Thứ tư 22/04/2026 00:22
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm giải trình trong phòng, chống tham nhũng

Trên các phương tiện thông tin đại chúng cũng như trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta thường xuyên nghe nhắc đến cụm từ "trách nhiệm giải trình". Trách nhiệm giải trình có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình quản lý nhà nước.

Cá nhân, tổ chức được giao nhiệm vụ, quyền hạn phải có nghĩa vụ làm sáng tỏ những thông tin liên quan trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Hiện nay, trách nhiệm giải trình đã được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước. Qua bài viết này, độc giả sẽ có cơ hội tìm hiểu rõ hơn về những quan niệm về trách nhiệm giải trình. Đồng thời, tác giả cũng nêu ra một số kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm giải trình trong phòng, chống tham nhũng.

1. Quan niệm về trách nhiệm giải trình

Trách nhiệm giải trình là một thuật ngữ chính trị pháp lý, được du nhập vào nước ta trong quá trình hội nhập, phát triển, nhất là trong công tác phòng, chống tham nhũng (được coi là một trong những trụ cột nhằm phòng chống tham nhũng hiệu quả). Trách nhiệm giải trình là một chế định mang tính phổ quát trong quản trị của các quốc gia phát triển. Trách nhiệm giải trình bản thân nó không chỉ là trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm trong thực thi công vụ, mà hơn hết nó là thứ trách nhiệm chính trị, trách nhiệm đạo đức của người thực thi quyền lực nhà nước. Cho đến nay, về mặt học thuật và pháp lý, vẫn chưa có sự ghi nhận thống nhất khái niệm này. Trong Nghị định số 90/2013/NĐ-CP ngày 08/8/2013 của Chính phủ về trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao (sau đây gọi tắt là Nghị định số 90/2013/NĐ-CP) không đưa ra khái niệm đầy đủ về trách nhiệm giải trình mà chỉ đưa ra khái niệm về giải trình với nghĩa là việc “cơ quan Nhà nước cung cấp, giải thích, làm rõ các thông tin về thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao và trách nhiệm của mình trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đó”. Trong các công trình nghiên cứu, khái niệm “trách nhiệm giải trình” mặc nhiên được hiểu và sử dụng chỉ với một số cấu thành của “giải trình”, bao gồm giải thích, làm rõ.

Giải trình trong nền công vụ thường được nhìn nhận ở nhiều góc độ. Có giải trình ở khía cạnh chính trị - giải trình của các chính khách trước người dân về trách nhiệm của mình đối với các vấn đề thuộc lĩnh vực mình quản lý; có giải trình ở khía cạnh pháp lý đó là giải trình của công chức, viên chức khi để xảy ra các sự việc ảnh hưởng đến tính đúng đắn trong thực thi nhiệm vụ, công vụ. Tuy vậy, về bản chất, nội dung của “giải trình” không thay đổi. Và điều này cũng đúng với giải trình trong tất cả các lĩnh vực khác của đời sống xã hội. Chỉ khi gắn với cụm từ “trách nhiệm”, trạng thái của giải trình mới được nhấn mạnh, thiên về tính chính trị và pháp lý của cá nhân người giải trình. “Trách nhiệm” ở đây được hiểu đó là việc phải làm, mang tính tự thân của chủ thể và cũng là “trách nhiệm” theo quy định buộc phải thực hiện giải thích, trình bày, làm rõ các nội dung giải trình, đi đến tận cùng của vấn đề cần giải trình. Bên cạnh đó còn thể hiện trách nhiệm pháp lý - phải chịu hậu quả về các hành vi của mình.

Khi nghiên cứu khái niệm trách nhiệm giải trình, chúng ta dễ dàng thống nhất về nội dung giải trình gồm: (i) Giải thích, làm rõ các thông tin về thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao; (ii) Trách nhiệm của chủ thể trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đó. Tuy nhiên, điều cần làm rõ ở đây là tính trách nhiệm của việc thực hiện giải trình. Theo cách tiếp cận ở trên, chủ thể thực hiện giải trình bởi chính ý thức đạo đức của họ thôi thúc, buộc phải thực hiện trước cả việc thực hiện do pháp luật quy định. Điều này cho thấy tính trách nhiệm, tính tự giác cao hơn của người thực hiện trách nhiệm giải trình. Tuy nhiên, ý thức này vẫn luôn cần dựa trên quy định pháp luật, trong đó xác định những trường hợp phải giải trình, thời gian, hình thức và nội dung giải trình. Thực hiện trách nhiệm giải trình làm tăng ý thức trách nhiệm trong thực thi nhiệm vụ, công vụ. Qua đó nâng cao chất lượng hoạt động công vụ và hạn chế các hiện tượng tham nhũng, tiêu cực. Xã hội, người dân tiếp cận các thông tin qua việc giải trình sẽ là cơ sở giám sát, phản biện đối với các cơ quan nhà nước, các cán bộ, công chức, viên chức.

Cấu thành của khái niệm trách nhiệm giải trình có một số yếu tố cần làm rõ, bao gồm chủ thể thực hiện trách nhiệm giải trình; căn cứ thực hiện trách nhiệm giải trình; nội dung của việc giải trình.

Chủ thể thực hiện trách nhiệm giải trình theo hướng tiếp cận chung nhất bao gồm cả cơ quan nhà nước (pháp nhân) và cán bộ, công chức, viên chức. Tuy nhiên, theo cách tiếp cận trên về trách nhiệm giải trình, cần xác lập chủ thể thực hiện trách nhiệm giải trình là các cá nhân - cán bộ, công chức, viên chức. Mỗi cá nhân cần có trách nhiệm giải trình đối với việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao. Trách nhiệm của cơ quan nhà nước (pháp nhân) là một thứ trách nhiệm chung, chúng chỉ được xác lập đối với các cơ quan làm việc theo cơ chế tập thể (ủy ban, hội đồng). Khi thực hiện các nhiệm vụ cụ thể, các cơ quan chỉ còn là “cái bóng”, hiện hữu chính là các cá nhân với những hành vi (hành động hoặc không hành động) cụ thể nhằm thực hiện các chức trách, nhiệm vụ được giao.

Căn cứ thực hiện trách nhiệm giải trình về hình thức có thể thấy gồm cả chủ động thực hiện và giải trình khi có yêu cầu (trực tiếp hoặc bằng văn bản). Với cách tiếp cận như ở trên, thì có thể thấy giải trình hoàn toàn là do yêu cầu - yếu tố bên ngoài tác động vào. Việc có văn bản hay yêu cầu giải trình trực tiếp chỉ là các giai đoạn khác nhau của quá trình thực hiện trách nhiệm giải trình mà thôi. Trước hết, người có trách nhiệm giải trình thực hiện giải trình vì các quy phạm đạo đức, quy phạm pháp luật “yêu cầu”. Bản thân các yêu cầu luôn tồn tại, nếu người có trách nhiệm không thực hiện, sẽ dẫn đến người dân, xã hội (báo chí, các tổ chức, nghiệp đoàn…) yêu cầu - bằng văn bản, trực tiếp hoặc thông qua các phương tiện truyền thông... Việc yêu cầu này như là giai đoạn cưỡng chế, buộc phải giải trình.

Nội dung giải trình bao gồm giải trình về việc gì và giải trình như thế nào. Để giải trình là một công cụ góp phần nâng cao hiệu quả thực thi công vụ, thì “giải trình về việc gì” cần được rộng khắp, trên tất cả các lĩnh vực hoạt động của các cơ quan nhà nước. Điều này chỉ bị giới hạn đối với các nội dung thuộc danh mục bí mật được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành. Ngoài danh mục bí mật, tất cả các hoạt động của cơ quan nhà nước đều là đối tượng của yêu cầu giải trình. Việc giải trình cần đưa ra và làm rõ các thông tin liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ, trong đó bao gồm thông tin về cơ sở ra các quyết định và thực hiện các hành vi, thông tin về quá trình thực hiện, thông tin về quyền hạn, trách nhiệm của người thực hiện và những người có liên quan. Việc giải thích, làm rõ này được dựa trên những căn cứ xác thực và người giải trình phải chịu trách nhiệm về việc giải trình của mình.

2. Một số kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm giải trình trong phòng, chống tham nhũng

Nghị định số 90/2013/NĐ-CP đã đưa ra cách tiếp cận về trách nhiệm giải trình, về trình tự, thủ tục thực hiện trách nhiệm giải trình. Tuy nhiên, tinh thần của Nghị định số 90/2013/NĐ-CP đã không thể hiện rõ nét vai trò của trách nhiệm giải trình trong phòng, chống tham nhũng. Nhằm hoàn thiện các quy định về trách nhiệm giải trình tại Nghị định số 90/2013/NĐ-CP, cần nghiên cứu sửa đổi các quy định này theo các nội dung sau:

Thứ nhất, hoàn thiện quy định giải thích về trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước trong thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao

Nghị định số 90/2013/NĐ-CP không đưa ra một quan niệm cụ thể về trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước, mà chỉ đưa ra khái niệm về giải trình. Theo đó, giải trình là việc cơ quan nhà nước cung cấp, giải thích, làm rõ các thông tin về thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao và trách nhiệm của mình trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đó. Việc chỉ đưa ra khái niệm về giải trình đã mất đi phần nhiều ý nghĩa của trách nhiệm giải trình. Cần giải thích cả cụm từ “trách nhiệm giải trình” để thấy thêm được các ý nghĩa trong việc thực hiện giải trình của các cơ quan nhà nước và mối liên hệ của việc thực hiện trách nhiệm giải trình với phòng, chống tham nhũng. Trách nhiệm giải trình không chỉ thuần túy là một thứ trách nhiệm công vụ, trách nhiệm pháp lý mà còn là trách nhiệm chính trị, trách nhiệm đạo đức của những người thực hiện nhiệm vụ, công vụ. Thực hiện trách nhiệm giải trình trước hết phải dựa trên “nhu cầu” thấy “cần” phải thực hiện giải trình của cá nhân người có trách nhiệm chứ không hẳn là thực hiện do yêu cầu của pháp luật. Bên cạnh đó, khái niệm giải trình cũng cần làm rõ hơn “trách nhiệm của mình trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đó” là như thế nào? Chỉ là trách nhiệm theo các quy định của pháp luật hay trách nhiệm đối với những hậu quả thực tế do việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ gây ra?

Khi xây dựng khái niệm “trách nhiệm giải trình” với mối liên hệ và mục đích nhằm phòng, chống tham nhũng, cũng cần tiếp cận khái niệm ở góc độ rộng hơn, tạo cơ sở cho việc quy định các nội dung của trách nhiệm giải trình ở các chương sau của Nghị định số 90/2013/NĐ-CP. Với cách tiếp cận về trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước nhằm phòng, chống tham nhũng, cần mở rộng ra không chỉ là việc thực hiện trách nhiệm giải trình theo yêu cầu của người dân mà còn là thực hiện trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước trước các cơ quan dân cử, bao gồm Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. Việc giải trình của các cơ quan hành chính nhà nước, các cơ quan tư pháp trước Quốc hội, Hội đồng nhân dân cũng chính là giải trình đối với nhân dân, đối với xã hội. Vì đây chính là các cơ quan dân cử, đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước thông qua các cơ quan này. Trên cơ sở đó cần tiếp cận và xây dựng một khái niệm đầy đủ, thể hiện nội dung và vai trò, ý nghĩa của trách nhiệm giải trình nhằm phòng, chống tham nhũng.

Thứ hai, mở rộng phạm vi điều chỉnh của Nghị định số 90/2013/NĐ-CP đối với tất cả các cơ quan nhà nước, thậm chí đối với tất cả các cơ quan hưởng lương từ ngân sách nhà nước

Hiện nay, Nghị định số 90/2013/NĐ-CP chỉ quy định áp dụng đối với các cơ quan hành chính nhà nước và các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc các cơ quan hành chính nhà nước. So với quy định tại Điều 32a của Luật Phòng, chống tham nhũng, đối tượng điều chỉnh của Nghị định số 90/2013/NĐ-CP hẹp hơn. Khoản 1 Điều 32a của Luật Phòng, chống tham nhũng quy định về trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước, tức là đối với cả các cơ quan lập pháp và các cơ quan tư pháp. Trách nhiệm giải trình là một nội dung mới, nên trước mắt chỉ quy định áp dụng đối với các cơ quan hành chính nhà nước và các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc các cơ quan hành chính nhà nước. Và sau một thời gian thực hiện, cần tiến hành tổng kết, đánh giá và mở rộng đối tượng điều chỉnh của Nghị định số 90/2013/NĐ-CP đối với tất cả các cơ quan nhà nước. Ngoài ra, có thể nghiên cứu để tiếp cận rộng hơn là áp dụng trách nhiệm giải trình đối với tất cả các cơ quan, tổ chức có sử dụng ngân sách nhà nước.

Thứ ba, trên cơ sở cách tiếp cận như trên, cần nghiên cứu lồng ghép các quy định về quyền yêu cầu cung cấp thông tin của cơ quan, tổ chức, cá nhân vào các nội dung của trách nhiệm giải trình trong Luật Phòng, chống tham nhũng và Nghị định số 90/2013/NĐ-CP[1].

Thứ tư, quy định trách nhiệm phối hợp trong việc giải trình các nội dung liên quan đến nhiều cơ quan

Trong Nghị định số 90/2013/NĐ-CP chưa có quy định điều chỉnh về mối quan hệ phối hợp giữa các cơ quan có liên quan trong việc giải trình về cùng một nội dung theo yêu cầu. Thực tiễn cho thấy có nhiều nguy cơ dẫn đến có những trường hợp cần có sự phối hợp của nhiều cơ quan trong thực hiện trách nhiệm giải trình. Ví dụ như những vụ việc cùng do nhiều các cơ quan nhà nước phối hợp triển khai thực hiện hoặc việc quản lý nhà nước vừa theo ngành, lĩnh vực, vừa theo lãnh thổ dẫn đến có những vụ việc sẽ liên quan đến nhiều cơ quan. Vì vậy, cần bổ sung nội dung này vào trong Nghị định số 90/2013/NĐ-CP với những quy định mang tính nguyên tắc về sự phối hợp, về trách nhiệm cùng giải trình trước xã hội và các cơ quan dân cử…

Thứ năm, bổ sung các chế tài khi vi phạm trách nhiệm giải trình

Việc thiếu các chế tài cụ thể đã dẫn đến thiếu tính nghiêm túc, hiệu lực của các quy định về trách nhiệm giải trình. Chính vì vậy, cần thiết nghiên cứu đưa ra các chế tài để áp dụng trong các trường hợp có vi phạm trong việc thực hiện các quy định về trách nhiệm giải trình của các cán bộ, công chức, người có thẩm quyền trong các cơ quan nhà nước. Việc tiếp cận trách nhiệm giải trình là một thứ trách nhiệm nửa chính trị - đạo đức, nửa pháp lý, do đó các chế tài cũng cần tính đến điều này, tránh chỉ là các chế tài hành chính thông thường. Có thể nghiên cứu để quy định tại Nghị định số 90/2013/NĐ-CP một số chế tài như: Không được bình xét các danh hiệu thi đua trong năm công tác; không được xem xét giới thiệu ứng cử, bổ nhiệm chức vụ cao hơn trong thời hạn 1 năm; kỷ luật theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức.

Thứ sáu, mở rộng các quy định về giám sát đối với việc thực hiện trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước trong thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao

Với ý nghĩa là một phương thức thực hiện quyền được thông tin của người dân trong phòng, chống tham nhũng, cần có quy định nhằm nâng cao vai trò và sự tham gia của người dân trong bảo đảm thực hiện trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước. Việc quy định cụ thể về trách nhiệm giám sát của người dân, của xã hội đối với các cơ quan nhà nước sẽ thúc đẩy việc thực hiện trách nhiệm giải trình, bao gồm cả giải trình đối với xã hội và giải trình của các cơ quan nhà nước trước các cơ quan dân cử. Chính vì vậy, cần bổ sung quy định này tại Chương IV của Nghị định số 90/2013/NĐ-CP về tổ chức thực hiện và điều khoản thi hành theo hướng các cơ quan nhà nước chịu sự giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và người dân trong việc thực hiện trách nhiệm giải trình.

ThS. Trần Văn Long
Thanh tra Chính Phủ

Tài liệu tham khảo:

[1]. Cụ thể bao gồm các quy định tại Điều 31, 32 của Luật Phòng, chống tham nhũng và các quy định tại Mục 2, Chương 2 của Nghị định số 59/2013/NĐ-CP ngày 17/6/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng. Tại Mục 1 của Chương 2 của Luật Phòng, chống tham nhũng sửa lại là “Công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình” để thấy rõ nội dung bên trong cũng như định hướng về các biện pháp phòng ngừa tham nhũng tập trung vào công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước - hai nội dung quan trọng, hiệu quả trong phòng, chống tham nhũng đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.
Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Bài viết phân tích các vấn đề cốt lõi về hợp đồng tiếp thị liên kết, đánh giá thực tiễn áp dụng và chỉ ra những bất cập trong quy định pháp luật, đặc biệt liên quan đến khái niệm pháp lý, cơ chế giao kết và hiệu lực phụ lục hợp đồng. Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng tiếp thị liên kết, nhằm bảo đảm tính minh bạch, công bằng trong quan hệ hợp đồng và góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của hoạt động tiếp thị liên kết trong môi trường thương mại điện tử tại Việt Nam.
Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự gia tăng của quan hệ hôn nhân xuyên biên giới, vấn đề giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn ngày càng trở nên cấp thiết. Bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá quy định hiện hành về xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch (lex patriae). Qua đó, nhận diện một số bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thực thi nguyên tắc này tại Việt Nam hiện nay.
Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Tóm tắt: Ở Việt Nam, chế định Hội thẩm nhân dân là phương thức thể chế hóa quyền làm chủ của Nhân dân trong hoạt động xét xử. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy, chế định này tồn tại một số hạn chế, dẫn đến sự tham gia của Nhân dân trong nhiều trường hợp còn hình thức. Bài viết phân tích vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử, nhận diện những hạn chế trong quy định pháp luật hiện hành về cơ chế lựa chọn, phân công, tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm pháp lý; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của Hội thẩm nhân dân, đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách tư pháp trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.

Theo dõi chúng tôi trên: