Thứ hai 13/04/2026 09:16
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 về thủ tục tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm

Hoàn thiện quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 về thủ tục tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm

1. Thực trạng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 về thủ tục tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm

1.1. Về trình tự phát biểu khi tranh luận

Điều 217 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định về trình tự phát biểu khi tranh luận. Theo đó, khi bắt đầu phiên tranh luận, kiểm sát viên trình bày lời luận tội, sau đó đến lượt bị cáo trình bày lời bào chữa, nếu bị cáo có người bào chữa thì người này bào chữa cho bị cáo, sau đó mới đến lượt các chủ thể tham gia tranh luận khác đưa ra ý kiến tranh luận. Một số vấn đề cần lưu ý:

Một là, về lời luận tội: Khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định: “Sau khi kết thúc việc xét hỏi tại phiên tòa, kiểm sát viên trình bày lời luận tội, đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ hay một phần nội dung cáo trạng...”. Theo đó, quy định kiểm sát viên đề nghị kết tội theo toàn bộ hay một phần cáo trạng là chưa hợp lý. Vì nó không những là làm cho kiểm sát viên bị bó hẹp vào cáo trạng, trong khi diễn biến tại phiên tòa có thể theo chiều hướng cần kết luận tội danh, khung hình phạt không những là nhẹ hơn, mà còn có thể nặng hơn, hoặc là tội danh khác mà có khung hình phạt bằng với tội đã truy tố. Trong khi bản cáo trạng bao giờ cũng được lập trong đó được đề xuất tội danh và khung hình phạt truy tố, dù Điều 217 không quy định rõ là đề nghị kết tội có bao gồm là cả đề xuất khung hình phạt hay không? Thực tế bản luận tội của ngành kiểm sát lại hoàn toàn khác với quy định tại Điều 217, vì ở đó không những là đề xuất tội danh, khung hình phạt, mà còn đề xuất mức án, hình phạt, trách nhiệm dân sự và những vấn đề cần phải giải quyết khác trong vụ án. Như vậy, trong khi chưa làm sáng tỏ các tình tiết, chứng cứ còn mâu thuẫn nhưng đã đề xuất cụ thể, chi tiết về mức án, chắc chắn sẽ chi phối đến hoạt động xét xử và tuyên án của Hội đồng xét xử. Hơn nữa, nó còn tạo lợi thế cho kiểm sát viên và gây áp lực cho việc thực hiện quyền bào chữa. Điều đó còn làm cho phiên tòa thiếu tính sinh động.

Mặt khác, còn thấy rằng thủ tục tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm đã rất coi trọng bản luận tội của kiểm sát viên - nó được xem là cơ sở cho các bên dựa vào đó tranh biện. Ngay cả trong thủ tục đối đáp, bị cáo, người bào chữa và người tham gia tố tụng khác khi trình bày ý kiến cũng được luật đặt ra là xoay quanh bản luận tội. Điều này chưa hẳn đã tích cực, vì nếu như người tham gia tố tụng đưa ra ý kiến tranh luận mà phụ thuộc, xoay quanh lời luận tội thì họ bị bó hẹp trong vấn đề đánh giá chứng cứ và bị giảm đi lợi thế. Bên cạnh đó, Điều 217 không quy định hình thức luận tội phải bằng văn bản, mà có thể bằng lời nói. Đáng quan tâm là trên thực tế không ít trường hợp kiểm sát viên đọc bản luận tội đã chuẩn bị sẵn, không dựa vào diễn biến của phiên tòa.

Hai là, về lời bào chữa: Lời bào chữa được thực hiện sau lời luận tội của kiểm sát viên. Nếu người bào chữa có mặt tại phiên tòa thì người bào chữa sẽ trình bày lời bào chữa cho bị cáo, bị cáo bào chữa bổ sung. Tuy nhiên, khoản 2 Điều 217 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 đã không đặt ra trường hợp có nhiều người bào chữa cho một bị cáo, thì thực hiện việc trình bày lời bào chữa ra sao? Trường hợp người bào chữa cho bị cáo không có mặt tại phiên tòa, nhưng quan điểm của họ vẫn được thực hiện thông qua bản bào chữa được gửi trước, tuy nhiên lại xảy ra trường hợp quan điểm trong bản bào chữa không phù hợp với quan điểm của bị cáo tại phiên tòa thì giải quyết như thế nào?

Cần lưu ý là trường hợp bị cáo không nhờ người bào chữa, thì họ phải tự bào chữa hoặc lựa chọn phương thức từ chối bào chữa và chủ tọa phiên tòa không buộc bị cáo phải trình bày lời bào chữa. Bên cạnh đó, lưu ý đến trường hợp bào chữa bắt buộc theo khoản 2 Điều 57 Bộ luật Tố tụng hình sự, đó là bị cáo được nhà nước cử người bào chữa, nhưng vẫn cố tình từ chối, mà vẫn không yêu cầu thay đổi, lựa chọn người bào chữa khác. Trường hợp này Bộ luật Tố tụng hình sự chưa đưa ra phương thức xử lý.

1.2. Về thủ tục đối đáp

Sau lời luận tội của kiểm sát viên, lời bào chữa của người bào chữa và ý kiến của bị cáo, người tham gia tố tụng khác, các bên thực hiện việc đối đáp về những tình tiết, chứng cứ còn có mâu thuẫn, xung đột trong quan điểm. Nếu không có hoạt động đối đáp thì mâu thuẫn không được làm rõ, dẫn đến không thể đưa ra các kết luận, đánh giá về những vấn đề cần phải giải quyết trong vụ án. Đối đáp còn tạo cơ hội thuận lợi cho bị cáo và người tham gia tố tụng được lập luận không bị hạn chế về thời gian, được trình bày hết ý kiến và đưa đề xuất của mình; đặc biệt là bên buộc tội phải có trách nhiệm trả lời, giải thích lý do buộc tội, sự khác biệt trong quan điểm từ phía người bào chữa và người bị buộc tội và người tham gia tố tụng khác. Điều 218 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định bắt buộc kiểm sát viên phải đưa ra lập luận đối với từng ý kiến. Về phía người tham gia tranh luận có quyền đáp lại ý kiến của người khác tại phiên tòa. Về phía chủ tọa phiên tòa không được can thiệp vào quá trình tranh luận của các bên, nhưng có quyền cắt những ý kiến không liên quan đến vụ án.

Không thể không lưu ý đến mặt kỹ thuật lập pháp qua việc sử dụng các thuật ngữ tại Điều 218 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 có mâu thuẫn. Đó là Hội đồng xét xử (HĐXX) “có quyền đề nghị” và kiểm sát viên “phải đáp lại”. Nếu chủ tọa phiên tòa đề nghị thì không bắt buộc kiểm sát viên phải thực hiện, nhưng đi đôi với đề nghị lại buộc kiểm sát viên phải đáp lại. Rõ ràng là không hợp lý, vì với nhiệm vụ điều khiển phiên tòa thì HĐXX phải có thẩm quyền độc lập, trực tiếp yêu cầu kiểm sát viên phải đáp lại ý kiến của người tham gia tố tụng, nếu như kiểm sát viên chưa thực hiện đầy đủ. Mặt khác, nội hàm của thuật ngữ “có quyền trình bày ý kiến về luận tội” tại Điều 218 Bộ luật Tố tụng hình sự đã không phản ánh đầy đủ tính chất của cuộc tranh biện gay cấn của người bào chữa đối với luận điểm truy tố của kiểm sát viên.

1.3. Trở lại việc xét hỏi

Trong quá trình tranh luận các bên không được xét hỏi, nhưng HĐXX vẫn có thể quyết định trở lại việc xét hỏi khi cần xem xét thêm chứng cứ. Xét hỏi xong phải tiếp tục tranh luận. Thủ tục này là hết sức cần thiết, vì nếu việc xét hỏi thiếu sót thì phần tranh luận sẽ không toàn diện. Điều 219 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 thể hiện sự bất cập, đó là chỉ xác lập quyền quyết định trở lại xét hỏi thuộc về HĐXX mà không quy định kiểm sát viên, người bào chữa được yêu cầu HĐXX thực hiện việc đó.

1.4. Xem xét việc rút truy tố

Theo quy định tại Điều 221, Điều 217 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 thì cùng với việc luận tội nếu kiểm sát viên rút một phần quyết định truy tố hoặc kết luận về tội nhẹ hơn thì HĐXX vẫn tiếp tục xét xử vụ án. Nếu kiểm sát viên rút toàn bộ quyết định truy tố thì trước khi nghị án HĐXX yêu cầu những người tham gia tố tụng trình bày ý kiến về việc rút đó. Khi nghị án, nếu HĐXX cho rằng việc rút quyết định truy tố đúng đắn thì ra bản án tuyên bị cáo vô tội; nếu thấy bị cáo có tội và rút quyết định truy tố không đúng, thì quyết định tạm đình chỉ việc xét xử và kiến nghị lên kiểm sát viên cấp trên. Điểm bất cập là, khi kiểm sát viên rút quyết định truy tố, nhưng HĐXX vẫn tiếp tục xét xử vụ án hoặc kiến nghị lên kiểm sát viên cấp trên. Đáng lẽ ra, kiểm sát viên rút quyết định truy tố phần nào, thì HĐXX chỉ được xét xử phần còn lại, và nếu kiểm sát viên rút toàn bộ quyết định truy tố thì vụ án phải được tuyên bố bị cáo vô tội, chứ không phải HĐXX lựa chọn là tiếp tục xét xử. Như vậy thẩm quyền của Tòa án trong vấn đề rút quyết định truy tố đã mâu thuẫn với chức năng xét xử. Vì giới hạn xét xử và quyền công tố của kiểm sát viên đặt ra yêu cầu nếu không có buộc tội thì không phát sinh việc xét xử. Ở cơ sở thực tiễn, không nên lo ngại việc rút quyết định truy tố tùy tiện, bởi vì pháp luật tố tụng hình sự đã tạo ra nhiều quy phạm tổng hợp, như quyền kháng cáo, kháng nghị, chế độ kiểm tra, giám sát, trách nhiệm pháp lý ràng buộc đối với người tiến hành tố tụng.

2. Hoàn thiện Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 về các quy định thủ tục tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm

Một là, kiến nghị sửa đổi, bổ sung Điều 217 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 về trình tự phát biểu khi tranh luận: Khoản 1 Điều này quy định rõ kiểm sát viên trình bày lời luận tội trong đó kết luận về tội danh và khung phạt mà bị cáo đã phạm, thay vì quy định cũ là kết tội dựa theo nội dung cáo trạng. Dùng thuật ngữ pháp lý “kết luận” thay cho “đề nghị” là hợp lý hơn, nhằm tránh cho việc kiểm sát viên tạo ra áp lực đến HĐXX và việc thực hiện quyền bào chữa. Vì thực hiện chức năng buộc tội, qua một quá trình đưa ra luận điểm truy tố, hay nói cách khác là bảo vệ cáo trạng, thì kiểm sát viên chỉ nên đưa ra ý kiến kết luận, còn việc kết tội nên để HĐXX cân nhắc một cách khách quan, mà trước đó không nên tạo ra áp lực hay định kiến nào. Cần đề cập thêm rằng trên thực tế tất cả các bản luận tội của kiểm sát viên được trình bày tại phiên tòa hình sự sơ thẩm đều có nội dung đề xuất với HĐXX cả về mức án, cách thức xử lý trách nhiệm dân sự, vật chứng vụ án..., trước khi bước vào cuộc tranh luận, đã gây ra áp lực cho việc thực hiện quyền bào chữa; đồng thời, bổ sung vào khoản 2 Điều 217 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 thủ tục trình bày lời bào chữa đối với nhiều người bào chữa bảo vệ cho một bị cáo. Cụ thể khoản 1, khoản 2 Điều 217 được sửa đổi, bổ sung như sau:

“Điều 217. Trình tự phát biểu khi tranh luận

1. Sau khi kết thúc việc xét hỏi tại phiên tòa. Kiểm sát viên trình bày lời luận tội, kết luận tội danh, khung hình phạt và hành vi bị cáo đã thực hiện; Kiểm sát viên có thể kết luận bị cáo phạm tội khác và khung hình phạt khác với quyết định truy tố, nhưng phải tuân thủ Điều 196 của Bộ luật này về giới hạn của việc xét xử; nếu thấy không có căn cứ buộc tội thì kết luận bị cáo không phạm tội và rút toàn bộ quyết định truy tố.

...

2. Bị cáo trình bày lời bào chữa, nếu bị cáo có người bào chữa thì người này bào chữa cho bị cáo. Trường hợp bị cáo có nhiều người bào chữa thì chủ tọa phiên tòa yêu cầu người bào chữa cử một người trình bày lời bào chữa, người bào chữa khác bổ sung. Bị cáo có quyền bổ sung ý kiến bào chữa”.

Hai là, kiến nghị sửa đổi, bổ sung Điều 218 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 về đối đáp. Theo đó khắc phục thực trạng quy định của Điều luật này đã không ràng buộc được kiểm sát viên phải đáp lại đầy đủ ý kiến của người bào chữa và người tham gia tố tụng khác trong quá trình tranh luận; cũng như nội hàm của thuật ngữ “có quyền trình bày ý kiến về luận tội” đã không phản ánh đầy đủ tính chất của cuộc tranh biện gay cấn của người bào chữa đối với luận điểm truy tố của kiểm sát viên, do đó cần phải thay đổi thuật ngữ này cho phù hợp. Cụ thể Điều 218 được sửa đổi, bổ sung như sau:

“Điều 218. Đối đáp

Bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác có quyền đưa ra ý kiến tranh biện trở lại lời luận tội của kiểm sát viên và đưa ra đề nghị của mình; kiểm sát viên phải đưa ra những lập luận của mình đối với từng ý kiến.

...

Chủ tọa phiên tòa có quyền yêu cầu kiểm sát viên phải đáp lại những ý kiến có liên quan đến vụ án của người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác mà những ý kiến đó chưa được kiểm sát viên đáp lại đầy đủ”.

Ba là, kiến nghị bổ sung Điều 219 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 về trở lại việc xét hỏi. Theo đó bổ sung quy định kiểm sát viên, người bào chữa và người tham gia tố tụng khác được đề nghị HĐXX trở lại việc xét hỏi. Thẩm quyền này không nên chỉ do HĐXX đơn phương áp dụng, mà phải dựa vào đề nghị của các chủ thể đảm trách việc xét hỏi, tranh luận như kiểm sát viên và người bào chữa. Vì họ là các bên chịu trách nhiệm chứng minh tại tòa, do đó họ trực tiếp phát hiện và cần thiết phải trở lại xét hỏi hay không, do đó họ có quyền đề nghị HĐXX quay trở lại xét hỏi, để khắc phục việc xét hỏi thiếu sót, phiến diện. Cụ thể, Điều 219 được bổ sung như sau:

“Điều 219. Trở lại việc xét hỏi

Theo đề nghị của kiểm sát viên, người bào chữa hoặc nếu qua tranh luận mà thấy cần xem xét thêm chứng cứ thì Hội đồng xét xử có thể quyết định trở lại việc xét hỏi. Xét hỏi xong phải tiếp tục tranh luận”.

Bốn là, kiến nghị sửa đổi, bổ sung Điều 221 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 về “Xem xét việc rút quyết định truy tố hoặc kết luận về tội nhẹ hơn”, trên cơ sở loại bỏ Điều 195 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 về “Kiểm sát viên rút quyết định truy tố hoặc kết luận về tội nhẹ hơn tại phiên tòa”. Vì cùng một vấn đề được điều chỉnh tản mạn ở nhiều điều luật là không bảo đảm kỹ thuật lập pháp. Theo đó khắc phục mâu thuẫn về thẩm quyền của Tòa án trong vấn đề rút quyết định truy tố. Đó là kiểm sát viên đã rút quyết định truy tố nhưng HĐXX vẫn tiến hành xét xử là mâu thuẫn với chức năng xét xử. Vì giới hạn xét xử và quyền công tố của Viện kiểm sát đặt ra yêu cầu, nếu không có buộc tội thì không phát sinh việc xét xử. Cụ thể Điều 221 được sửa đổi, bổ sung theo hướng: Nếu kiểm sát viên rút một phần quyết định truy tố thì Tòa án xét xử phần còn lại, nếu kiểm sát viên rút toàn bộ quyết định truy tố thì Tòa án phải tuyên bố bị cáo không phạm tội. Điều 221 được thiết kế như sau:

“Điều 221. Xem xét việc rút quyết định truy tố hoặc kết luận về tội nhẹ hơn

1. Khi kiểm sát viên rút một phần quyết định truy tố thì Hội đồng xét xử xét xử phần còn lại không bị rút; nếu kiểm sát viên kết luận về tội nhẹ hơn tội đã truy tố bị cáo, thì Hội đồng xét xử vẫn tiếp tục xét xử vụ án.

2. Trong trường hợp kiểm sát viên rút toàn bộ quyết định truy tố thì Hội đồng xét xử yêu cầu những người tham gia phiên tòa trình bày ý kiến về việc rút truy tố đó; sau khi những người này đưa ra ý kiến Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo không phạm tội và giải thích cho bị cáo và người tham gia tố tụng khác về quyền được kháng cáo quyết định tuyên bố bị cáo không phạm tội”.

ThS. Nguyễn Ngọc Kiện

Trường Đại học Luật - Đại học Huế

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.
Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Bài viết phân tích các vấn đề cốt lõi về hợp đồng tiếp thị liên kết, đánh giá thực tiễn áp dụng và chỉ ra những bất cập trong quy định pháp luật, đặc biệt liên quan đến khái niệm pháp lý, cơ chế giao kết và hiệu lực phụ lục hợp đồng. Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng tiếp thị liên kết, nhằm bảo đảm tính minh bạch, công bằng trong quan hệ hợp đồng và góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của hoạt động tiếp thị liên kết trong môi trường thương mại điện tử tại Việt Nam.
Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự gia tăng của quan hệ hôn nhân xuyên biên giới, vấn đề giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn ngày càng trở nên cấp thiết. Bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá quy định hiện hành về xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch (lex patriae). Qua đó, nhận diện một số bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thực thi nguyên tắc này tại Việt Nam hiện nay.
Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Tóm tắt: Ở Việt Nam, chế định Hội thẩm nhân dân là phương thức thể chế hóa quyền làm chủ của Nhân dân trong hoạt động xét xử. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy, chế định này tồn tại một số hạn chế, dẫn đến sự tham gia của Nhân dân trong nhiều trường hợp còn hình thức. Bài viết phân tích vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử, nhận diện những hạn chế trong quy định pháp luật hiện hành về cơ chế lựa chọn, phân công, tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm pháp lý; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của Hội thẩm nhân dân, đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách tư pháp trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Theo dõi chúng tôi trên: