Thứ hai 11/05/2026 19:41
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về quyền của bị hại, đương sự khi tham gia phiên tòa hình sự sơ thẩm

Bài viết phân tích những điểm còn hạn chế của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về quyền của bị hại, đương sự khi tham gia tranh tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, từ đó, tác giả đưa ra đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật tố tụng hình sự hiện hành.

Tóm tắt: Bài viết phân tích những điểm còn hạn chế của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về quyền của bị hại, đương sự khi tham gia tranh tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, từ đó, tác giả đưa ra đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật tố tụng hình sự hiện hành.

Abstract: The article analyzes the shortcomings of the 2015 Criminal Procedure Code about the rights of victims and litigants when participating in the litigation at the first-instance trial of a criminal case, from which the author offers proposals to improve the current criminal procedure law provisions.

1. Quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về quyền của bị hại, đương sự khi tham gia phiên tòa hình sự sơ thẩm
1.1. Quyền của bị hại, đương sự tại thủ tục bắt đầu phiên tòa
Thủ tục bắt đầu phiên tòa tạo tiền đề, căn cứ cho việc tranh luận, giúp chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho việc xét hỏi, tranh luận ngay sau đó tại phiên tòa đạt hiệu quả. Theo quy định tại Điều 300, Điều 301, Điều 302 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sau khi thẩm phán chủ tọa phiên tòa khai mạc phiên tòa thực hiện các công việc cần thiết, bị hại và đương sự sẽ được hỏi về việc có yêu cầu thay đổi thẩm phán, hội thẩm, kiểm sát viên, thư ký Tòa án, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật hay không? Trong trường hợp có căn cứ cho rằng, những người này có thể không khách quan, không vô tư trong khi thực hiện nhiệm vụ của mình, đề nghị thay đổi của bị hại, nguyên đơn dân sự sẽ được chấp nhận, vì sự không khách quan, không vô tư đó có thể ảnh hưởng rất nhiều đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ khi tham gia tố tụng. Việc bảo đảm quyền này cho bị hại, đương sự cũng chính là bảo đảm cho việc giải quyết vụ án đúng người, đúng tội, không bỏ lọt tội phạm và cũng không làm oan người vô tội.
Cũng tại thủ tục bắt đầu phiên tòa, những yêu cầu về xem xét chứng cứ, yêu cầu về hoãn phiên tòa khi có người vắng mặt của bị hại, nguyên đơn dân sự cũng sẽ được xem xét, quyết định theo quy định tại Điều 305 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Trong một số trường hợp, ý kiến về việc hoãn phiên tòa có ảnh hưởng đến quyết định của Hội đồng xét xử nếu như Hội đồng xét xử cũng thấy rằng sự vắng mặt của một số người tham gia tố tụng khác có thể ảnh hưởng đến việc tranh luận tại phiên tòa, thì Hội đồng xét xử sẽ quyết định hoãn phiên tòa. Việc giải quyết yêu cầu này sẽ giúp bảo đảm rằng bị hại, đương sự sẽ không bị rơi vào tình huống có những bất lợi về quyền và lợi ích hợp pháp do sự vắng mặt của một số chủ thể gây ra.
Tuy nhiên, quy định tại Điều 302, Điều 305 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 mới chỉ dừng lại ở việc hỏi kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa xem họ có đề nghị thay đổi thẩm phán, hội thẩm, kiểm sát viên, thư ký Tòa án, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật hay không, lý do của việc đề nghị thay đổi; hỏi xem ai có yêu cầu hoãn phiên tòa hay không…, sau đó, Hội đồng xét xử sẽ tự mình xem xét và quyết định. Theo quan điểm của tác giả, quy định này có phần hạn chế quyền được bày tỏ quan điểm của các chủ thể tham gia tranh tụng khác. Tác giả cho rằng, khi có bất kỳ một yêu cầu nào được đưa ra, cần phải hỏi để lấy ý kiến của những người có liên quan. Mục đích là tạo điều kiện để các bên đưa ra quan điểm, lý lẽ của mình về một yêu cầu nào đó xem yêu cầu đó có hợp lý hay không, có căn cứ hay không, tất cả những chủ thể có liên quan có ý kiến như thế nào. Ví dụ, người đề nghị là bị hại thì các chủ thể khác như nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự… có quyền đưa ra ý kiến về đề nghị đó. Từ đó, dựa trên những đánh giá của chính mình, kết hợp với những ý kiến của các chủ thể khác, Hội đồng xét xử đưa ra kết luận. Đây được coi là “nguồn tài liệu” có giá trị tham khảo rất hữu ích dành cho Hội đồng xét xử trước khi đưa ra quyết định của mình để giải quyết tất cả những yêu cầu. Chính vì vậy, việc bổ sung quy định bảo đảm cho chủ thể có liên quan có quyền trình bày ý kiến của mình khi có những đề nghị tại Điều 302, Điều 305 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 là thực sự cần thiết.
1.2. Quyền của bị hại, đương sự tại thủ tục xét hỏi
Thủ tục xét hỏi được ví như cuộc điều tra công khai, được quy định từ Điều 306 đến Điều 318 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Theo quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử, kiểm sát viên và những người khác sẽ đặt câu hỏi trực tiếp cho bị cáo, bị hại, đương sự và những người tham gia tố tụng khác. Tại phiên tòa, tất cả những nội dung được hỏi và trả lời đều diễn ra công khai nhằm mục đích kiểm tra, xác minh tính đúng đắn của những kết quả đã thu thập được trong các giai đoạn trước đó. Đồng thời, kết quả của hoạt động xem xét các chứng cứ, tài liệu, xem xét tại chỗ… được tiến hành trực tiếp tại phiên tòa sẽ là căn cứ cho Hội đồng xét xử ra bản án, quyết định. Như vậy, ở giai đoạn này, sự tham gia của bị hại, đương sự đóng vai trò quan trọng trong việc xác định sự thật khách quan của vụ án. Ngoài ra, trong một số trường hợp, sẽ có thêm sự tham gia tranh tụng của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự. Với nhóm chủ thể này, họ sẽ có thêm những quyền rất khác biệt so với bị hại, đương sự hay người đại diện hợp pháp của họ.
Theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tại thủ tục xét hỏi, bị hại, đương sự, có quyền tham gia phiên tòa đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu; trình bày ý kiến, đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi bị cáo và người khác tham gia phiên tòa… (Điều 62). Bị hại, đương sự quyền đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi thêm về những tình tiết cần làm sáng tỏ (khoản 2 Điều 307); trình bày những tình tiết vụ án có liên quan đến họ; trả lời những câu hỏi được hỏi (Điều 310). Khi cần thiết, kiểm sát viên, người bào chữa, người khác tham gia phiên tòa sẽ cùng với Hội đồng xét xử đến xem xét tại chỗ những vật chứng không thể đưa đến phiên tòa được và có quyền trình bày nhận xét của mình về vật chứng đó (Điều 312). Ngoài ra, họ có thể tham gia xem xét tại chỗ (nơi đã xảy ra tội phạm hoặc địa điểm khác có liên quan đến vụ án) và đưa ra nhận xét của mình về nơi này (Điều 314). Tại phiên tòa, sau khi đại diện các cơ quan, tổ chức trình bày hoặc Hội đồng xét xử công bố báo cáo, tài liệu về những tình tiết của vụ án, bị hại, đương sự có quyền nhận xét về báo cáo, tài liệu đó và hỏi thêm người đại diện của cơ quan, tổ chức, người khác tham gia phiên tòa về những vấn đề có liên quan đến báo cáo, tài liệu đó (Điều 315). Đối với kết luận giám định, định giá tài sản, bị hại, đương sự cũng được quyền đưa ra nhận xét, được hỏi những vấn đề còn chưa rõ hoặc có mâu thuẫn trong các văn bản đó với những tình tiết khác của vụ án (Điều 316).
Như vậy, tại thủ tục xét hỏi, quyền của bị hại, đương sự chủ yếu được giới hạn trong phạm vi đưa ra quan điểm của mình đối với những báo cáo, tài liệu, những kết luận của cơ quan có thẩm quyền… Theo quy định của pháp luật, bản thân họ không được trực tiếp đưa ra những câu hỏi (đối với bị cáo, người làm chứng, đối với những vấn đề có liên quan đến vật chứng). Trong trường hợp bị hại, đương sự, thấy có vấn đề liên quan đến vụ án chưa được làm rõ hoặc có những mâu thuẫn thì họ sẽ có hai lựa chọn: (i) Đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi về những nội dung đó; (ii) Thông qua người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp để thể hiện quan điểm của mình. Cả hai lựa chọn này đều có thể dẫn đến những bất lợi cho bị hại, đương sự khi tham gia thủ tục xét hỏi tại phiên tòa. Cụ thể:
(i) Đối với lựa chọn thứ nhất, bị hại và đương sự sẽ đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi thêm những tình tiết có liên quan đến họ (khoản 2 Điều 309). Đề nghị này có thể được chấp nhận hoặc không. Nếu không được chấp nhận thì họ sẽ không có cơ hội làm rõ những khúc mắc của mình (trong trường hợp yêu cầu, đề nghị là chính đáng). Còn nếu được chấp nhận thì việc truyền tải thông tin cần được hỏi giữa bị hại, đương sự và chủ toạ phiên tòa cũng sẽ khó thể hiện rõ ý, đôi khi mất nhiều thời gian.
(ii) Đối với lựa chọn thứ hai, pháp luật cho phép người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự có quyền đặt câu hỏi đối với bị cáo và những người tham gia tố tụng khác. Thông qua quy định này, có thể hiểu rằng, bị hại, đương sự mặc dù không có quyền trực tiếp đặt câu hỏi nhưng quyền này đã được thực hiện gián tiếp thông qua người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự là người được bị hại, đương sự nhờ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình. Họ có thể là luật sư, người đại diện hợp pháp, bào chữa viên nhân dân, trợ giúp viên pháp lý (Điều 84 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015). Sự tham gia của các chủ thể này sẽ giúp cho bị hại, đương sự được bảo vệ quyền lợi chính đáng một cách tốt nhất. Tuy nhiên, việc quy định quyền gián tiếp như thế này, theo quan điểm của tác giả là “khá cồng kềnh”, mỗi lần có nhu cầu hỏi lại phải thông qua người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp mà không chủ động trong việc tham gia xét hỏi. Không những thế, thực tiễn cho thấy, không phải vụ án hình sự nào cũng có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại, đương sự. Nhiều phiên tòa hình sự, không có sự tham gia của họ, chỉ có bị hại, đương sự đơn phương “chiến đấu”. Việc đơn phương “chiến đấu” có thể đưa đến rất nhiều bất lợi cho họ, pháp luật cần phải “trang bị” cho họ nhiều quyền hơn nữa để có thể tự bảo vệ mình. Khi không có sự tham gia của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cũng đồng nghĩa với việc bị hại, đương sự sẽ không thể hiện được những nội dung mà mình muốn hỏi thông qua việc nhờ người khác.
Theo quan điểm của tác giả, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 không quy định cho bị hại, đương sự quyền được tham gia xét hỏi tại phiên tòa là chưa hợp lý. Đặc biệt, đối với trường hợp vụ án hình sự chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của bị hại (Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015) thì họ chính là người quyết định việc có khởi tố vụ án hình sự hay không. Tại phiên tòa, trong thủ tục tranh luận, bị hại hoặc người đại diện của họ cũng là chủ thể sẽ trình bày lời buộc tội, bổ sung ý kiến sau khi kiểm sát viên trình bày lời luận tội (Điều 320 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015). Như vậy, cùng với kiểm sát viên, bị hại hoặc đại diện của họ sẽ đưa ra những lý lẽ, chứng cứ để buộc tội một người. Có quan điểm cho rằng, kiểm sát viên là chủ thể thực hiện chức năng buộc tội nhân danh Nhà nước tại phiên tòa. Bị hại đã có sự hỗ trợ đắc lực từ phía kiểm sát viên nên việc tham gia xét hỏi của bị hại là không cần thiết, chỉ mình kiểm sát viên tham gia xét hỏi để làm rõ những chứng cứ buộc tội là đủ. Tuy nhiên, kiểm sát viên trình bày lời luận tội, bị hại trình bày lời buộc tội. “Lời buộc tội và lời luận tội hoàn toàn khác nhau. Luận tội có thể có buộc tội hoặc gỡ tội, còn buộc tội thì không thể có gỡ tội”[1]. Vì thế, Viện kiểm sát không thể thực hiện thay cho bị hại được. Trong khi thủ tục xét hỏi giống như một cuộc điều tra công khai để thu thập chứng cứ, làm tiền đề cho việc tranh luận đạt hiệu quả mà pháp luật không quy định cho bị hại hoặc đại diện hợp pháp của bị hại quyền được xét hỏi là chưa hợp lý. Điểm chưa hợp lý này lại càng được nhấn mạnh khi mà Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định cho bị cáo là chủ thể có quyền được hỏi bị hại nhưng lại không cho bị hại quyền được hỏi lại. “Khi được chủ tọa phiên tòa đồng ý, bị cáo có thể hỏi bị hại, đương sự hoặc người đại diện của họ về các vấn đề có liên quan đến bị cáo”[2]. Giữa hai chủ thể có lợi ích đối lập nhau, một bên là chủ thể bị buộc tội (người phạm tội) với một bên là người bị xâm hại mà bên thì được xét hỏi còn một bên thì không thì sẽ khó bảo đảm hoạt động tranh trụng giữa hai chủ thể này diễn ra công bằng.
2. Quyền của bị hại, đương sự tại thủ tục tranh luận
Sau thủ tục xét hỏi công khai là thủ tục tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm. Thủ tục này được quy định từ Điều 320 đến Điều 324 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Theo đó, bị hại, đương sự sẽ đưa ra các lý lẽ và lập luận nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình được ghi nhận tại Điều 62, Điều 63, Điều 64, Điều 65 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Về nội dung tranh luận, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 không có quy định đề cập tới vấn đề này. Khác với ở thủ tục xét hỏi, quyền, nghĩa vụ của bị hại, đương sự được giới hạn trong phạm vi những tình tiết liên quan đến họ. Bị hại, đương sự có quyền đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi thêm những tình tiết có liên quan đến họ. Nếu vụ án có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự thì họ cũng chỉ được hỏi bị cáo về những tình tiết có liên quan đến việc bảo vệ quyền và lợi ích của bị hại, đương sự. Đây là quy định phù hợp, rõ ràng, bảo đảm sự tập trung trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của bị hại, đương sự. Nhờ có sự phân định rõ ràng, thủ tục xét hỏi sẽ được diễn ra nhanh chóng nhưng vẫn bảo đảm giải quyết được những nội dung trọng tâm. Tuy nhiên, đến thủ tục tranh luận, theo quy định tại Điều 322, phạm vi về nội dung tranh luận của bị hại, đương sự nói riêng và các chủ thể khác có thể hiểu là không bị giới hạn. Cụ thể, khi tham gia tranh luận tại phiên tòa, bị hại, đương sự có quyền trình bày ý kiến… và có quyền đưa ra đề nghị của mình. Chủ tọa phiên tòa phải tạo điều kiện cho bị hại, đương sự tranh luận, trình bày hết ý kiến, chỉ có quyền cắt những ý kiến không liên quan đến vụ án và ý kiến lặp lại. Như vậy, chỉ cần bị hại, đương sự phát biểu, trình bày ý kiến có liên quan đến vụ án là sẽ được chấp nhận. Hay nói cách khác, họ sẽ được quyền tranh luận tất cả những vấn đề có liên quan đến vụ án từ bồi thường thiệt hại cho đến tội danh và hình phạt. Kiểm sát viên phải có trách nhiệm đáp lại tất cả những ý kiến của bị hại, đương sự, không kể là ý kiến đó được ai đưa ra và nó liên quan đến nội dung nào của vụ án.
Tác giả cho rằng, quy định này chưa hợp lý, bởi vì có rất nhiều chủ thể tham gia tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm với mục đích khác nhau: Bị cáo, bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền và nghĩa vụ liên quan đến vụ án… vì thế phạm vi quyền và nghĩa vụ của mỗi chủ thể được Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 ghi nhận khác nhau. Nếu như nguyên đơn dân sự tham gia tố tụng hình sự để đòi bồi thường thiệt hại, thì bị đơn dân sự tham gia để có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra. Họ tham gia tố tụng để giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự. Cho nên, quyền và nghĩa vụ của họ sẽ bị giới hạn trong phạm vi có liên quan đến bồi thường thiệt hại. Còn người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, quyền, nghĩa vụ của họ sẽ được giới hạn ở những nội dung có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của họ. Việc quy định cho nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự… có thể trình bày tất cả những vấn đề có liên quan đến vụ án sẽ mất rất nhiều thời gian và không cần thiết.
Về trình tự phát biểu khi tranh luận, Điều 320 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định, sau khi kiểm sát viên trình bày lời luận tội sẽ đến lượt bị cáo trình bày lời bào chữa, người bào chữa trình bày lời bào chữa cho bị cáo; sau đó đến bị hại, đương sự... trình bày ý kiến. Trong trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của bị hại thì bị hại hoặc người đại diện của họ trình bày ngay sau kiểm sát viên. Tác giả cho rằng, quy định về trình tự phát biểu khi tranh luận như này là chưa hợp lý. Bởi lẽ, khi trình bày lời bào chữa, bị cáo phải thể hiện quan điểm của mình không chỉ với lời luận tội của kiểm sát viên mà còn cả đối với ý kiến của bị hại, đương sự. Cho nên, cần phải “thiết kế” lại trình tự phát biểu khi tranh luận tại phiên tòa.
3. Đề xuất hoàn thiện quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự bảo đảm quyền của bị hại, đương sự khi tham gia tranh tụng tại phiên tòa
3.1. Bổ sung quyền trình bày ý kiến của các chủ thể tại Điều 302, Điều 305
Cần bổ sung quyền trình bày ý kiến của các chủ thể có liên quan nếu có yêu cầu được đưa ra theo quy định tại Điều 302, Điều 305 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tại thủ tục bắt đầu phiên tòa. Cụ thể:
“Điều 302. Giải quyết việc đề nghị thay đổi thẩm phán, hội thẩm, kiểm sát viên, thư ký Tòa án, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật
Chủ tọa phiên tòa phải hỏi kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa xem họ có đề nghị thay đổi thẩm phán… hay không, lý do của việc đề nghị thay đổi. Nếu có người đề nghị thì Hội đồng xét xử hỏi ý kiến của những người có liên quan rồi xem xét, quyết định”.
“Điều 305. Giải quyết yêu cầu về xem xét chứng cứ và hoãn phiên tòa khi có người vắng mặt
Chủ tọa phiên tòa phải hỏi kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa xem có ai yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng hoặc yêu cầu đưa thêm vật chứng, tài liệu ra xem xét hay không… nếu có người yêu cầu thì Hội đồng xét xử hỏi ý kiến của những người có liên quan rồi xem xét, quyết định”.
3.2. Bổ sung quyền được hỏi bị cáo của bị hại tại Điều 309
“Điều 309. Hỏi bị cáo
1. …
2. …
3. …
Khi được chủ tọa phiên tòa đồng ý, bị hại có thể hỏi bị cáo, người đại diện của bị cáo về các vấn đề có liên quan đến họ”.
3.3. Sửa đổi Điều 320 về trình tự phát biểu khi tranh luận
Cần quy định lại trình tự phát biểu khi tranh luận theo thứ tự: Kiểm sát viên trình bày lời luận; bị hại (người đại diện của bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại); đương sự, người đại diện của họ trình bày ý kiến...; cuối cùng mới đến bị cáo trình bày lời bào chữa, người bào chữa trình bày lời bào chữa cho bị cáo. Như vậy, sẽ bảo đảm phù hợp với logic của trình tự tranh luận và không kéo dài thời gian cuộc tranh luận giữa các bên.
3.4. Sửa đổi quy định tại Điều 322 về thủ tục tranh luận tại phiên tòa
“Điều 322. Tranh luận tại phiên tòa
1. Bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác có quyền trình bày ý kiến về những tình tiết có liên quan đến họ; ….
2. …
Người tham gia tranh luận có quyền đáp lại ý kiến của người khác có liên quan đến họ”.

ThS. Ngô Thị Vân Anh
Trường Đại học Luật Hà Nội



[1]. Đinh Văn Quế, Thủ tục xét xử sơ thẩm trong luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 199.
[2]. Điều 310 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.

Theo dõi chúng tôi trên: