Thứ bảy 02/05/2026 18:19
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện quy định của Luật Đất đai năm 2013 về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất

Hoàn thiện quy định của Luật Đất đai năm 2013 về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất

Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu làm rõ một số quy định pháp luật liên quan đến quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất theo Luật Đất đai năm 2013, đồng thời chỉ ra những điểm còn bất cập, hạn chế trong các quy định về vấn đề này, từ đó, đề xuất sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai hiện hành.

Abstract: The article focuses on clarifying a number of legal provisions related to the rights and obligations of land users under the 2013 Land Law, and at the same time points out shortcomings and limitations in regulations on this issue, thereby proposing amendments and supplements to the current Land Law.

Trong hơn 08 năm Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực, các quy định về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất ngày càng được hoàn thiện, quy định rõ ràng, đầy đủ hơn về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất, góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng của người sử dụng đất trước pháp luật, đồng thời hạn chế được số lượng đơn khiếu nại, tố cáo, kiện tụng của người dân, giảm thiểu được vấn nạn tham nhũng trong lĩnh vực đất đai. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực trên thì trong thực tiễn thi hành pháp luật về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất vẫn còn một số bất cập, hạn chế ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng của người sử dụng đất, gây khó khăn cho cơ quan nhà nước trong việc thực thi pháp luật. Chính vì vậy, việc nghiên cứu và hoàn thiện các quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất để bảo đảm tốt nhất quyền và lợi ích chính đáng của người sử dụng đất, nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật, giải quyết các khó khăn cho cơ quan nhà nước trong việc áp dụng thống nhất pháp luật trong bối cảnh Luật Đất đai sửa đổi là điều quan trọng, cấp thiết trong bối cảnh hiện nay.

1. Thực trạng quy định pháp luật về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất

Trong thời gian qua, pháp luật về đất đai đã đạt được những kết quả khả quan, tạo ra được một hành lang pháp lý chặt chẽ, minh bạch và đồng bộ trong công tác quản lý đất đai của Nhà nước. Các quy định về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất đã được gia tăng và ngày càng chặt chẽ hơn, tạo nên khung pháp lý để thị trường bất động sản vận hành và phát triển, đáp ứng được nhu cầu giao dịch của người dân, cũng như doanh nghiệp kinh doanh[1]. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, kết quả khả quan đã đạt được, các quy định về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất đã bộc bộ một số hạn chế, tồn tại nhất định gây ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng của người sử dụng đất, các quy định về các quyền giao dịch của người sử dụng đất còn chưa thực sự rõ ràng dẫn đến việc nhiều cách hiểu khác nhau và áp dụng pháp luật không thống nhất giữa các cơ quan nhà nước, một số vấn đề chưa quy định cụ thể hoặc khó hiểu gây khó khăn cho doanh nghiệp trong việc tìm hiểu pháp luật. Thực trạng này đã phần nào phản ánh được những hạn chế còn tồn tại trong việc áp dụng pháp luật về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất. Cụ thể:

Một là, có sự mâu thuẫn trong quy định về quyền chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân trong cùng một xã, phường, thị trấn với hộ gia đình cá nhân khác. Mục 3 Chương XI Luật Đất đai năm 2013 quy định, đối với hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp được Nhà nước giao đất trong hạn mức (giao đất không thu tiền sử dụng đất), đất được Nhà nước giao có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê, được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất; đất nhận chuyển đổi, nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho, nhận thừa kế thì có quyền chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp trong cùng một xã, phường, thị trấn với hộ gia đình cá nhân khác. Tuy nhiên, Điều 190 Luật Đất đai năm 2013 lại quy định: “Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp do được Nhà nước giao đất, do chuyển đổi, nhận chuyển nhượng, nhận thừa kế, được tặng cho quyền sử dụng đất hợp pháp từ người khác thì chỉ được chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp trong cùng xã, phường, thị trấn cho hộ gia đình, cá nhân khác…”, theo đó, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp do được Nhà nước cho thuê sẽ không được chuyển đổi quyền sử dụng đất. Như vậy, với chủ thể là hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất với hình thức được Nhà nước cho thuê đất thì có sự quy định khác nhau giữa Điều 179 và Điều 190 Luật Đất đai năm 2013, theo đó, Điều 179 cho phép được chuyển đổi quyền sử dụng đất, còn Điều 190 thì không cho phép. Việc quy định mâu thuẫn giữa các điều luật trong cùng một văn bản pháp luật như vậy sẽ gây ảnh hưởng đến việc áp dụng thống nhất pháp luật giữa các cơ quan nhà nước, cũng như không bảo đảm được quyền và lợi ích chính đáng của người dân, gây khó khăn cho người dân trong việc tìm hiểu và tuân thủ pháp luật.

Hai là, chưa có quy định cụ thể về phạm vi cho thuê đất của tổ chức kinh tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Đối với chủ thể là hộ gia đình, cá nhân thì Luật Đất đai năm 2013 có quy định cụ thể về phạm vi cho thuê gồm: “... Cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân khác, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư tại Việt Nam thuê quyền sử dụng đất”[2]. Theo đó, những chủ thể được quyền thuê đất của hộ gia đình, cá nhân chỉ có tổ chức, hộ gia đình, cá nhân khác, người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Còn doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì không được thuê đất của hộ gia đình, cá nhân. Tuy nhiên, đối với các chủ thể sử dụng đất là người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì Luật Đất đai năm 2013 không có quy định cụ thể về phạm vi cho thuê đất. Việc quy định thiếu sót như vậy sẽ gây khó khăn cho doanh nghiệp trong việc áp dụng pháp luật bởi họ có thể không biết nếu pháp luật không quy định thì có nghĩa là tất cả các chủ thể sử dụng đất đều có thể thuê đất từ các chủ thể trên hay có hạn chế với đối tượng nào hay không, điều này sẽ khiến cho các doanh nghiệp lúng túng, quan ngại trong việc thực hiện quyền cho thuê đất của mình trên thực tiễn, chưa thực sự bảo đảm được quyền lợi chính đáng của các chủ thể sử dụng đất là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân khác, người Việt Nam định cư ở nước ngoài.

Ba là, quy định về hộ gia đình, cá nhân không trực tiếp sản xuất nông nghiệp thì không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất trồng lúa (khoản 3 Điều 191 Luật Đất đai năm 2013) còn chưa thực sự phù hợp với thực tiễn[3]. Quy định này hạn chế các chủ thể không trực tiếp sản xuất nông nghiệp sở hữu quá nhiều diện tích đất nông nghiệp, dẫn đến đất nông nghiệp không được sử dụng phù hợp cũng như khai thác hiệu quả giá trị của loại đất trên, đồng thời cũng gây thiếu hụt loại đất này cho những chủ thể thực sự cần để sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, ở các địa phương hiện nay, nguồn gốc của đất nông nghiệp đa phần là do được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất, phong tục tập quán sản xuất nông nghiệp gắn liền với nhà ở[4], dẫn đến việc người trực tiếp sản xuất nông nghiệp và người không trực tiếp sản xuất đất nông nghiệp đều sinh sống trong cùng một khu vực[5]. Hơn nữa, đối với những đối tượng có trình độ chuyên môn cao và có khả năng nghiên cứu, áp dụng khoa học kỹ thuật vào lĩnh vực nông nghiệp, nâng cao năng suất lao động, phát triển kinh tế thì họ lại bị hạn chế quyền giao dịch về nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất trồng lúa. Bên cạnh đó, những người trực tiếp sản xuất nông nghiệp từ lâu đời thì đa phần họ chỉ biết sản xuất thủ công, áp dụng máy móc còn hạn chế, chưa nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm. Vì vậy, việc quy định hạn chế quyền sử dụng đất trồng lúa trên đã phần nào hạn chế sự phát triển kinh tế và sự sáng tạo, áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến vào ngành nông nghiệp của nước ta.

Bốn là, chưa quy định cụ thể về quyền lựa chọn hình thức trả tiền thuê đất của người sử dụng đất[6]. Cụ thể, Điều 172 Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Tổ chức kinh tế, tổ chức sự nghiệp công lập tự chủ tài chính, hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật này được lựa chọn hình thức thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm hoặc thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê”, đồng thời “thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm được chuyển sang thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê”. Theo đó, đối với các chủ thể kinh tế, tổ chức sự nghiệp công lập tự chủ tài chính, hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì được lựa chọn hình thức thuê đất, đồng thời, nếu thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm được chuyển sang thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê. Tuy nhiên, Luật không quy định là số lần được chuyển đổi giữa các hình thức thuê đất. Điều này dẫn đến, các chủ thể lựa chọn hình thức thuê đất một cách tùy tiện bởi Luật không quy định rõ về giới hạn số lần được chuyển đổi hình thức thuê đất. Hơn nữa, việc các chủ thể này thay đổi hình thức thuê đất liên tục như vậy gây phiền hà, rắc rối cho cơ quan nhà nước cũng như không bảo đảm được quyền lợi chính đáng của các bên trong giao dịch. Bên cạnh đó, đối với trường hợp các chủ thể trên đang thuê đất với hình thức thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê thì có được chuyển sang hình thức thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm hay không thì Luật chưa quy định. Điều này gây lúng túng cho các chủ thể cũng như cơ quan nhà nước trong việc xác định các quyền lợi, nghĩa vụ của người sử dụng đất, dẫn đến việc áp dụng pháp luật không thống nhất giữa các cơ quan nhà nước.

Năm là, chưa có sự thống nhất về nội dung của pháp luật liên quan đến lĩnh vực đất đai trong hệ thống pháp luật. Hiện nay, một số vấn đề trong lĩnh vực đất đai nói chung và các quy định về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất nói riêng vẫn còn có mâu thuẫn giữa các văn bản pháp luật. Ví dụ: Theo khoản 3 Điều 1 Luật Đấu thầu năm 2013 và khoản 1 Điều 1 Nghị định số 25/2020/NĐ-CP ngày 28/02/2020 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà đầu tư quy định các dự án đầu tư có sử dụng đất bắt buộc phải được đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư. Tuy nhiên, tại Điều 188 Luật Đất đai năm 2013 quy định, đầu tư xây dựng nhà ở để bán hoặc cho thuê hoặc cho thuê mua, đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng để chuyển nhượng hoặc cho thuê… thì việc giao đất, cho thuê đất thông qua đấu giá quyền sử dụng đất[7]. Hoặc, theo quy định khoản 7 Điều 49 Luật Đất đai năm 2013 thì: “Trường hợp quy hoạch sử dụng đất đã được công bố mà chưa có kế hoạch sử dụng đất hằng năm của cấp huyện thì người sử dụng đất được tiếp tục sử dụng và được thực hiện các quyền của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật”. Cũng liên quan đến vấn đề này, theo quy định tại khoản 2 Điều 91, điểm a khoản 1 Điều 93, khoản 2 Điều 94 Luật Xây dựng năm 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), đối với điều kiện cấp phép các công trình xây dựng trong đô thị, nhà riêng lẻ và cấp phép xây dựng có thời hạn thì phải “phù hợp với mục đích sử dụng đất theo quy hoạch sử dụng đất được phê duyệt”[8]. Như vậy, điều kiện cấp phép các công trình xây dựng trong đô thị, nhà riêng lẻ và cấp phép xây dựng có thời hạn mà chưa có kế hoạch sử dụng đất hằng năm của cấp huyện thì theo Luật Đất đai năm 2013, người sử dụng đất được tiếp tục sử dụng và được thực hiện các quyền của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật, tuy nhiên, với quy định tại Luật Xây dựng năm 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) thì không được phép, dẫn đến tình trạng các địa phương không thể tiến hành cấp giấy phép xây dựng đối với các công trình này…

2. Một số kiến nghị

Nhằm khắc phục một số vấn đề còn hạn chế, bất cập trong các quy định về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất, góp phần nâng cao chất lượng áp dụng pháp luật về đất đai, bảo đảm quyền, lợi ích chính đáng của các chủ thể sử dụng đất, theo tác giả, cần tiếp tục nghiên cứu, thực hiện một số giải pháp theo hướng:

Một là, cần thống nhất giữa các quy định trong Luật Đất đai năm 2013 về quyền chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân trong cùng một xã, phường, thị trấn với hộ gia đình cá nhân khác. Đối với trường hợp hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất với hình thức được Nhà nước cho thuê đất thì có cho phép quyền chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp hay không, với vấn đề này, cần có sự thống nhất giữa hai quy định trong cùng một văn bản pháp luật, cụ thể là, tại Điều 179 Luật Đất đai năm 2013 quy định quyền và nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân và Điều 190 Luật Đất đai năm 2013 quy định điều kiện chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp. Theo tác giả, nên quy định rõ Điều 179 Luật Đất đai năm 2013 theo hướng không cho phép hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất với hình thức được Nhà nước cho thuê đất có quyền chuyển đổi quyền sử dụng đất. Bởi lẽ, Điều 190 Luật Đất đai năm 2013 quy định cụ thể về các điều kiện được chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp, còn Điều 179 Luật Đất đai năm 2013 là quy định về các quyền và nghĩa vụ chung của hộ gia đình cá nhân sử dụng đất nông nghiệp. Do đó, đối với quyền chuyển đổi quyền sử dụng đất thì sẽ quy định chặt chẽ, cụ thể và chính xác hơn nên căn cứ vào Điều 190 Luật Đất đai năm 2013. Tuy nhiên, để tránh tình trạng gây khó khăn, lúng túng, nhầm lẫn khi các chủ thể, cũng như cơ quan nhà nước áp dụng pháp luật thì cần quy định rõ ràng hơn tại Điều 179 Luật Đất đai năm 2013 đối với quyền chuyển đổi quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân. Có như vậy, sẽ giải quyết được tình trạng áp dụng pháp luật không thống nhất giữa các cơ quan nhà nước, cũng như bảo đảm được quyền lợi chính đáng của người dân trong các giao dịch quyền sử dụng đất.

Hai là, cần quy định cụ thể, rõ ràng về phạm vi cho thuê đất của tổ chức kinh tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Hiện nay, pháp luật đất đai còn bỏ ngỏ về phạm vi cho thuê của các chủ thể là tổ chức kinh tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Đây là những chủ thể đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế nói chung và trong lĩnh vực đất đai nói riêng. Do đó, cần có những quy định rõ ràng và cụ thể hơn về những đối tượng này, bảo đảm được quyền lợi chính đáng của doanh nghiệp, cũng như giải quyết được tình trạng lúng túng, quan ngại trong việc các chủ thể thực hiện quyền cho thuê của mình trên thực tiễn. Đồng thời, cần xây dựng một hệ thống pháp luật đất đai hoàn thiện hơn nhằm tạo niềm tin cho các doanh nghiệp đầu tư vào thị trường đất đai ở Việt Nam.

Ba là, nên bãi bỏ quy định hộ gia đình, cá nhân không trực tiếp sản xuất nông nghiệp thì không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất trồng lúa[9]. Theo đó, đối với thực tiễn hiện nay, việc quy định như vậy dường như đang hạn chế sự phát triển của nền nông nghiệp nói riêng và nền kinh tế của Việt Nam nói chung. Xu hướng thế giới hiện nay về phát triển nông nghiệp là đang cố gắng nghiên cứu áp dụng khoa học kỹ thuật vào trong ngành nông nghiệp, đặc biệt là trồng lúa nước, góp phần nâng cao năng suất cây trồng, giảm bớt lao động chân tay thay bằng máy móc, tạo ra nhiều giống cây trồng mới mang sản lượng và chất lượng tốt hơn. Tuy nhiên, việc pháp luật quy định chỉ những hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp mới được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất trồng lúa dẫn đến hạn chế đối tượng có trình độ chuyên môn cao, có khả năng nghiên cứu và áp dụng khoa học kỹ thuật vào lĩnh vực nông nghiệp. Đồng thời, hiện nay, các đối tượng trực tiếp và không trực tiếp sản xuất nông nghiệp đều cùng sinh sống trên một khu vực nhất định[10], do đó, nếu quy định như vậy sẽ gây khó khăn trong việc tìm kiếm đối tượng phù hợp khi muốn giao dịch mua bán đất.

Bốn là, cần có quy định cụ thể về quyền lựa chọn hình thức trả tiền thuê đất của người sử dụng đất. Theo quy định tại Điều 172 Luật Đất đai năm 2013, các chủ thể kinh tế, tổ chức sự nghiệp công lập tự chủ tài chính, hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được lựa chọn hình thức thuê, đồng thời cũng được chuyển đổi giữa hai hình thức thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm và thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê mà không giới hạn số lần chuyển đổi. Do đó, để hạn chế tình trạng các doanh nghiệp lựa chọn hình thức thuê đất một cách tùy tiện và thay đổi hình thức thuê đất liên tục gây phiền hà, rắc rối cho cơ quan nhà nước, cần có quy định cụ thể hơn về số lần các doanh nghiệp được chuyển đổi. Đồng thời, pháp luật cũng cần quy định rõ chủ thể trên đang thuê đất với hình thức thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê, có được phép chuyển sang hình thức thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm hay không.

Năm là, cần có sự thống nhất về nội dung liên quan đến lĩnh vực đất đai trong hệ thống pháp luật bởi hiện nay, hệ thống pháp luật đất đai liên quan đến nhiều đạo luật thuộc các lĩnh vực khác như đầu tư, xây dựng, hôn nhân và gia đình… Có như vậy mới giải quyết được tình trạng mâu thuẫn, chồng chéo giữa các văn bản quy phạm pháp luật về các vấn đề trong lĩnh vực đất đai, từ đó bảo đảm được quyền và lợi ích của người sử dụng đất.

ThS. Trần Linh Huân

Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

ThS. Phạm Thị Hồng Tâm

Trường Đại học Phan Thiết

[1]. Tổng Cục quản lý đất đai (2021), “Định hướng hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả về quản lý, sử dụng đất đai”, https://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=2609, truy cập ngày 14/12/2022.

[2]. Điểm d khoản 1 Điều 179 Luật Đất đai năm 2013.

[3]. Trần Thúy Phượng, “Những bất cập, vướng mắc trong thi hành Luật Đất đai nhìn từ góc độ quản lý”, https://phaply.net.vn/nhung-bat-cap-vuong-mac-trong-thi-hanh-luat-dat-dai-nhin-tu-goc-do-quan-ly-a253458.html, truy cập ngày 14/12/2022.

[4]. Trần Thúy Phượng, tlđd.

[5]. Trần Thúy Phượng, tlđd.

[6]. Trần Thúy Phượng, tlđd.

[7]. Gia Nguyễn, “Rà soát pháp luật: Điểm mâu thuẫn giữa Luật Đấu thầu và Luật Đất đai”, https://tapchitaichinh.vn/tai-chinh-phap-luat/ra-soat-phap-luat-diem-mau-thuan-giua-luat-dau-thau-va-luat-dat-dai-338636.html, truy cập ngày 14/12/2022.

[8]. Trần Thúy Phượng, tlđd.

[9]. Khoản 3 Điều 191 Luật Đất đai năm 2013.

[10]. Trần Thúy Phượng, tlđd.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Số 374, tháng 2/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tóm tắt: Chương VII dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) quy định về tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo gần như giữ nguyên nội dung Chương VII Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Tuy nhiên, phân tích từ góc độ liên thông giữa Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 với Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Đất đai năm 2024, cho thấy có một số bất cập, nếu được hoàn thiện trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) sẽ giúp hệ thống pháp luật liên quan đến chế định này được hoàn thiện, đồng bộ hơn.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.

Theo dõi chúng tôi trên: