toàn thực phẩm sẽ được bảo đảm hơn.

Thứ hai, hoàn thiện pháp luật về chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản xuất, kinh doanh thực phẩm không bảo đảm an toàn.

Hiện nay, khái niệm về chủ thể sản xuất kinh doanh thực phẩm giữa các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau, như: Luật An toàn thực phẩm năm 2010 (Điều 3, Điều 6), Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 (khoản 2 Điều 3, Điều 23), Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa năm 2007 (khoản 6 Điều 3), Bộ luật Dân sự năm 2015 (Điều 608) đang có sự khác nhau. Trong đó, Điều 23 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 quy định về chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường và giải thích thêm về khái niệm “tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ” tại khoản 2 Điều 3. Có thể thấy, khái niệm tổ chức, cá nhân sản xuất hàng hóa nằm trong khái niệm chủ thể kinh doanh hàng hóa chứ không có sự tách biệt rõ ràng. Trong khi đó, hoạt động sản xuất và kinh doanh là hai khâu tách biệt trong quy trình tạo ra sản phẩm và đưa đến người tiêu dùng. Việc không phân loại rõ chủ thể từ đầu sẽ dẫn đến sự khó khăn trong việc xác định chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại nếu áp dụng Luật này. Bên cạnh đó, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 cũng công nhận các cá nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên và không đăng ký kinh doanh cũng có thể là các chủ thể kinh doanh hàng hóa, dịch vụ, có trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi thiệt hại xảy ra. Việc không đăng ký kinh doanh, không có cơ cấu tổ chức chặt chẽ từ đầu có thể khiến các chủ thể này không có ý thức đầy đủ về việc bảo đảm an toàn thực phẩm, trách nhiệm với khách hàng, cũng như gây khó khăn cho các cơ quan có thẩm quyền trong việc quản lý an toàn thực phẩm, điều tra, xác định nguyên nhân khi có thiệt hại về an toàn thực phẩm xảy ra.

Có thể thấy, pháp luật hiện hành vẫn chưa có sự thống nhất với nhau về cách sử dụng thuật ngữ mô tả chủ thể trong lĩnh vực an toàn thực phẩm, có thể ảnh hưởng đến việc áp dụng các quy định về trách nhiệm pháp lý đối với chủ thể sản xuất, kinh doanh thực phẩm. Hơn nữa, pháp luật cũng chưa có quy định dự liệu tình huống nếu cả ba chủ thể là sản xuất, nhập khẩu và kinh doanh thực phẩm đều có lỗi, dẫn đến thiệt hại cho người tiêu dùng thì ai phải chịu trách nhiệm.

Ngoài các chủ thể trên, theo quan điểm của tác giả, trong một số tình huống cụ thể, các chủ thể kiểm soát các hoạt động sản xuất, kinh doanh về an toàn thực phẩm có trách nhiệm bồi thường. Trách nhiệm của Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công thương đã được quy định cụ thể trong Nghị định số 15/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật An toàn thực phẩm. Nhìn chung, các quy định về phân công, phân cấp quản lý về an toàn thực phẩm đều rõ ràng, cụ thể. Tuy nhiên, các cơ quan quản lý đang bị dàn trải ở nhiều bộ, ngành, chưa tạo thành hệ thống kiểm soát toàn diện theo các mối nguy theo chuỗi, dẫn đến hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về an toàn thực phẩm do cả 03 Bộ ban hành độc lập và việc thực thi khác nhau dẫn đến mâu thuẫn, chồng chéo trong xây dựng, triển khai các quy định pháp luật, hậu quả là sự thiếu thống nhất trong chỉ đạo, điều hành, tổ chức thực hiện[3]. Pháp luật hiện hành cũng chưa có quy định cụ thể về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của các cơ quan quản lý có thẩm quyền, ví dụ như trường hợp vẫn còn nhiều thực phẩm, phụ gia chưa có tiêu chuẩn rõ ràng, trong khi chúng có tác động xấu đến sức khỏe, tính mạng người tiêu dùng; hoặc, tiêu chuẩn an toàn thực phẩm của Việt Nam đang thấp hơn tiêu chuẩn quốc tế, dẫn đến các thực phẩm dù được sản xuất, kinh doanh đúng theo tiêu chuẩn pháp luật Việt Nam nhưng vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro cho người tiêu dùng. Rõ ràng, lúc này, trách nhiệm không còn thuộc về bên sản xuất, kinh doanh thực phẩm vì họ đã làm đúng theo quy định pháp luật, mà thuộc về cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Như vậy, cần có sự thống nhất về khái niệm chủ thể sản xuất, kinh doanh thực phẩm thì khi thiệt hại xảy ra mới có thể xác định chính xác chủ thể nào có trách nhiệm bồi thường thiệt hại và mức bồi thường thiệt hại cụ thể là bao nhiêu. Theo đó, chủ thể sản xuất, kinh doanh thực phẩm là các cá nhân, tổ chức tham gia thực hiện các công việc về sản xuất, kinh doanh thực phẩm. Bên cạnh đó, cần có quy định pháp luật cụ thể về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của các cơ quan quản lý có thẩm quyền trong các trường hợp nêu trên.

Thứ ba, hoàn thiện pháp luật về mức bồi thường thiệt hại do sản xuất, kinh doanh thực phẩm không đảm bảo an toàn.

Về mức bồi thường, hiện nay pháp luật Việt Nam không có quy định cụ thể. Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 và Bộ luật Dân sự năm 2015 chỉ quy định về nghĩa vụ bồi thường thiệt hại dựa trên thiệt hại thực tế chứng minh được. Thực tế, việc xác định mức bồi thường dựa trên mức độ thiệt hại và mức sinh hoạt trung bình tại địa phương nơi nạn nhân điều trị, nhằm bảo đảm được quyền và lợi ích của cả bên bị thiệt hại và bên chịu trách nhiệm bồi thường. Tác giả cho rằng, mức bồi thường dựa trên mức độ thiệt hại này chưa đủ sức răn đe các cơ sở sản xuất, kinh doanh, vì trong nhiều trường hợp, mức tiền phạt và tiền bồi thường là quá nhỏ so với khoản tiền lời thu được từ hoạt động sản xuất, kinh doanh. Có rất nhiều cơ sở sản xuất, kinh doanh tái phạm hành vi sản xuất, kinh doanh thực phẩm không an toàn, có thể kể đến là các vụ ngộ độc thực phẩm tràn lan ở các khu công nghiệp trên địa bàn cả nước, đối tượng bị thiệt hại thường là những người công nhân - thuộc nhóm người tiêu dùng yếu thế. Trong khi đó, Điều 51 Luật Tiêu dùng Đài Loan năm 1994 (sửa đổi, bổ sung năm 2005) có thể thấy, Luật này đã mở ra một cơ chế đòi bồi thường ưu tiên cho người tiêu dùng khi mức yêu cầu đòi bồi thường có thể lên tới gấp 03 lần mức thiệt hại thực tế nếu như liên quan tới yếu kém của doanh nghiệp hoặc một hành vi cố ý[4]. Những kinh nghiệm lập pháp và kết quả thực thi quy định của Đài Loan cũng có thể là bài học tham khảo cho Việt Nam trong hoàn thiện pháp luật về tiêu dùng. Vì vậy, theo tác giả, mức bồi thường cho nạn nhân cần được quy định là gấp từ 03 đến 05 lần so với thực tế, như vậy sẽ giúp các cá nhân, tổ chức sản xuất, kinh doanh thực phẩm nâng cao chất lượng an toàn thực phẩm và trách nhiệm xã hội của họ ngay từ ban đầu. Đồng thời, bù đắp cho những tổn thất về sức khỏe, tính mạng, tài sản, danh dự, nhân phẩm của các chủ thể bị thiệt hại.

Thứ tư, bổ sung một số quy định liên quan trong Luật An toàn thực phẩm.

Hiện nay, Luật An toàn thực phẩm năm 2010 chưa có quy định cụ thể về việc giải quyết bồi thường thiệt hại do sản xuất, kinh doanh thực phẩm không an toàn gây ra đối với người tiêu dùng. Theo tác giả, cần bổ sung các quy định giải quyết bồi thường thiệt hại cho người tiêu dùng thay vì phải dẫn chiếu đến quy định của các văn bản quy phạm pháp luật khác. Theo đó, bổ sung một số nội dung như định nghĩa về hành vi sản xuất, kinh doanh thực phẩm không an toàn, thứ tự chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản xuất, kinh doanh thực phẩm không an toàn, trường hợp loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản xuất, kinh doanh thực phẩm không an toàn…

Thứ năm, xây dựng hệ thống quản lý, kiểm tra chất lượng thực phẩm chặt chẽ.

Trước tiên, xây dựng hệ thống quản lý và kiểm tra chất lượng chặt chẽ góp phần tạo ra thực phẩm an toàn, tăng cường bảo vệ người tiêu dùng, tránh xảy ra những thiệt hại không đáng có. Đồng thời, cần tăng cường hoàn thiện quy trình sản xuất, bảo quản, chế biến an toàn thực phẩm hiệu quả. Bên cạnh đó, xây dựng, củng cố nền tảng truy xuất nguồn gốc, xuất xứ hàng hóa, thực phẩm trên điện thoại để người dân dễ dàng theo dõi thông tin thực phẩm hàng ngày. Trên mỗi bao bì sản phẩm sẽ có mã QR (mã phản hồi nhanh), tích hợp đầy đủ thông tin nguồn gốc thực phẩm. Chỉ cần tải app (ứng dụng) vào điện thoại, truy cập app và quét mã thì các thông tin, thông số của sản phẩm (ngày đóng gói, nguồn gốc, thành phần, cơ sở sản xuất, kinh doanh…) sẽ ngay lập tức hiện lên trên màn hình điện thoại. Ngoài ra, app sẽ có phần báo cáo sản phẩm không an toàn. Người tiêu dùng có thể chụp ảnh làm bằng chứng và đăng tải bình luận công khai, sau đó Cục Cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng, Bộ Công Thương sẽ xác nhận thông tin. Có mục chấm điểm, đánh giá cho sản phẩm để tăng độ uy tín cho các sản phẩm. Khi xảy ra thiệt hại về sức khỏe, tính mạng của người tiêu dùng khi sử dụng thực phẩm không an toàn, các thông tin, thông số và đánh giá của khách hàng trên app sẽ là một trong các căn cứ quan trọng trong việc yêu cầu bồi thường thiệt hại. Để tạo nền tảng này, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ban, ngành, trong đó, Bộ Tư pháp đóng vai trò thẩm định các quy định và điều khoản được tích hợp trong app này.

Hà Trọng Bắc

Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm, Bộ Tư pháp

Đinh Minh Châu

Trường Đại học Luật Hà Nội, Bộ Tư pháp

[1]. Vov.vn (2016), “Vi phạm an toàn thực phẩm: Khởi kiện, tại sao không?”, http://vov.vn/an-sach-song-khoe/vi-pham-an-toan-thuc-pham-khoi-kien-tai-sao-khong-495869.vov, truy cập ngày 15/8/2023.

[2]. ThS. Luật sư Lê Văn Sua (2017), “Bàn về nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015”, https://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=2205, truy cập ngày 15/8/2023.

[3]. Nguyễn Thị Vi Bình, (2020) Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm và thực tiễn tại địa bàn tỉnh Bắc Ninh, Luận văn Thạc sĩ Luật học Trường Đại học Luật Hà Nội, tr. 38.

[4]. Nguyễn Trọng Điệp, Nguyễn Tiến Đạt (2019), “Bảo vệ quyền lợi người tiêu dù̀ng yếu thế trong pháp luật Việt Nam và Đài Loan”, VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 tr. 23 - 30.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 390), tháng 10/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.

Theo dõi chúng tôi trên: