Thứ tư 29/04/2026 22:04
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản xuất, kinh doanh thực phẩm không an toàn

Bài viết đề cập đến các quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản xuất, kinh doanh thực phẩm không an toàn, đồng thời, phân tích một số vướng mắc, bất cập và đưa ra các kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về vấn đề này.

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản xuất, kinh doanh thực phẩm không an toàn là trách nhiệm dân sự, phát sinh giữa các chủ thể với nhau trong đời sống xã hội. Chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm không an toàn, có tác động tiêu cực đến sức khỏe, tính mạng của khách hàng thì phải chịu hậu quả pháp lý bất lợi và có trách nhiệm phải bồi thường cho những thiệt hại phát sinh. Có thể hiểu, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản xuất, kinh doanh thực phẩm không an toàn là trách nhiệm pháp lý bất lợi đặt ra cho chủ thể là người sản xuất, kinh doanh thực phẩm không an toàn, theo đó, chủ thể là người sản xuất, kinh doanh thực phẩm có hành vi vi phạm các điều kiện về an toàn thực phẩm, gây ra hậu quả tiêu cực đến sức khỏe, tính mạng của người tiêu dùng phải bồi thường những tổn thất mà mình gây ra với người bị thiệt hại.

1. Quy định pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản xuất, kinh doanh thực phẩm không an toàn

Thứ nhất, về nguyên tắc thực hiện trách nhiệm bồi thường thiệt hại:

Theo quy định của pháp luật hiện hành, khi chủ thể sản xuất, kinh doanh thực phẩm không bảo đảm an toàn mà gây ra thiệt hại cho các chủ thể khác thì sẽ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bên chịu thiệt hại. Khoản 1 Điều 59 Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa năm 2007 quy định: “Thiệt hại do vi phạm quy định về chất lượng sản phẩm, hàng hóa phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời”. Điều 23 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 cũng quy định: “Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp hàng hóa có khuyết tật do mình cung cấp gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người tiêu dùng, kể cả khi tổ chức, cá nhân đó không biết hoặc không có lỗi trong việc phát sinh khuyết tật, trừ trường hợp được quy định tại Điều 24 của Luật này”. Việc bồi thường thiệt hại sẽ được thực hiện theo quy định tại Điều 608 Bộ luật Dân sự năm 2015. Như vậy, khi cá nhân, tổ chức sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ không bảo đảm an toàn, gây thiệt hại cho người tiêu dùng thì phải bồi thường, chứ không nhất thiết phải phát sinh từ quan hệ hợp đồng hay ngoài hợp đồng.

Nguyên tắc bồi thường thiệt hại sẽ được thực hiện theo nguyên tắc chung của chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, được quy định tại Điều 585 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Thứ hai, về chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại:

Khi thực phẩm đến tay người tiêu dùng thì thường có sự tham gia của nhiều chủ thể và trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, từ khâu sản xuất đến khâu cung cấp, phân phối. Chính vì vậy, khi thực phẩm không bảo đảm chất lượng an toàn thì chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường có thể là một hoặc nhiều chủ thể khác nhau. Theo Điều 3 và Điều 6 Luật An toàn thực phẩm năm 2010, trách nhiệm của mọi tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm là phải bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm. Có thể thấy, Luật này đã quy định rõ rằng, chủ thể phải chịu trách nhiệm về an toàn thực phẩm là các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm, đồng nghĩa với việc, các chủ thể này đều phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại nếu như thực phẩm của mình gây thiệt hại cho những chủ thể khác. Đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại, Luật An toàn thực phẩm năm 2010 đã quy định cho hai chủ thể là nhà sản xuất và nhà kinh doanh thực phẩm ở hai điều khoản khác nhau là điểm l khoản 2 Điều 7 và điểm l khoản 2 Điều 8.

Điều 23 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 quy định về chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường và giải thích thêm về khái niệm “tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ” tại khoản 2 Điều 3. Bên cạnh đó, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 cũng công nhận các cá nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên và không đăng ký kinh doanh cũng có thể là các chủ thể kinh doanh hàng hóa, dịch vụ, có trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi thiệt hại xảy ra.

Theo quy định tại Điều 608 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì: “Cá nhân, pháp nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ không bảo đảm chất lượng hàng hóa, dịch vụ mà gây thiệt hại cho người tiêu dùng thì phải bồi thường”.

Thứ ba, về mức bồi thường thiệt hại:

Luật An toàn thực phẩm năm 2010 không có quy định về những thiệt hại được bồi thường mà chỉ quy định chung chung việc bồi thường sẽ được thực hiện theo pháp luật. Về nguyên tắc, khi luật chuyên ngành không có quy định cụ thể về vấn đề này thì sẽ áp dụng quy định của Điều 4 Bộ luật Dân sự năm 2015. Theo đó, đối với những thiệt hại phát sinh ngoài hợp đồng, Điều 608 Bộ luật Dân sự năm 2015 có quy định: “Cá nhân, pháp nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ không bảo đảm chất lượng hàng hóa, dịch vụ mà gây thiệt hại cho người tiêu dùng thì phải bồi thường”. Khi đó, những thiệt hại phải bồi thường sẽ là những thiệt hại khi tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín bị xâm hại. Việc xác định thiệt hại về sức khỏe được Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định tại Điều 590 và thiệt hại về tính mạng được quy định tại Điều 591.

Thứ tư, về thời hạn được bồi thường thiệt hại:

Khoản 1 Điều 59 Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa năm 2007 quy định bồi thường thiệt hại cần phải “toàn bộ và kịp thời”. Tương tự, Điều 585 Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng có quy định: “Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời”. Điều 593 Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng quy định về thời hạn được bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khỏe bị xâm phạm như người bị thiệt hại mất hoàn toàn khả năng lao động; người bị thiệt hại chết mà còn có người cần được cấp dưỡng.

2. Một số vướng mắc, bất cập trong quy định pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản xuất, kinh doanh thực phẩm không an toàn và kiến nghị hoàn thiện

Thứ nhất, hoàn thiện pháp luật về thời hạn thực hiện trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản xuất, kinh doanh thực phẩm không bảo đảm an toàn.

Có thể thấy, pháp luật đã có các quy định cụ thể về thời hạn được bồi thường, tuy nhiên, các quy định này đang hướng đến giải quyết bồi thường với những thiệt hại đã xảy ra. Trên thực tế, có nhiều trường hợp, những tác động của thực phẩm không an toàn có thể sẽ không làm cho người tiêu dùng tức thời phát bệnh mà sẽ từ từ tấn công, hủy hoại sức khỏe của người tiêu dùng. Để được bồi thường thiệt hại theo quy định pháp luật, người tiêu dùng phải chứng minh được mình có bị thiệt hại về sức khỏe, tính mạng… Điều này thực sự là vấn đề không đơn giản và tốn rất nhiều thời gian. Người tiêu dùng có quyền khởi kiện, có quyền đòi bồi thường, tuy nhiên họ phải chứng minh được thiệt hại thì Tòa án mới thụ lý. Trên thực tế, rất khó để người bị thiệt hại có thể chứng minh được thiệt hại cụ thể khi thực phẩm không an toàn âm thầm tấn công họ trong khoảng thời gian dài[1]. Bên cạnh đó, có nhiều trường hợp, nhiều bên có trách nhiềm bồi thường cố tình kéo dài thời gian, làm khó nạn nhân để né tránh trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Để thiệt hại có thể được bồi thường kịp thời, Tòa án cần giải quyết nhanh chóng yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại trong thời hạn luật định. Trường hợp cần thiết, có thể áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của pháp luật tố tụng để giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự[2].

Hiện nay, tại Việt Nam chưa có quy định cụ thể về thời hạn giải quyết khiếu nại của các tổ chức, doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh thực phẩm, dẫn đến có một số trường hợp khách hàng phản ánh về chất lượng sản phẩm và hậu quả tiêu cực đến doanh nghiệp, cơ sở sản xuất nhưng bị “lờ đi”, mất nhiều thời gian để giải quyết.

Trên thực tế, có nhiều vụ việc ở Việt Nam, khi xảy ra thiệt hại về sức khỏe sau khi sử dụng thực phẩm tại cửa hàng và có khiếu nại của khách hàng, các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm luôn “cố tình” trì hoãn việc thực hiện bồi thường thiệt hại, hoặc tự thỏa thuận, “ra giá” bồi thường với người bị thiệt hại nhưng mức bồi thường không tương xứng với các chi phí mà người tiêu dùng bị thiệt hại phải gánh chịu. Điều này vi phạm nghiêm trọng đến nguyên tắc bồi thường thiệt hại là “toàn bộ và kịp thời”, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của người tiêu dùng.

Vì vậy, theo tác giả, cần có các điều khoản quy định rõ ràng về thời hạn trả lời khiếu nại của người tiêu dùng và quy định về mức bồi thường thiệt hại cho người tiêu dùng. Nếu bên có trách nhiệm bồi thường không phản hồi kịp thời và bồi thường đầy đủ cho bên bị thiệt hại mà không có lý do rõ ràng thì cần có chế tài xử lý nghiêm minh, ví dụ như yêu cầu cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm đóng cửa, ngừng hoạt động ít nhất 03 tháng, yêu cầu truyền thông vào cuộc, đưa tin về vụ việc này, yêu cầu mức bồi thường cho người bị hại gấp 03 lần so với thực tế… Có như vậy, sẽ nâng cao ý thức chấp hành an toàn thực phẩm của các cá nhân, tổ chức sản xuất, kinh doanh thực phẩm ngay từ đầu, tránh trường hợp để đến khi có thiệt hại về sức khỏe và tính mạng từ phía người tiêu dùng mới khắc phục, từ đó, chất lượng an toàn thực phẩm sẽ được bảo đảm hơn.

Thứ hai, hoàn thiện pháp luật về chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản xuất, kinh doanh thực phẩm không bảo đảm an toàn.

Hiện nay, khái niệm về chủ thể sản xuất kinh doanh thực phẩm giữa các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau, như: Luật An toàn thực phẩm năm 2010 (Điều 3, Điều 6), Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 (khoản 2 Điều 3, Điều 23), Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa năm 2007 (khoản 6 Điều 3), Bộ luật Dân sự năm 2015 (Điều 608) đang có sự khác nhau. Trong đó, Điều 23 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 quy định về chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường và giải thích thêm về khái niệm “tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ” tại khoản 2 Điều 3. Có thể thấy, khái niệm tổ chức, cá nhân sản xuất hàng hóa nằm trong khái niệm chủ thể kinh doanh hàng hóa chứ không có sự tách biệt rõ ràng. Trong khi đó, hoạt động sản xuất và kinh doanh là hai khâu tách biệt trong quy trình tạo ra sản phẩm và đưa đến người tiêu dùng. Việc không phân loại rõ chủ thể từ đầu sẽ dẫn đến sự khó khăn trong việc xác định chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại nếu áp dụng Luật này. Bên cạnh đó, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 cũng công nhận các cá nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên và không đăng ký kinh doanh cũng có thể là các chủ thể kinh doanh hàng hóa, dịch vụ, có trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi thiệt hại xảy ra. Việc không đăng ký kinh doanh, không có cơ cấu tổ chức chặt chẽ từ đầu có thể khiến các chủ thể này không có ý thức đầy đủ về việc bảo đảm an toàn thực phẩm, trách nhiệm với khách hàng, cũng như gây khó khăn cho các cơ quan có thẩm quyền trong việc quản lý an toàn thực phẩm, điều tra, xác định nguyên nhân khi có thiệt hại về an toàn thực phẩm xảy ra.

Có thể thấy, pháp luật hiện hành vẫn chưa có sự thống nhất với nhau về cách sử dụng thuật ngữ mô tả chủ thể trong lĩnh vực an toàn thực phẩm, có thể ảnh hưởng đến việc áp dụng các quy định về trách nhiệm pháp lý đối với chủ thể sản xuất, kinh doanh thực phẩm. Hơn nữa, pháp luật cũng chưa có quy định dự liệu tình huống nếu cả ba chủ thể là sản xuất, nhập khẩu và kinh doanh thực phẩm đều có lỗi, dẫn đến thiệt hại cho người tiêu dùng thì ai phải chịu trách nhiệm.

Ngoài các chủ thể trên, theo quan điểm của tác giả, trong một số tình huống cụ thể, các chủ thể kiểm soát các hoạt động sản xuất, kinh doanh về an toàn thực phẩm có trách nhiệm bồi thường. Trách nhiệm của Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công thương đã được quy định cụ thể trong Nghị định số 15/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật An toàn thực phẩm. Nhìn chung, các quy định về phân công, phân cấp quản lý về an toàn thực phẩm đều rõ ràng, cụ thể. Tuy nhiên, các cơ quan quản lý đang bị dàn trải ở nhiều bộ, ngành, chưa tạo thành hệ thống kiểm soát toàn diện theo các mối nguy theo chuỗi, dẫn đến hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về an toàn thực phẩm do cả 03 Bộ ban hành độc lập và việc thực thi khác nhau dẫn đến mâu thuẫn, chồng chéo trong xây dựng, triển khai các quy định pháp luật, hậu quả là sự thiếu thống nhất trong chỉ đạo, điều hành, tổ chức thực hiện[3]. Pháp luật hiện hành cũng chưa có quy định cụ thể về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của các cơ quan quản lý có thẩm quyền, ví dụ như trường hợp vẫn còn nhiều thực phẩm, phụ gia chưa có tiêu chuẩn rõ ràng, trong khi chúng có tác động xấu đến sức khỏe, tính mạng người tiêu dùng; hoặc, tiêu chuẩn an toàn thực phẩm của Việt Nam đang thấp hơn tiêu chuẩn quốc tế, dẫn đến các thực phẩm dù được sản xuất, kinh doanh đúng theo tiêu chuẩn pháp luật Việt Nam nhưng vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro cho người tiêu dùng. Rõ ràng, lúc này, trách nhiệm không còn thuộc về bên sản xuất, kinh doanh thực phẩm vì họ đã làm đúng theo quy định pháp luật, mà thuộc về cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Như vậy, cần có sự thống nhất về khái niệm chủ thể sản xuất, kinh doanh thực phẩm thì khi thiệt hại xảy ra mới có thể xác định chính xác chủ thể nào có trách nhiệm bồi thường thiệt hại và mức bồi thường thiệt hại cụ thể là bao nhiêu. Theo đó, chủ thể sản xuất, kinh doanh thực phẩm là các cá nhân, tổ chức tham gia thực hiện các công việc về sản xuất, kinh doanh thực phẩm. Bên cạnh đó, cần có quy định pháp luật cụ thể về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của các cơ quan quản lý có thẩm quyền trong các trường hợp nêu trên.

Thứ ba, hoàn thiện pháp luật về mức bồi thường thiệt hại do sản xuất, kinh doanh thực phẩm không đảm bảo an toàn.

Về mức bồi thường, hiện nay pháp luật Việt Nam không có quy định cụ thể. Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 và Bộ luật Dân sự năm 2015 chỉ quy định về nghĩa vụ bồi thường thiệt hại dựa trên thiệt hại thực tế chứng minh được. Thực tế, việc xác định mức bồi thường dựa trên mức độ thiệt hại và mức sinh hoạt trung bình tại địa phương nơi nạn nhân điều trị, nhằm bảo đảm được quyền và lợi ích của cả bên bị thiệt hại và bên chịu trách nhiệm bồi thường. Tác giả cho rằng, mức bồi thường dựa trên mức độ thiệt hại này chưa đủ sức răn đe các cơ sở sản xuất, kinh doanh, vì trong nhiều trường hợp, mức tiền phạt và tiền bồi thường là quá nhỏ so với khoản tiền lời thu được từ hoạt động sản xuất, kinh doanh. Có rất nhiều cơ sở sản xuất, kinh doanh tái phạm hành vi sản xuất, kinh doanh thực phẩm không an toàn, có thể kể đến là các vụ ngộ độc thực phẩm tràn lan ở các khu công nghiệp trên địa bàn cả nước, đối tượng bị thiệt hại thường là những người công nhân - thuộc nhóm người tiêu dùng yếu thế. Trong khi đó, Điều 51 Luật Tiêu dùng Đài Loan năm 1994 (sửa đổi, bổ sung năm 2005) có thể thấy, Luật này đã mở ra một cơ chế đòi bồi thường ưu tiên cho người tiêu dùng khi mức yêu cầu đòi bồi thường có thể lên tới gấp 03 lần mức thiệt hại thực tế nếu như liên quan tới yếu kém của doanh nghiệp hoặc một hành vi cố ý[4]. Những kinh nghiệm lập pháp và kết quả thực thi quy định của Đài Loan cũng có thể là bài học tham khảo cho Việt Nam trong hoàn thiện pháp luật về tiêu dùng. Vì vậy, theo tác giả, mức bồi thường cho nạn nhân cần được quy định là gấp từ 03 đến 05 lần so với thực tế, như vậy sẽ giúp các cá nhân, tổ chức sản xuất, kinh doanh thực phẩm nâng cao chất lượng an toàn thực phẩm và trách nhiệm xã hội của họ ngay từ ban đầu. Đồng thời, bù đắp cho những tổn thất về sức khỏe, tính mạng, tài sản, danh dự, nhân phẩm của các chủ thể bị thiệt hại.

Thứ tư, bổ sung một số quy định liên quan trong Luật An toàn thực phẩm.

Hiện nay, Luật An toàn thực phẩm năm 2010 chưa có quy định cụ thể về việc giải quyết bồi thường thiệt hại do sản xuất, kinh doanh thực phẩm không an toàn gây ra đối với người tiêu dùng. Theo tác giả, cần bổ sung các quy định giải quyết bồi thường thiệt hại cho người tiêu dùng thay vì phải dẫn chiếu đến quy định của các văn bản quy phạm pháp luật khác. Theo đó, bổ sung một số nội dung như định nghĩa về hành vi sản xuất, kinh doanh thực phẩm không an toàn, thứ tự chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản xuất, kinh doanh thực phẩm không an toàn, trường hợp loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản xuất, kinh doanh thực phẩm không an toàn…

Thứ năm, xây dựng hệ thống quản lý, kiểm tra chất lượng thực phẩm chặt chẽ.

Trước tiên, xây dựng hệ thống quản lý và kiểm tra chất lượng chặt chẽ góp phần tạo ra thực phẩm an toàn, tăng cường bảo vệ người tiêu dùng, tránh xảy ra những thiệt hại không đáng có. Đồng thời, cần tăng cường hoàn thiện quy trình sản xuất, bảo quản, chế biến an toàn thực phẩm hiệu quả. Bên cạnh đó, xây dựng, củng cố nền tảng truy xuất nguồn gốc, xuất xứ hàng hóa, thực phẩm trên điện thoại để người dân dễ dàng theo dõi thông tin thực phẩm hàng ngày. Trên mỗi bao bì sản phẩm sẽ có mã QR (mã phản hồi nhanh), tích hợp đầy đủ thông tin nguồn gốc thực phẩm. Chỉ cần tải app (ứng dụng) vào điện thoại, truy cập app và quét mã thì các thông tin, thông số của sản phẩm (ngày đóng gói, nguồn gốc, thành phần, cơ sở sản xuất, kinh doanh…) sẽ ngay lập tức hiện lên trên màn hình điện thoại. Ngoài ra, app sẽ có phần báo cáo sản phẩm không an toàn. Người tiêu dùng có thể chụp ảnh làm bằng chứng và đăng tải bình luận công khai, sau đó Cục Cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng, Bộ Công Thương sẽ xác nhận thông tin. Có mục chấm điểm, đánh giá cho sản phẩm để tăng độ uy tín cho các sản phẩm. Khi xảy ra thiệt hại về sức khỏe, tính mạng của người tiêu dùng khi sử dụng thực phẩm không an toàn, các thông tin, thông số và đánh giá của khách hàng trên app sẽ là một trong các căn cứ quan trọng trong việc yêu cầu bồi thường thiệt hại. Để tạo nền tảng này, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ban, ngành, trong đó, Bộ Tư pháp đóng vai trò thẩm định các quy định và điều khoản được tích hợp trong app này.

Hà Trọng Bắc

Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm, Bộ Tư pháp

Đinh Minh Châu

Trường Đại học Luật Hà Nội, Bộ Tư pháp

[1]. Vov.vn (2016), “Vi phạm an toàn thực phẩm: Khởi kiện, tại sao không?”, http://vov.vn/an-sach-song-khoe/vi-pham-an-toan-thuc-pham-khoi-kien-tai-sao-khong-495869.vov, truy cập ngày 15/8/2023.

[2]. ThS. Luật sư Lê Văn Sua (2017), “Bàn về nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015”, https://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=2205, truy cập ngày 15/8/2023.

[3]. Nguyễn Thị Vi Bình, (2020) Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm và thực tiễn tại địa bàn tỉnh Bắc Ninh, Luận văn Thạc sĩ Luật học Trường Đại học Luật Hà Nội, tr. 38.

[4]. Nguyễn Trọng Điệp, Nguyễn Tiến Đạt (2019), “Bảo vệ quyền lợi người tiêu dù̀ng yếu thế trong pháp luật Việt Nam và Đài Loan”, VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 tr. 23 - 30.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 390), tháng 10/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tóm tắt: Chương VII dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) quy định về tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo gần như giữ nguyên nội dung Chương VII Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Tuy nhiên, phân tích từ góc độ liên thông giữa Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 với Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Đất đai năm 2024, cho thấy có một số bất cập, nếu được hoàn thiện trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) sẽ giúp hệ thống pháp luật liên quan đến chế định này được hoàn thiện, đồng bộ hơn.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.

Theo dõi chúng tôi trên: