Thứ năm 09/04/2026 19:30
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam

Bài viết này trao đổi về các hành vi đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, đồng thời phân tích việc áp dụng các quy định này, từ đó đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật hiện hành về tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam.


Trong những năm gần đây, sự phát triển của công nghiệp đã khiến việc bảo vệ môi trường trở thành một vấn đề được quan tâm đặc biệt trên toàn thế giới. Nhiều quốc gia đã dùng đến luật hình sự trong việc bảo vệ môi trường vì các biện pháp khác như xử phạt hành chính… đã tỏ ra không thỏa đáng hoặc không hiệu quả. Chính phủ Việt Nam cũng đã sử dụng nhiều phương pháp để ngăn chặn và xử lý các hành vi vi phạm các quy định về bảo vệ môi trường như xử phạt hành chính, truy tố hình sự... Trong những biện pháp này, luật hình sự dường như là biện pháp hiệu quả nhất trong việc bảo vệ môi trường với tính chất nghiêm khắc của mình.

1. Một số vấn đề về quản lý chất thải

Hoạt động sinh hoạt và sản xuất của con người luôn làm phát sinh các loại chất thải. Theo quy định tại khoản 12 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 thì “Chất thải là vật chất được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác”. Căn cứ vào tính chất của chất thải, chất thải được chia thành chất thải lỏng, chất thải khí, chất thải rắn, chất thải ở dạng mùi, chất phóng xạ và các dạng hỗn hợp khác. Căn cứ vào nguồn phát sinh chất thải, chất thải được chia thành chất thải sinh hoạt, chất thải công nghiệp, chất thải y tế. Căn cứ vào mức độ tác động của chất thải tới môi trường xung quanh, chất thải được chia thành chất thải thông thường và chất thải nguy hại[1]. Như vậy, chất thải là những chất không sử dụng được nữa và bị loại bỏ trong hoạt động của con người (chủ yếu là hoạt động sản xuất, kinh doanh, sinh hoạt…). Tuy nhiên, việc xác định loại vật chất nào là chất thải không phải giống nhau ở tất cả các hoạt động mà việc xác định chất thải phụ thuộc lớn nhất vào ý chí chủ quan của chủ sở hữu. Chất thải có thể chỉ là vật bỏ đi, không có giá trị sử dụng hoặc tái sử dụng. Tuy nhiên, hiện nay, hầu hết các chất thải phát sinh từ các quá trình tiêu dùng hay sản xuất đều có thể tái sử dụng, tái chế được. Do đó, chất thải của quy trình sản xuất này có thể là nguồn nguyên liệu đầu vào của quá trình sản xuất khác. Vì vậy, khoản 16 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 còn quy định một khái niệm khác: “Phế liệu là vật liệu được thu hồi, phân loại, lựa chọn từ những vật liệu, sản phẩm đã bị loại bỏ từ quá trình sản xuất hoặc tiêu dùng để sử dụng làm nguyên liệu cho một quá trình sản xuất khác”.

Chất thải là nguồn chính gây ô nhiễm môi trường, do vậy, đòi hỏi chủ thể phát tán chất thải hoặc chủ thể quản lý phải có những nghĩa vụ nhất định nhằm bảo đảm tính an toàn. Theo khoản 15 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 thì “Quản lý chất thải là quá trình phòng ngừa, giảm thiểu, giám sát, phân loại, thu gom, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải”.

Trên thế giới, có 02 cách tiếp cận phổ biến được áp dụng trong quản lý chất thải là quản lý chất thải ở cuối đường ống sản xuất (còn gọi là quản lý chất thải ở cuối công đoạn sản xuất) và quản lý chất thải theo đường ống sản xuất (quản lý chất thải trong suốt quá trình sản xuất, dọc theo đường ống sản xuất). Ngoài ra, một số nước phát triển đã có cách tiếp cận mới trong quản lý chất thải, đó là quản lý chất thải nhấn mạnh vào khâu tiêu dùng. Cách này tập trung vào việc nâng cao nhận thức của người tiêu dùng (bao gồm cả các nhà sản xuất) để họ lựa chọn và đòi hỏi các sản phẩm được sản xuất ra phải đạt quy chuẩn, tiêu chuẩn môi trường, phải thân thiện với môi trường và bản thân người tiêu dùng cùng hành động thân thiện với môi trường trong tiêu dùng sản phẩm[2]. Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 đã có quy định mới, toàn diện về quản lý chất thải, theo đó, “chất thải phải được quản lý trong toàn bộ quá trình phát sinh, giảm thiểu, phân loại, thu gom, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và tiêu hủy” (Điều 85). Đối với mỗi loại chất thải khác nhau, căn cứ vào sự tác động của chất thải đó đối với môi trường xung quanh, pháp luật có các quy định khác nhau. Đặc biệt, đối với quản lý chất thải nguy hại, pháp luật có các quy định rất chặt chẽ và chi tiết về điều kiện để quản lý chất thải nguy hại, các yêu cầu về bảo vệ môi trường đối với mỗi công đoạn của quá trình quản lý chất thải. Việc xử lý chất thải nguy hại phải được tiến hành bằng phương pháp, công nghệ, thiết bị phù hợp với đặc tính hóa học, lý học và sinh học của từng loại chất thải nguy hại để đảm bảo đạt tiêu chuẩn môi trường.

2. Quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam

Tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam được quy định tại Điều 239 Bộ luật Hình sự năm 2015. Theo đó, tội phạm này được hiểu là hành vi đưa chất thải hoặc chất thải nguy hại vào lãnh thổ Việt Nam trái pháp luật.

Về khách thể của tội phạm: Hành vi phạm tội này xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về việc quản lý chất thải. Những hành vi xâm phạm các quan hệ xã hội trong lĩnh vực này có khả năng gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường, qua đó có thể gây ô nhiễm môi trường cũng như gây ra nhiều thiệt hại khác cho Nhà nước.

Về chủ thể của tội phạm: Đây là tội có chủ thể thường. Chủ thể của tội phạm này chỉ cần đáp ứng những điều kiện thông thường của mọi chủ thể của tội phạm là năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Ngoài cá nhân thì pháp nhân thương mại cũng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm này.

Về mặt khách quan của tội phạm: Hành vi khách quan của tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam là hành vi đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam trái phép đối với các dạng chất thải sau:

Một là, hành vi đưa vào lãnh thổ Việt Nam trái pháp luật chất thải nguy hại có thành phần nguy hại đặc biệt vượt ngưỡng chất thải nguy hại theo quy định của pháp luật hoặc chất thải nguy hại có chứa chất phải loại trừ theo Phụ lục A Công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy (những dạng chất thải nguy hại này giống với dạng chất thải nguy hại được quy định trong Tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại.

Hai là, hành vi đưa vào lãnh thổ Việt Nam trái pháp luật các chất thải khác.

Hậu quả nguy hiểm cho xã hội không phải là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm của tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam.

Thủ đoạn phạm tội có sự khác biệt trong cách quy định của cấu thành tội phạm tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam trong Bộ luật Hình sự năm 2015 so với Bộ luật Hình sự năm 1999. Trước đây, Điều 185 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định rõ thủ đoạn phạm tội này là lợi dụng việc nhập khẩu công nghệ, máy móc, thiết bị, phế liệu hoặc hóa chất, phế phẩm sinh học hoặc bằng thủ đoạn khác thì hiện nay, Điều 239 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định ngắn gọn hơn và không mô tả thủ đoạn phạm tội. Chủ thể thực hiện hành vi đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam trái pháp luật bằng bất kỳ thủ đoạn gì đều có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam.

Về mặt chủ quan của tội phạm: Mặt chủ quan của tội phạm là diễn biến tâm lý bên trong của người phạm tội bao gồm lỗi, động cơ phạm tội và mục đích phạm tội. Lỗi của người phạm tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam là lỗi cố ý. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi đưa các loại chất thải vào lãnh thổ Việt Nam là hành vi vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện.

3. Thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam và hướng hoàn thiện

Trong những năm gần đây, vấn đề ô nhiễm môi trường và vi phạm pháp luật về môi trường đã đặt ra nhiều thách thức, tiềm ẩn nguy cơ gây mất an ninh trật tự. Quá trình công gnhiệp hóa đất nước dẫn đến nhu cầu lớn về nguyên liệu sản xuất, thúc đẩy mạnh mẽ các hoạt động tái chế, tái sử dụng chất thải làm nguyên liệu sản xuất, từ đó cũng nảy sinh những vấn đề vi phạm pháp luật trong kinh doanh, nhập khẩu phế liệu từ các nước phát triển vào nước ta. Theo Báo cáo môi trường quốc gia năm 2011 của Bộ Tài nguyên và Môi trường thì cả nước có khoảng 160 doanh nghiệp được cấp phép nhập khẩu phế liệu. Trong đó, doanh nghiệp sản xuất, tái chế trực tiếp nhập khẩu phế liệu chiếm khoảng 75%; nhập khẩu để phân phối chiếm khoảng 18%; còn lại là doanh nghiệp nhập khẩu ủy thác. Theo thống kê, tổng số phế liệu nhập khẩu làm nguyên liệu sản xuất năm 2011 vào khoảng hơn 2,9 triệu tấn, chủ yếu là phế liệu sắt, nhựa, giấy, xỉ cát, xỉ slay, thạch cao với nguồn gốc chủ yếu từ Mỹ, Nam Phi, Úc, EU. Hàng năm, có hàng trăm triệu tấn hàng các loại nhập khẩu vào Việt Nam theo con đường chính ngạch. Trong đó, có nhiều mặt hàng có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường như máy móc, thiết bị lạc hậu, cũ, hỏng, hết niên hạn sử dụng; linh kiện điện tử có chứa chất nguy hại vượt ngưỡng[3].

Tuy nhiên, hành vi đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam hầu như không bị xử lý hình sự mặc dù cũng có những trường hợp có vi phạm nghiêm trọng. Nguyên nhân xảy ra tình trạng nhập khẩu chất thải công nghiệp là việc vận chuyển, nhập khẩu “rác” của các nước tiên tiến thải ra mang lại lợi nhuận cao nên nhiều doanh nghiệp, cá nhân trong nước tìm mọi cách ngụy trang dưới nhiều hình thức khác nhau với danh nghĩa hợp pháp để thu lợi bất chính. Chủ thể thường sử dụng thủ đoạn vận chuyển hàng hóa vi phạm vào Việt Nam dưới hình thức ký hợp đồng xuất nhập khẩu hoặc tạm nhập tái xuất sang nước thứ 3. Nội dung hợp đồng, thủ tục khai báo hải quan đều thể hiện là những mặt hàng hợp pháp nhưng thực chất bên trong container là chất thải. Khi bị phát hiện, các doanh nghiệp trong nước đứng tên người nhận lại. Bằng nhiều thủ đoạn tạm nhập, tái xuất, các doanh nghiệp trên đã lén lút vận chuyển hàng hóa vi phạm pháp luật vào lãnh thổ Việt Nam. Như một phản ứng dây chuyền, khi lực lượng chức năng phát hiện, các đơn vị tiếp nhận lô hàng lập tức có công văn từ chối nhận hàng. Việc xử lý các đơn vị xuất khẩu chất thải công nghiệp ở nước ngoài khó có thể thực hiện được vì hầu hết là những doanh nghiệp “ma”. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ “xuất khẩu” rác thải công nghiệp sang Việt Nam hoặc sang nước thứ 3, chúng xóa mọi dấu vết khiến lực lượng chức năng (kể cả Interpol) khó lần ra địa chỉ để xử lý[4]. Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, tính đến tháng 8/2014, tại các cảng container lớn trên cả nước có khoảng 5.450 container lưu bãi nhiều ngày. Thời gian ngắn là khoảng 03 tháng, dài lên đến gần 10 năm. Trong đó, tại cảng Hải Phòng, số container ở dạng này lên tới hơn 5.060 chiếm 95% của cả nước, sau nữa là TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Quảng Ninh[5].

Theo quy định tại Điều 7 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 thì hành vi nhập khẩu, quá cảnh chất thải từ nước ngoài dưới mọi hình thức là hành vi bị nghiêm cấm. Tuy nhiên, hành vi nhập khẩu phế liệu (là vật liệu được thu hồi, phân loại, lựa chọn từ những vật liệu, sản phẩm đã bị loại bỏ từ quá trình sản xuất hoặc tiêu dùng để sử dụng làm nguyên liệu cho một quá trình sản xuất khác) lại được pháp luật cho phép thực hiện. Do đó, nhiều người cho rằng, hành vi nhập khẩu phế liệu có thể được coi là hành vi đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam hợp pháp. Hành vi đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam trái pháp luật chủ yếu được thực hiện thông qua thủ đoạn lợi dụng hành vi hợp pháp này nên việc xác định vi phạm cũng như xử lý là rất khó khăn. Ví dụ, vụ việc bỗng dưng ôm hơn 06 tấn quặng kẽm ở Cảng Hải Phòng: Vào tháng 5/2014, một lô hàng tạm nhập tái xuất được tàu Xinhairong đưa vào cập cảng Hải Phòng và được khai báo là hơn 6.458 tấn quặng kẽm có xuất xứ từ Hàn Quốc để tái xuất sang Trung Quốc. Doanh nghiệp đứng tên nhận lô hàng quặng kẽm trên là Công ty cổ phần Thương mại và dịch vụ STC (thành phố Hải Phòng). Ngay lập tức, Công ty STC ký hợp đồng với cảng Hải Phòng để bốc xếp 6.458 tấn quặng xuống tàu và gửi vào bãi chứa cảng Hải Phòng. Thế nhưng sau đó, lô quặng trên không được đưa ra khỏi cảng Hải Phòng, cứ nằm chình ình giữa khu vực xếp dỡ. Tới ngày 14/8, Cảng Hải Phòng bất ngờ nhận được công văn của Công ty STC với thông báo xin từ bỏ lô hàng quặng kẽm vì lý do không thể liên lạc được với chủ hàng thật ở Trung Quốc cũng như chưa nhận được chứng từ về hàng hóa và các chi phí đã phát sinh cho lô hàng. Hơn 6.458 tấn quặng vô chủ này đã nằm ở cảng gần 06 tháng. Theo tính toán, mỗi tháng Cảng Hải Phòng chịu thất thu khoảng 195 triệu đồng phí lưu bãi vì không thể giải phóng lượng quặng trên để đưa hàng hóa khác vào. Tệ hơn là quặng vô chủ còn gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Sau mỗi lần mưa, Cảng đều phải tổ chức cho hàng chục công nhân đi xúc dọn, bảo vệ số quặng khỏi trôi ra ngoài, gây ách tắc hệ thống thoát nước và làm ô nhiễm môi trường xung quanh. Theo nhiều chuyên gia, đống quặng trên chỉ là một dạng chất thải công nghiệp nặng có tính nguy hại[6].

Theo quy định của pháp luật hiện hành, những hành vi nêu trên có thể bị xử phạt vi phạm hành chính, cụ thể, hành vi này được quy định tại điểm c khoản 5 Điều 25 Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường: “Không tái xuất, chuyển khẩu toàn bộ phế liệu đã được đưa vào lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Tuy nhiên, với số tiền phạt từ 200.000.000 đồng đến 250.000.000 đồng là chưa đủ nghiêm khắc để xử lý cũng như ngăn ngừa những hành vi vi phạm này vì những tác hại của nó gây ra cho môi trường cũng như cho Nhà nước là rất nghiêm trọng.

Như đã phân tích ở trên, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã có những thay đổi trong cấu thành tội phạm của tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam so với Bộ luật Hình sự năm 1999. Tuy nhiên, còn một số vấn đề trong quy định của cấu thành tội phạm của tội phạm này cần được nghiên cứu sửa đổi cho phù hợp hơn với điều kiện thực tế, đặc biệt là phù hợp với pháp luật chuyên ngành:

Thứ nhất, trong cấu thành tội phạm của tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam theo quy định tại Điều 239 Bộ luật Hình sự năm 2015 có dấu hiệu “…đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam trái pháp luật…”. Với quy định này sẽ dẫn đến cách hiểu có trường hợp đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam nhưng phù hợp với quy định của pháp luật. Tuy nhiên, tại khoản 9 Điều 7 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 quy định về những hành vi bị nghiêm cấm trong đó có hành vi “nhập khẩu, quá cảnh chất thải từ nước ngoài dưới mọi hình thức”. Điều đó có nghĩa là, mọi hành vi đưa chất thải từ nước ngoài vào lãnh thổ Việt Nam đều bị nghiêm cấm nên không có hành vi nào đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam lại không trái pháp luật. Mặc dù pháp luật cho phép nhập khẩu phế liệu và theo nhiều quan điểm cho rằng, việc cho phép nhập khẩu phế liệu chính là trường hợp Nhà nước cho phép nhập khẩu chất thải vì phế liệu bản chất chính là chất thải[7]. Tuy nhiên, tác giả không ủng hộ quan điểm này. Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 khi giải thích từ ngữ đã xác định “Chất thải là vật chất được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác” còn “Phế liệu là vật liệu được thu hồi, phân loại, lựa chọn từ những vật liệu, sản phẩm đã bị loại bỏ từ quá trình sản xuất hoặc tiêu dùng để sử dụng làm nguyên liệu cho một quá trình sản xuất khác”. Như vậy, một vật chất có phải là chất thải hay không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của chủ sở hữu (trừ những trường hợp do đặc thù trong hoạt động của mình, chủ sở hữu phải thải bỏ vật chất và hoạt động thải bỏ này mang tính chất bị động đối với chủ sở hữu cũng như đối với đối tượng khác). Một vật chất sẽ được tồn tại dưới dạng chất thải từ khi chủ sở hữu hoặc người sử dụng hợp pháp thải ra cho đến khi nó được đưa vào sử dụng ở một chu trình sản xuất hoặc chu trình sử dụng khác[8]. Pháp luật Việt Nam cũng đưa ra hai thuật ngữ khác nhau để xác định giá trị sử dụng khác nhau là chất thải và phế liệu. Mặc dù phế liệu cũng là vật chất được thải ra từ những hoạt động nhất định nhưng nó lại được sử dụng để làm nguyên liệu cho một hoạt động khác nên hành vi nhập khẩu phế liệu không thể nói đó là hành vi nhập khẩu chất thải. Vì vậy, tác giả cho rằng, không cần quy định dấu hiệu “trái pháp luật” trong hành vi khách quan của tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam.

Thứ hai, cần bổ sung hành vi đưa phế liệu vào lãnh thổ Việt Nam nhưng sau đó không tái xuất, chuyển khẩu toàn bộ phế liệu đã được đưa vào lãnh thổ Việt Nam là một dạng hành vi của tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam. Như đã phân tích ở trên, phế liệu chỉ khác chất thải ở đặc điểm phế liệu được sử dụng làm nguyên liệu cho một hoạt động sản xuất khác. Vì vậy, những phế liệu được đưa vào lãnh thổ Việt Nam nhưng sau đó không chuyển đến được những người chủ sử dụng phế liệu đó thì lúc này phế liệu sẽ là chất thải. Thực tế đã chứng minh trong thời gian vừa qua có rất nhiều trường hợp sau khi phế liệu đã được đưa vào lãnh thổ Việt Nam thì việc tái xuất là không thể thực hiện được dẫn đến hậu quả là môi trường và sức khỏe của con người bị ảnh hưởng, Nhà nước phải mất thời gian, tiền bạc cho việc xử lý.

Thứ ba, để đảm bảo tính răn đe cũng như ngăn ngừa, hạn chế tối đa hành vi vi phạm pháp luật trong việc đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam, tác giả cho rằng, nên bổ sung trường hợp đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam với số lượng dưới mức quy định tại Điều 239 Bộ luật Hình sự năm 2015 nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội phạm này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

TS. Vũ Hải Anh

Đại học Luật Hà Nội





[1]. Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Môi trường, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2015, tr. 84 - 85.

[2]. Đại học Luật Hà Nội, Sđd, 2015, tr. 85 - 86.

[3]. Ngô Ngọc Diễm (2014), Bàn về tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam quy định trong Bộ luật Hình sự, Tạp chí Kiểm sát, số 17 (tháng 9/2014), Hà Nội, tr. 37.

[4]. http://www.baohaiphong.com.vn/channel/4905/201007/Cang-bien-Hai-Phong-truoc-nguy-co-thanh-bai-chat-thai-cong-nghiep-Can-thuoc-tot-de-tri-benh-nang-1975670/.

[5]. http://www.baomoi.com/hang-nghin-container-phe-lieu-tai-cang-hai-phong-luan-quan-chuyen-xu-ly/c/16328016.epi.

[6]. https://moitruong.com.vn/moi-truong-sos/canh-bao-moi-truong/rac-nhap-bua-vay-cang-hai-phong-3815.htm.

[7]. Nguyễn Đức Việt (2011), Quản lý chất thải nguy hại được đưa vào Việt Nam, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 8, Hà Nội, tr. 72.

[8]. Dương Minh Tiến (2015), Tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại trong luật hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sỹ luật học, Hà Nội, tr. 12.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.
Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Bài viết phân tích các vấn đề cốt lõi về hợp đồng tiếp thị liên kết, đánh giá thực tiễn áp dụng và chỉ ra những bất cập trong quy định pháp luật, đặc biệt liên quan đến khái niệm pháp lý, cơ chế giao kết và hiệu lực phụ lục hợp đồng. Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng tiếp thị liên kết, nhằm bảo đảm tính minh bạch, công bằng trong quan hệ hợp đồng và góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của hoạt động tiếp thị liên kết trong môi trường thương mại điện tử tại Việt Nam.
Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự gia tăng của quan hệ hôn nhân xuyên biên giới, vấn đề giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn ngày càng trở nên cấp thiết. Bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá quy định hiện hành về xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch (lex patriae). Qua đó, nhận diện một số bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thực thi nguyên tắc này tại Việt Nam hiện nay.
Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Tóm tắt: Ở Việt Nam, chế định Hội thẩm nhân dân là phương thức thể chế hóa quyền làm chủ của Nhân dân trong hoạt động xét xử. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy, chế định này tồn tại một số hạn chế, dẫn đến sự tham gia của Nhân dân trong nhiều trường hợp còn hình thức. Bài viết phân tích vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử, nhận diện những hạn chế trong quy định pháp luật hiện hành về cơ chế lựa chọn, phân công, tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm pháp lý; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của Hội thẩm nhân dân, đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách tư pháp trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.

Theo dõi chúng tôi trên: