Thứ hai 24/08/2026 13:57
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm giải trình trong phòng, chống tham nhũng

Trên các phương tiện thông tin đại chúng cũng như trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta thường xuyên nghe nhắc đến cụm từ "trách nhiệm giải trình". Trách nhiệm giải trình có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình quản lý nhà nước.

Cá nhân, tổ chức được giao nhiệm vụ, quyền hạn phải có nghĩa vụ làm sáng tỏ những thông tin liên quan trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Hiện nay, trách nhiệm giải trình đã được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước. Qua bài viết này, độc giả sẽ có cơ hội tìm hiểu rõ hơn về những quan niệm về trách nhiệm giải trình. Đồng thời, tác giả cũng nêu ra một số kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm giải trình trong phòng, chống tham nhũng.

1. Quan niệm về trách nhiệm giải trình

Trách nhiệm giải trình là một thuật ngữ chính trị pháp lý, được du nhập vào nước ta trong quá trình hội nhập, phát triển, nhất là trong công tác phòng, chống tham nhũng (được coi là một trong những trụ cột nhằm phòng chống tham nhũng hiệu quả). Trách nhiệm giải trình là một chế định mang tính phổ quát trong quản trị của các quốc gia phát triển. Trách nhiệm giải trình bản thân nó không chỉ là trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm trong thực thi công vụ, mà hơn hết nó là thứ trách nhiệm chính trị, trách nhiệm đạo đức của người thực thi quyền lực nhà nước. Cho đến nay, về mặt học thuật và pháp lý, vẫn chưa có sự ghi nhận thống nhất khái niệm này. Trong Nghị định số 90/2013/NĐ-CP ngày 08/8/2013 của Chính phủ về trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao (sau đây gọi tắt là Nghị định số 90/2013/NĐ-CP) không đưa ra khái niệm đầy đủ về trách nhiệm giải trình mà chỉ đưa ra khái niệm về giải trình với nghĩa là việc “cơ quan Nhà nước cung cấp, giải thích, làm rõ các thông tin về thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao và trách nhiệm của mình trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đó”. Trong các công trình nghiên cứu, khái niệm “trách nhiệm giải trình” mặc nhiên được hiểu và sử dụng chỉ với một số cấu thành của “giải trình”, bao gồm giải thích, làm rõ.

Giải trình trong nền công vụ thường được nhìn nhận ở nhiều góc độ. Có giải trình ở khía cạnh chính trị - giải trình của các chính khách trước người dân về trách nhiệm của mình đối với các vấn đề thuộc lĩnh vực mình quản lý; có giải trình ở khía cạnh pháp lý đó là giải trình của công chức, viên chức khi để xảy ra các sự việc ảnh hưởng đến tính đúng đắn trong thực thi nhiệm vụ, công vụ. Tuy vậy, về bản chất, nội dung của “giải trình” không thay đổi. Và điều này cũng đúng với giải trình trong tất cả các lĩnh vực khác của đời sống xã hội. Chỉ khi gắn với cụm từ “trách nhiệm”, trạng thái của giải trình mới được nhấn mạnh, thiên về tính chính trị và pháp lý của cá nhân người giải trình. “Trách nhiệm” ở đây được hiểu đó là việc phải làm, mang tính tự thân của chủ thể và cũng là “trách nhiệm” theo quy định buộc phải thực hiện giải thích, trình bày, làm rõ các nội dung giải trình, đi đến tận cùng của vấn đề cần giải trình. Bên cạnh đó còn thể hiện trách nhiệm pháp lý - phải chịu hậu quả về các hành vi của mình.

Khi nghiên cứu khái niệm trách nhiệm giải trình, chúng ta dễ dàng thống nhất về nội dung giải trình gồm: (i) Giải thích, làm rõ các thông tin về thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao; (ii) Trách nhiệm của chủ thể trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đó. Tuy nhiên, điều cần làm rõ ở đây là tính trách nhiệm của việc thực hiện giải trình. Theo cách tiếp cận ở trên, chủ thể thực hiện giải trình bởi chính ý thức đạo đức của họ thôi thúc, buộc phải thực hiện trước cả việc thực hiện do pháp luật quy định. Điều này cho thấy tính trách nhiệm, tính tự giác cao hơn của người thực hiện trách nhiệm giải trình. Tuy nhiên, ý thức này vẫn luôn cần dựa trên quy định pháp luật, trong đó xác định những trường hợp phải giải trình, thời gian, hình thức và nội dung giải trình. Thực hiện trách nhiệm giải trình làm tăng ý thức trách nhiệm trong thực thi nhiệm vụ, công vụ. Qua đó nâng cao chất lượng hoạt động công vụ và hạn chế các hiện tượng tham nhũng, tiêu cực. Xã hội, người dân tiếp cận các thông tin qua việc giải trình sẽ là cơ sở giám sát, phản biện đối với các cơ quan nhà nước, các cán bộ, công chức, viên chức.

Cấu thành của khái niệm trách nhiệm giải trình có một số yếu tố cần làm rõ, bao gồm chủ thể thực hiện trách nhiệm giải trình; căn cứ thực hiện trách nhiệm giải trình; nội dung của việc giải trình.

Chủ thể thực hiện trách nhiệm giải trình theo hướng tiếp cận chung nhất bao gồm cả cơ quan nhà nước (pháp nhân) và cán bộ, công chức, viên chức. Tuy nhiên, theo cách tiếp cận trên về trách nhiệm giải trình, cần xác lập chủ thể thực hiện trách nhiệm giải trình là các cá nhân - cán bộ, công chức, viên chức. Mỗi cá nhân cần có trách nhiệm giải trình đối với việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao. Trách nhiệm của cơ quan nhà nước (pháp nhân) là một thứ trách nhiệm chung, chúng chỉ được xác lập đối với các cơ quan làm việc theo cơ chế tập thể (ủy ban, hội đồng). Khi thực hiện các nhiệm vụ cụ thể, các cơ quan chỉ còn là “cái bóng”, hiện hữu chính là các cá nhân với những hành vi (hành động hoặc không hành động) cụ thể nhằm thực hiện các chức trách, nhiệm vụ được giao.

Căn cứ thực hiện trách nhiệm giải trình về hình thức có thể thấy gồm cả chủ động thực hiện và giải trình khi có yêu cầu (trực tiếp hoặc bằng văn bản). Với cách tiếp cận như ở trên, thì có thể thấy giải trình hoàn toàn là do yêu cầu - yếu tố bên ngoài tác động vào. Việc có văn bản hay yêu cầu giải trình trực tiếp chỉ là các giai đoạn khác nhau của quá trình thực hiện trách nhiệm giải trình mà thôi. Trước hết, người có trách nhiệm giải trình thực hiện giải trình vì các quy phạm đạo đức, quy phạm pháp luật “yêu cầu”. Bản thân các yêu cầu luôn tồn tại, nếu người có trách nhiệm không thực hiện, sẽ dẫn đến người dân, xã hội (báo chí, các tổ chức, nghiệp đoàn…) yêu cầu - bằng văn bản, trực tiếp hoặc thông qua các phương tiện truyền thông... Việc yêu cầu này như là giai đoạn cưỡng chế, buộc phải giải trình.

Nội dung giải trình bao gồm giải trình về việc gì và giải trình như thế nào. Để giải trình là một công cụ góp phần nâng cao hiệu quả thực thi công vụ, thì “giải trình về việc gì” cần được rộng khắp, trên tất cả các lĩnh vực hoạt động của các cơ quan nhà nước. Điều này chỉ bị giới hạn đối với các nội dung thuộc danh mục bí mật được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành. Ngoài danh mục bí mật, tất cả các hoạt động của cơ quan nhà nước đều là đối tượng của yêu cầu giải trình. Việc giải trình cần đưa ra và làm rõ các thông tin liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ, trong đó bao gồm thông tin về cơ sở ra các quyết định và thực hiện các hành vi, thông tin về quá trình thực hiện, thông tin về quyền hạn, trách nhiệm của người thực hiện và những người có liên quan. Việc giải thích, làm rõ này được dựa trên những căn cứ xác thực và người giải trình phải chịu trách nhiệm về việc giải trình của mình.

2. Một số kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm giải trình trong phòng, chống tham nhũng

Nghị định số 90/2013/NĐ-CP đã đưa ra cách tiếp cận về trách nhiệm giải trình, về trình tự, thủ tục thực hiện trách nhiệm giải trình. Tuy nhiên, tinh thần của Nghị định số 90/2013/NĐ-CP đã không thể hiện rõ nét vai trò của trách nhiệm giải trình trong phòng, chống tham nhũng. Nhằm hoàn thiện các quy định về trách nhiệm giải trình tại Nghị định số 90/2013/NĐ-CP, cần nghiên cứu sửa đổi các quy định này theo các nội dung sau:

Thứ nhất, hoàn thiện quy định giải thích về trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước trong thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao

Nghị định số 90/2013/NĐ-CP không đưa ra một quan niệm cụ thể về trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước, mà chỉ đưa ra khái niệm về giải trình. Theo đó, giải trình là việc cơ quan nhà nước cung cấp, giải thích, làm rõ các thông tin về thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao và trách nhiệm của mình trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đó. Việc chỉ đưa ra khái niệm về giải trình đã mất đi phần nhiều ý nghĩa của trách nhiệm giải trình. Cần giải thích cả cụm từ “trách nhiệm giải trình” để thấy thêm được các ý nghĩa trong việc thực hiện giải trình của các cơ quan nhà nước và mối liên hệ của việc thực hiện trách nhiệm giải trình với phòng, chống tham nhũng. Trách nhiệm giải trình không chỉ thuần túy là một thứ trách nhiệm công vụ, trách nhiệm pháp lý mà còn là trách nhiệm chính trị, trách nhiệm đạo đức của những người thực hiện nhiệm vụ, công vụ. Thực hiện trách nhiệm giải trình trước hết phải dựa trên “nhu cầu” thấy “cần” phải thực hiện giải trình của cá nhân người có trách nhiệm chứ không hẳn là thực hiện do yêu cầu của pháp luật. Bên cạnh đó, khái niệm giải trình cũng cần làm rõ hơn “trách nhiệm của mình trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đó” là như thế nào? Chỉ là trách nhiệm theo các quy định của pháp luật hay trách nhiệm đối với những hậu quả thực tế do việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ gây ra?

Khi xây dựng khái niệm “trách nhiệm giải trình” với mối liên hệ và mục đích nhằm phòng, chống tham nhũng, cũng cần tiếp cận khái niệm ở góc độ rộng hơn, tạo cơ sở cho việc quy định các nội dung của trách nhiệm giải trình ở các chương sau của Nghị định số 90/2013/NĐ-CP. Với cách tiếp cận về trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước nhằm phòng, chống tham nhũng, cần mở rộng ra không chỉ là việc thực hiện trách nhiệm giải trình theo yêu cầu của người dân mà còn là thực hiện trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước trước các cơ quan dân cử, bao gồm Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. Việc giải trình của các cơ quan hành chính nhà nước, các cơ quan tư pháp trước Quốc hội, Hội đồng nhân dân cũng chính là giải trình đối với nhân dân, đối với xã hội. Vì đây chính là các cơ quan dân cử, đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước thông qua các cơ quan này. Trên cơ sở đó cần tiếp cận và xây dựng một khái niệm đầy đủ, thể hiện nội dung và vai trò, ý nghĩa của trách nhiệm giải trình nhằm phòng, chống tham nhũng.

Thứ hai, mở rộng phạm vi điều chỉnh của Nghị định số 90/2013/NĐ-CP đối với tất cả các cơ quan nhà nước, thậm chí đối với tất cả các cơ quan hưởng lương từ ngân sách nhà nước

Hiện nay, Nghị định số 90/2013/NĐ-CP chỉ quy định áp dụng đối với các cơ quan hành chính nhà nước và các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc các cơ quan hành chính nhà nước. So với quy định tại Điều 32a của Luật Phòng, chống tham nhũng, đối tượng điều chỉnh của Nghị định số 90/2013/NĐ-CP hẹp hơn. Khoản 1 Điều 32a của Luật Phòng, chống tham nhũng quy định về trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước, tức là đối với cả các cơ quan lập pháp và các cơ quan tư pháp. Trách nhiệm giải trình là một nội dung mới, nên trước mắt chỉ quy định áp dụng đối với các cơ quan hành chính nhà nước và các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc các cơ quan hành chính nhà nước. Và sau một thời gian thực hiện, cần tiến hành tổng kết, đánh giá và mở rộng đối tượng điều chỉnh của Nghị định số 90/2013/NĐ-CP đối với tất cả các cơ quan nhà nước. Ngoài ra, có thể nghiên cứu để tiếp cận rộng hơn là áp dụng trách nhiệm giải trình đối với tất cả các cơ quan, tổ chức có sử dụng ngân sách nhà nước.

Thứ ba, trên cơ sở cách tiếp cận như trên, cần nghiên cứu lồng ghép các quy định về quyền yêu cầu cung cấp thông tin của cơ quan, tổ chức, cá nhân vào các nội dung của trách nhiệm giải trình trong Luật Phòng, chống tham nhũng và Nghị định số 90/2013/NĐ-CP[1].

Thứ tư, quy định trách nhiệm phối hợp trong việc giải trình các nội dung liên quan đến nhiều cơ quan

Trong Nghị định số 90/2013/NĐ-CP chưa có quy định điều chỉnh về mối quan hệ phối hợp giữa các cơ quan có liên quan trong việc giải trình về cùng một nội dung theo yêu cầu. Thực tiễn cho thấy có nhiều nguy cơ dẫn đến có những trường hợp cần có sự phối hợp của nhiều cơ quan trong thực hiện trách nhiệm giải trình. Ví dụ như những vụ việc cùng do nhiều các cơ quan nhà nước phối hợp triển khai thực hiện hoặc việc quản lý nhà nước vừa theo ngành, lĩnh vực, vừa theo lãnh thổ dẫn đến có những vụ việc sẽ liên quan đến nhiều cơ quan. Vì vậy, cần bổ sung nội dung này vào trong Nghị định số 90/2013/NĐ-CP với những quy định mang tính nguyên tắc về sự phối hợp, về trách nhiệm cùng giải trình trước xã hội và các cơ quan dân cử…

Thứ năm, bổ sung các chế tài khi vi phạm trách nhiệm giải trình

Việc thiếu các chế tài cụ thể đã dẫn đến thiếu tính nghiêm túc, hiệu lực của các quy định về trách nhiệm giải trình. Chính vì vậy, cần thiết nghiên cứu đưa ra các chế tài để áp dụng trong các trường hợp có vi phạm trong việc thực hiện các quy định về trách nhiệm giải trình của các cán bộ, công chức, người có thẩm quyền trong các cơ quan nhà nước. Việc tiếp cận trách nhiệm giải trình là một thứ trách nhiệm nửa chính trị - đạo đức, nửa pháp lý, do đó các chế tài cũng cần tính đến điều này, tránh chỉ là các chế tài hành chính thông thường. Có thể nghiên cứu để quy định tại Nghị định số 90/2013/NĐ-CP một số chế tài như: Không được bình xét các danh hiệu thi đua trong năm công tác; không được xem xét giới thiệu ứng cử, bổ nhiệm chức vụ cao hơn trong thời hạn 1 năm; kỷ luật theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức.

Thứ sáu, mở rộng các quy định về giám sát đối với việc thực hiện trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước trong thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao

Với ý nghĩa là một phương thức thực hiện quyền được thông tin của người dân trong phòng, chống tham nhũng, cần có quy định nhằm nâng cao vai trò và sự tham gia của người dân trong bảo đảm thực hiện trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước. Việc quy định cụ thể về trách nhiệm giám sát của người dân, của xã hội đối với các cơ quan nhà nước sẽ thúc đẩy việc thực hiện trách nhiệm giải trình, bao gồm cả giải trình đối với xã hội và giải trình của các cơ quan nhà nước trước các cơ quan dân cử. Chính vì vậy, cần bổ sung quy định này tại Chương IV của Nghị định số 90/2013/NĐ-CP về tổ chức thực hiện và điều khoản thi hành theo hướng các cơ quan nhà nước chịu sự giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và người dân trong việc thực hiện trách nhiệm giải trình.

ThS. Trần Văn Long
Thanh tra Chính Phủ

Tài liệu tham khảo:

[1]. Cụ thể bao gồm các quy định tại Điều 31, 32 của Luật Phòng, chống tham nhũng và các quy định tại Mục 2, Chương 2 của Nghị định số 59/2013/NĐ-CP ngày 17/6/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng. Tại Mục 1 của Chương 2 của Luật Phòng, chống tham nhũng sửa lại là “Công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình” để thấy rõ nội dung bên trong cũng như định hướng về các biện pháp phòng ngừa tham nhũng tập trung vào công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước - hai nội dung quan trọng, hiệu quả trong phòng, chống tham nhũng đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.

Theo dõi chúng tôi trên: