Thứ tư 23/09/2026 01:19
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện quy định của Luật Đất đai năm 2013 về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất

Hoàn thiện quy định của Luật Đất đai năm 2013 về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất

Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu làm rõ một số quy định pháp luật liên quan đến quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất theo Luật Đất đai năm 2013, đồng thời chỉ ra những điểm còn bất cập, hạn chế trong các quy định về vấn đề này, từ đó, đề xuất sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai hiện hành.

Abstract: The article focuses on clarifying a number of legal provisions related to the rights and obligations of land users under the 2013 Land Law, and at the same time points out shortcomings and limitations in regulations on this issue, thereby proposing amendments and supplements to the current Land Law.

Trong hơn 08 năm Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực, các quy định về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất ngày càng được hoàn thiện, quy định rõ ràng, đầy đủ hơn về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất, góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng của người sử dụng đất trước pháp luật, đồng thời hạn chế được số lượng đơn khiếu nại, tố cáo, kiện tụng của người dân, giảm thiểu được vấn nạn tham nhũng trong lĩnh vực đất đai. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực trên thì trong thực tiễn thi hành pháp luật về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất vẫn còn một số bất cập, hạn chế ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng của người sử dụng đất, gây khó khăn cho cơ quan nhà nước trong việc thực thi pháp luật. Chính vì vậy, việc nghiên cứu và hoàn thiện các quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất để bảo đảm tốt nhất quyền và lợi ích chính đáng của người sử dụng đất, nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật, giải quyết các khó khăn cho cơ quan nhà nước trong việc áp dụng thống nhất pháp luật trong bối cảnh Luật Đất đai sửa đổi là điều quan trọng, cấp thiết trong bối cảnh hiện nay.

1. Thực trạng quy định pháp luật về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất

Trong thời gian qua, pháp luật về đất đai đã đạt được những kết quả khả quan, tạo ra được một hành lang pháp lý chặt chẽ, minh bạch và đồng bộ trong công tác quản lý đất đai của Nhà nước. Các quy định về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất đã được gia tăng và ngày càng chặt chẽ hơn, tạo nên khung pháp lý để thị trường bất động sản vận hành và phát triển, đáp ứng được nhu cầu giao dịch của người dân, cũng như doanh nghiệp kinh doanh[1]. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, kết quả khả quan đã đạt được, các quy định về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất đã bộc bộ một số hạn chế, tồn tại nhất định gây ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng của người sử dụng đất, các quy định về các quyền giao dịch của người sử dụng đất còn chưa thực sự rõ ràng dẫn đến việc nhiều cách hiểu khác nhau và áp dụng pháp luật không thống nhất giữa các cơ quan nhà nước, một số vấn đề chưa quy định cụ thể hoặc khó hiểu gây khó khăn cho doanh nghiệp trong việc tìm hiểu pháp luật. Thực trạng này đã phần nào phản ánh được những hạn chế còn tồn tại trong việc áp dụng pháp luật về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất. Cụ thể:

Một là, có sự mâu thuẫn trong quy định về quyền chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân trong cùng một xã, phường, thị trấn với hộ gia đình cá nhân khác. Mục 3 Chương XI Luật Đất đai năm 2013 quy định, đối với hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp được Nhà nước giao đất trong hạn mức (giao đất không thu tiền sử dụng đất), đất được Nhà nước giao có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê, được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất; đất nhận chuyển đổi, nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho, nhận thừa kế thì có quyền chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp trong cùng một xã, phường, thị trấn với hộ gia đình cá nhân khác. Tuy nhiên, Điều 190 Luật Đất đai năm 2013 lại quy định: “Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp do được Nhà nước giao đất, do chuyển đổi, nhận chuyển nhượng, nhận thừa kế, được tặng cho quyền sử dụng đất hợp pháp từ người khác thì chỉ được chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp trong cùng xã, phường, thị trấn cho hộ gia đình, cá nhân khác…”, theo đó, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp do được Nhà nước cho thuê sẽ không được chuyển đổi quyền sử dụng đất. Như vậy, với chủ thể là hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất với hình thức được Nhà nước cho thuê đất thì có sự quy định khác nhau giữa Điều 179 và Điều 190 Luật Đất đai năm 2013, theo đó, Điều 179 cho phép được chuyển đổi quyền sử dụng đất, còn Điều 190 thì không cho phép. Việc quy định mâu thuẫn giữa các điều luật trong cùng một văn bản pháp luật như vậy sẽ gây ảnh hưởng đến việc áp dụng thống nhất pháp luật giữa các cơ quan nhà nước, cũng như không bảo đảm được quyền và lợi ích chính đáng của người dân, gây khó khăn cho người dân trong việc tìm hiểu và tuân thủ pháp luật.

Hai là, chưa có quy định cụ thể về phạm vi cho thuê đất của tổ chức kinh tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Đối với chủ thể là hộ gia đình, cá nhân thì Luật Đất đai năm 2013 có quy định cụ thể về phạm vi cho thuê gồm: “... Cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân khác, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư tại Việt Nam thuê quyền sử dụng đất”[2]. Theo đó, những chủ thể được quyền thuê đất của hộ gia đình, cá nhân chỉ có tổ chức, hộ gia đình, cá nhân khác, người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Còn doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì không được thuê đất của hộ gia đình, cá nhân. Tuy nhiên, đối với các chủ thể sử dụng đất là người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì Luật Đất đai năm 2013 không có quy định cụ thể về phạm vi cho thuê đất. Việc quy định thiếu sót như vậy sẽ gây khó khăn cho doanh nghiệp trong việc áp dụng pháp luật bởi họ có thể không biết nếu pháp luật không quy định thì có nghĩa là tất cả các chủ thể sử dụng đất đều có thể thuê đất từ các chủ thể trên hay có hạn chế với đối tượng nào hay không, điều này sẽ khiến cho các doanh nghiệp lúng túng, quan ngại trong việc thực hiện quyền cho thuê đất của mình trên thực tiễn, chưa thực sự bảo đảm được quyền lợi chính đáng của các chủ thể sử dụng đất là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân khác, người Việt Nam định cư ở nước ngoài.

Ba là, quy định về hộ gia đình, cá nhân không trực tiếp sản xuất nông nghiệp thì không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất trồng lúa (khoản 3 Điều 191 Luật Đất đai năm 2013) còn chưa thực sự phù hợp với thực tiễn[3]. Quy định này hạn chế các chủ thể không trực tiếp sản xuất nông nghiệp sở hữu quá nhiều diện tích đất nông nghiệp, dẫn đến đất nông nghiệp không được sử dụng phù hợp cũng như khai thác hiệu quả giá trị của loại đất trên, đồng thời cũng gây thiếu hụt loại đất này cho những chủ thể thực sự cần để sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, ở các địa phương hiện nay, nguồn gốc của đất nông nghiệp đa phần là do được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất, phong tục tập quán sản xuất nông nghiệp gắn liền với nhà ở[4], dẫn đến việc người trực tiếp sản xuất nông nghiệp và người không trực tiếp sản xuất đất nông nghiệp đều sinh sống trong cùng một khu vực[5]. Hơn nữa, đối với những đối tượng có trình độ chuyên môn cao và có khả năng nghiên cứu, áp dụng khoa học kỹ thuật vào lĩnh vực nông nghiệp, nâng cao năng suất lao động, phát triển kinh tế thì họ lại bị hạn chế quyền giao dịch về nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất trồng lúa. Bên cạnh đó, những người trực tiếp sản xuất nông nghiệp từ lâu đời thì đa phần họ chỉ biết sản xuất thủ công, áp dụng máy móc còn hạn chế, chưa nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm. Vì vậy, việc quy định hạn chế quyền sử dụng đất trồng lúa trên đã phần nào hạn chế sự phát triển kinh tế và sự sáng tạo, áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến vào ngành nông nghiệp của nước ta.

Bốn là, chưa quy định cụ thể về quyền lựa chọn hình thức trả tiền thuê đất của người sử dụng đất[6]. Cụ thể, Điều 172 Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Tổ chức kinh tế, tổ chức sự nghiệp công lập tự chủ tài chính, hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật này được lựa chọn hình thức thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm hoặc thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê”, đồng thời “thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm được chuyển sang thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê”. Theo đó, đối với các chủ thể kinh tế, tổ chức sự nghiệp công lập tự chủ tài chính, hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì được lựa chọn hình thức thuê đất, đồng thời, nếu thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm được chuyển sang thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê. Tuy nhiên, Luật không quy định là số lần được chuyển đổi giữa các hình thức thuê đất. Điều này dẫn đến, các chủ thể lựa chọn hình thức thuê đất một cách tùy tiện bởi Luật không quy định rõ về giới hạn số lần được chuyển đổi hình thức thuê đất. Hơn nữa, việc các chủ thể này thay đổi hình thức thuê đất liên tục như vậy gây phiền hà, rắc rối cho cơ quan nhà nước cũng như không bảo đảm được quyền lợi chính đáng của các bên trong giao dịch. Bên cạnh đó, đối với trường hợp các chủ thể trên đang thuê đất với hình thức thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê thì có được chuyển sang hình thức thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm hay không thì Luật chưa quy định. Điều này gây lúng túng cho các chủ thể cũng như cơ quan nhà nước trong việc xác định các quyền lợi, nghĩa vụ của người sử dụng đất, dẫn đến việc áp dụng pháp luật không thống nhất giữa các cơ quan nhà nước.

Năm là, chưa có sự thống nhất về nội dung của pháp luật liên quan đến lĩnh vực đất đai trong hệ thống pháp luật. Hiện nay, một số vấn đề trong lĩnh vực đất đai nói chung và các quy định về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất nói riêng vẫn còn có mâu thuẫn giữa các văn bản pháp luật. Ví dụ: Theo khoản 3 Điều 1 Luật Đấu thầu năm 2013 và khoản 1 Điều 1 Nghị định số 25/2020/NĐ-CP ngày 28/02/2020 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà đầu tư quy định các dự án đầu tư có sử dụng đất bắt buộc phải được đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư. Tuy nhiên, tại Điều 188 Luật Đất đai năm 2013 quy định, đầu tư xây dựng nhà ở để bán hoặc cho thuê hoặc cho thuê mua, đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng để chuyển nhượng hoặc cho thuê… thì việc giao đất, cho thuê đất thông qua đấu giá quyền sử dụng đất[7]. Hoặc, theo quy định khoản 7 Điều 49 Luật Đất đai năm 2013 thì: “Trường hợp quy hoạch sử dụng đất đã được công bố mà chưa có kế hoạch sử dụng đất hằng năm của cấp huyện thì người sử dụng đất được tiếp tục sử dụng và được thực hiện các quyền của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật”. Cũng liên quan đến vấn đề này, theo quy định tại khoản 2 Điều 91, điểm a khoản 1 Điều 93, khoản 2 Điều 94 Luật Xây dựng năm 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), đối với điều kiện cấp phép các công trình xây dựng trong đô thị, nhà riêng lẻ và cấp phép xây dựng có thời hạn thì phải “phù hợp với mục đích sử dụng đất theo quy hoạch sử dụng đất được phê duyệt”[8]. Như vậy, điều kiện cấp phép các công trình xây dựng trong đô thị, nhà riêng lẻ và cấp phép xây dựng có thời hạn mà chưa có kế hoạch sử dụng đất hằng năm của cấp huyện thì theo Luật Đất đai năm 2013, người sử dụng đất được tiếp tục sử dụng và được thực hiện các quyền của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật, tuy nhiên, với quy định tại Luật Xây dựng năm 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) thì không được phép, dẫn đến tình trạng các địa phương không thể tiến hành cấp giấy phép xây dựng đối với các công trình này…

2. Một số kiến nghị

Nhằm khắc phục một số vấn đề còn hạn chế, bất cập trong các quy định về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất, góp phần nâng cao chất lượng áp dụng pháp luật về đất đai, bảo đảm quyền, lợi ích chính đáng của các chủ thể sử dụng đất, theo tác giả, cần tiếp tục nghiên cứu, thực hiện một số giải pháp theo hướng:

Một là, cần thống nhất giữa các quy định trong Luật Đất đai năm 2013 về quyền chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân trong cùng một xã, phường, thị trấn với hộ gia đình cá nhân khác. Đối với trường hợp hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất với hình thức được Nhà nước cho thuê đất thì có cho phép quyền chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp hay không, với vấn đề này, cần có sự thống nhất giữa hai quy định trong cùng một văn bản pháp luật, cụ thể là, tại Điều 179 Luật Đất đai năm 2013 quy định quyền và nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân và Điều 190 Luật Đất đai năm 2013 quy định điều kiện chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp. Theo tác giả, nên quy định rõ Điều 179 Luật Đất đai năm 2013 theo hướng không cho phép hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất với hình thức được Nhà nước cho thuê đất có quyền chuyển đổi quyền sử dụng đất. Bởi lẽ, Điều 190 Luật Đất đai năm 2013 quy định cụ thể về các điều kiện được chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp, còn Điều 179 Luật Đất đai năm 2013 là quy định về các quyền và nghĩa vụ chung của hộ gia đình cá nhân sử dụng đất nông nghiệp. Do đó, đối với quyền chuyển đổi quyền sử dụng đất thì sẽ quy định chặt chẽ, cụ thể và chính xác hơn nên căn cứ vào Điều 190 Luật Đất đai năm 2013. Tuy nhiên, để tránh tình trạng gây khó khăn, lúng túng, nhầm lẫn khi các chủ thể, cũng như cơ quan nhà nước áp dụng pháp luật thì cần quy định rõ ràng hơn tại Điều 179 Luật Đất đai năm 2013 đối với quyền chuyển đổi quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân. Có như vậy, sẽ giải quyết được tình trạng áp dụng pháp luật không thống nhất giữa các cơ quan nhà nước, cũng như bảo đảm được quyền lợi chính đáng của người dân trong các giao dịch quyền sử dụng đất.

Hai là, cần quy định cụ thể, rõ ràng về phạm vi cho thuê đất của tổ chức kinh tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Hiện nay, pháp luật đất đai còn bỏ ngỏ về phạm vi cho thuê của các chủ thể là tổ chức kinh tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Đây là những chủ thể đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế nói chung và trong lĩnh vực đất đai nói riêng. Do đó, cần có những quy định rõ ràng và cụ thể hơn về những đối tượng này, bảo đảm được quyền lợi chính đáng của doanh nghiệp, cũng như giải quyết được tình trạng lúng túng, quan ngại trong việc các chủ thể thực hiện quyền cho thuê của mình trên thực tiễn. Đồng thời, cần xây dựng một hệ thống pháp luật đất đai hoàn thiện hơn nhằm tạo niềm tin cho các doanh nghiệp đầu tư vào thị trường đất đai ở Việt Nam.

Ba là, nên bãi bỏ quy định hộ gia đình, cá nhân không trực tiếp sản xuất nông nghiệp thì không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất trồng lúa[9]. Theo đó, đối với thực tiễn hiện nay, việc quy định như vậy dường như đang hạn chế sự phát triển của nền nông nghiệp nói riêng và nền kinh tế của Việt Nam nói chung. Xu hướng thế giới hiện nay về phát triển nông nghiệp là đang cố gắng nghiên cứu áp dụng khoa học kỹ thuật vào trong ngành nông nghiệp, đặc biệt là trồng lúa nước, góp phần nâng cao năng suất cây trồng, giảm bớt lao động chân tay thay bằng máy móc, tạo ra nhiều giống cây trồng mới mang sản lượng và chất lượng tốt hơn. Tuy nhiên, việc pháp luật quy định chỉ những hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp mới được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất trồng lúa dẫn đến hạn chế đối tượng có trình độ chuyên môn cao, có khả năng nghiên cứu và áp dụng khoa học kỹ thuật vào lĩnh vực nông nghiệp. Đồng thời, hiện nay, các đối tượng trực tiếp và không trực tiếp sản xuất nông nghiệp đều cùng sinh sống trên một khu vực nhất định[10], do đó, nếu quy định như vậy sẽ gây khó khăn trong việc tìm kiếm đối tượng phù hợp khi muốn giao dịch mua bán đất.

Bốn là, cần có quy định cụ thể về quyền lựa chọn hình thức trả tiền thuê đất của người sử dụng đất. Theo quy định tại Điều 172 Luật Đất đai năm 2013, các chủ thể kinh tế, tổ chức sự nghiệp công lập tự chủ tài chính, hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được lựa chọn hình thức thuê, đồng thời cũng được chuyển đổi giữa hai hình thức thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm và thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê mà không giới hạn số lần chuyển đổi. Do đó, để hạn chế tình trạng các doanh nghiệp lựa chọn hình thức thuê đất một cách tùy tiện và thay đổi hình thức thuê đất liên tục gây phiền hà, rắc rối cho cơ quan nhà nước, cần có quy định cụ thể hơn về số lần các doanh nghiệp được chuyển đổi. Đồng thời, pháp luật cũng cần quy định rõ chủ thể trên đang thuê đất với hình thức thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê, có được phép chuyển sang hình thức thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm hay không.

Năm là, cần có sự thống nhất về nội dung liên quan đến lĩnh vực đất đai trong hệ thống pháp luật bởi hiện nay, hệ thống pháp luật đất đai liên quan đến nhiều đạo luật thuộc các lĩnh vực khác như đầu tư, xây dựng, hôn nhân và gia đình… Có như vậy mới giải quyết được tình trạng mâu thuẫn, chồng chéo giữa các văn bản quy phạm pháp luật về các vấn đề trong lĩnh vực đất đai, từ đó bảo đảm được quyền và lợi ích của người sử dụng đất.

ThS. Trần Linh Huân

Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

ThS. Phạm Thị Hồng Tâm

Trường Đại học Phan Thiết

[1]. Tổng Cục quản lý đất đai (2021), “Định hướng hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả về quản lý, sử dụng đất đai”, https://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=2609, truy cập ngày 14/12/2022.

[2]. Điểm d khoản 1 Điều 179 Luật Đất đai năm 2013.

[3]. Trần Thúy Phượng, “Những bất cập, vướng mắc trong thi hành Luật Đất đai nhìn từ góc độ quản lý”, https://phaply.net.vn/nhung-bat-cap-vuong-mac-trong-thi-hanh-luat-dat-dai-nhin-tu-goc-do-quan-ly-a253458.html, truy cập ngày 14/12/2022.

[4]. Trần Thúy Phượng, tlđd.

[5]. Trần Thúy Phượng, tlđd.

[6]. Trần Thúy Phượng, tlđd.

[7]. Gia Nguyễn, “Rà soát pháp luật: Điểm mâu thuẫn giữa Luật Đấu thầu và Luật Đất đai”, https://tapchitaichinh.vn/tai-chinh-phap-luat/ra-soat-phap-luat-diem-mau-thuan-giua-luat-dau-thau-va-luat-dat-dai-338636.html, truy cập ngày 14/12/2022.

[8]. Trần Thúy Phượng, tlđd.

[9]. Khoản 3 Điều 191 Luật Đất đai năm 2013.

[10]. Trần Thúy Phượng, tlđd.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Số 374, tháng 2/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.

Theo dõi chúng tôi trên: