Thứ sáu 01/05/2026 01:31
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện quy định của pháp luật về giải thích pháp luật

Bài viết phân tích một số bất cập trong quy định của pháp luật về giải thích pháp luật, từ đó, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện các quy định pháp luật về hoạt động này.

1. Đối tượng của hoạt động giải thích pháp luật
Theo Điều 74 Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 và một số văn bản có liên quan thì Ủy ban thường vụ Quốc hội có quyền giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh. Do đó, có thể hiểu, đối tượng của hoạt động giải thích pháp luật chỉ bao gồm ba loại văn bản: Hiến pháp, luật, pháp lệnh. Trong khi đó, theo Điều 4 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ngoài Hiến pháp, luật, pháp lệnh còn bao gồm những văn bản khác. Như vậy, những văn bản khác đó có được giải thích chính thức bởi Ủy ban Thường vụ Quốc hội hay không? Về mặt pháp lý, Ủy ban Thường vụ Quốc hội chỉ có nhiệm vụ, quyền hạn giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh, nên đối với những văn bản quy phạm pháp luật không phải là Hiến pháp, luật, pháp lệnh thì Ủy ban Thường vụ Quốc hội không có cơ sở pháp lý để tiến hành giải thích. Từ thực trạng trên, thiết nghĩ, Hiến pháp và pháp luật hiện hành nên quy định đối tượng của việc giải thích pháp luật bao gồm tất cả các văn bản quy phạm pháp luật được quy định tại Điều 4 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015. Với quy định này, đối tượng của hoạt động giải thích pháp luật sẽ được mở rộng, góp phần đảm bảo quyền lợi của các cá nhân, tổ chức có liên quan thông qua việc giải thích pháp luật chính thức.

2. Điều kiện tiến hành giải thích pháp luật
Điều 158 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 quy định: “Việc giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh được thực hiện trong trường hợp quy định của Hiến pháp, luật, pháp lệnh có cách hiểu khác nhau trong việc thi hành”. Tuy nhiên, với quy định về điều kiện giải thích này đã tồn tại hai loại quan điểm khác nhau. Quan điểm thứ nhất cho rằng, việc giải thích chỉ được đặt ra khi qua thực tiễn thi hành phát hiện Hiến pháp, luật, pháp lệnh có quy định mang tính đa nghĩa. Trong trường hợp đó, Ủy ban Thường vụ Quốc hội chọn lựa một nghĩa mà quy định của các văn bản này chuyển tải[1]. Quan điểm thứ hai cho rằng, việc giải thích pháp luật chỉ được tiến hành trong trường hợp một quy định có cách hiểu không thống nhất với quy định có liên quan trong Hiến pháp hoặc các đạo luật khác. Điều này đồng nghĩa với việc không cho phép Ủy ban Thường vụ Quốc hội giải thích những quy định mơ hồ, tối nghĩa[2]. Như vậy, theo quan điểm thứ nhất, chỉ cần bản thân quy định đa nghĩa, không rõ ràng thì vấn đề giải thích đã được đặt ra. Nhưng theo quan điểm thứ hai thì quy định đó phải có cách hiểu không giống với quy định liên quan trong văn bản khác thì mới được giải thích. Trong hai quan điểm trên, theo tác giả, quan điểm thứ nhất có phần hợp lý hơn. Bởi lẽ, khi một quy định mơ hồ, tối nghĩa thì hệ quả theo đó chính là quy định này sẽ tạo nên những cách hiểu khác nhau trong việc thi hành. Trong trường hợp này, việc giải thích pháp luật đã được đặt ra, chứ không nhất thiết phải có cách hiểu không thống nhất với quy định liên quan trong các văn bản khác. Tuy nhiên, về cơ bản, cách quy định trên của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 vẫn chưa rõ ràng, tạo nên cách hiểu không thống nhất và trước hết là đối với người nghiên cứu khoa học pháp lý. Do đó, quy định này nên được sửa đổi theo hướng: “Việc giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh được thực hiện trong trường hợp quy định của Hiến pháp, luật, pháp lệnh đa nghĩa, chưa rõ ràng”.

3. Nguyên tắc giải thích pháp luật
Khảo sát thực tiễn giải thích pháp luật ở nhiều quốc gia cho thấy, bốn quy tắc giải thích pháp luật được sử dụng phổ biến là quy tắc nghĩa đen, quy tắc lịch sử, quy tắc logic và quy tắc mục đích luận[3]. Ở nước ta hiện nay, pháp luật không quy định về quy tắc giải thích pháp luật mà chỉ quy định về các nguyên tắc giải thích tại khoản 2 Điều 158 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015. Tuy nhiên, khi nghiên cứu về quy định này, một vấn đề đặt ra là, phải chăng từ “mục đích” được quy định tại điểm a (đúng với tinh thần, “mục đích”, yêu cầu, quan điểm chỉ đạo ban hành Hiến pháp, luật, pháp lệnh) là tương ứng với quy tắc mục đích luận? Cần lưu ý rằng, ở nhiều nước trên thế giới (Anh, Pháp, Đức, Hoa Kỳ…), khi áp dụng quy tắc mục đích luận, Tòa án được phép bỏ qua nghĩa đen và cấu trúc ngữ pháp của điều luật để truy tìm mục đích ban hành của điều luật cần giải thích nhằm có được cách giải thích hợp lý nhất[4]. Tức là, người giải thích được phép đưa quan điểm cá nhân về đạo đức, công bằng và lẽ phải khi giải thích một quy định của pháp luật. Ví dụ: Luật Hôn nhân và gia đình Hoa Kỳ quy định: “Những người sau đây có quyền nhận nuôi con nuôi: a) Một người lớn độc thân; b) Một cặp vợ chồng cùng nhau nhận con nuôi”. Vậy, với quy định này, liệu một cặp nam, nữ chung sống gắn bó lâu dài nhưng không kết hôn thì có được cùng nhau nhận một đứa trẻ làm con nuôi chung không. Nếu căn cứ về mặt từ ngữ thì câu trả lời là “không”, nhưng khi giải thích quy định trên để xử lý vụ việc cụ thể, câu trả lời của Tòa án Hoa Kỳ lại là “có” vì những lẽ sau: (i) Điều luật trên được ban hành từ thế kỷ XIX, khi đó, tại Hoa Kỳ, việc nam, nữ chung sống lâu dài mà không kết hôn chưa phổ biến; (ii) Tòa cho rằng, mục đích của quy định này chỉ muốn loại trừ trường hợp một người kết hôn nhận con nuôi mà không có sự đồng ý của người kia; (iii) Mục đích quan trọng nhất của luật này là vì lợi ích của những đứa trẻ được nhận làm con nuôi nhưng trường hợp này không trực tiếp ảnh hưởng đến lợi ích của đứa trẻ được nhận nuôi, vì khi xét những yếu tố khác như hai người chung sống gắn bó lâu dài, có thu nhập cao và ổn định, Tòa án cho rằng, nếu đứa trẻ được nhận làm con nuôi thì sẽ có lợi cho nó hơn là không được nhận[5]. Với cách giải thích này, Tòa án đã bỏ qua sự cứng nhắc của ngôn ngữ để đưa ra sự lý giải hợp lý, đồng thời sáng tạo ra quy định mới, bổ sung cho sự “lạc hậu” của đạo luật được ban hành từ thế kỷ XIX. Nói cách khác, việc một quốc gia thừa nhận quy tắc mục đích luận đồng nghĩa với việc cho phép người giải thích pháp luật “làm luật”. Đây vừa là ưu điểm vừa là hạn chế của quy tắc này. Là ưu điểm vì nó giúp việc giải thích pháp luật đảm bảo được tính hợp lý; là hạn chế vì nó dễ mang tính chủ quan của người giải thích pháp luật. Trở lại với vấn đề quy định tại khoản 2 Điều 158 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 có bao gồm quy tắc mục đích luận, theo quan điểm của tác giả, từ “mục đích” trong quy định trên không chỉ quy tắc mục đích luận. Bởi lẽ, tại điểm c khoản 2 Điều 158 Luật này, nhà làm luật đã quy định việc giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh “không được sửa đổi, bổ sung hoặc đặt ra quy định mới”. Quy định này chính là sự phủ nhận việc áp dụng quy tắc mục đích luận trong giải thích pháp luật ở nước ta. Tuy nhiên, xét về mặt từ ngữ, việc sử dụng từ “mục đích” tại điểm a khoản 2 Điều 158 nói trên rất dễ tạo nên sự nhầm lẫn về việc thừa nhận quy tắc mục đích luận. Trong khi đó, với điều kiện nước ta hiện nay, việc áp dụng quy tắc này vào hoạt động giải thích pháp luật là một thách thức rất lớn. Do đó, tác giả cho rằng, nên bỏ từ “mục đích” trong quy định trên nhằm đảm bảo sự nhất quán, rõ ràng và cẩn trọng trong quy định về nguyên tắc giải thích pháp luật.

Tuy nhiên, trong giai đoạn tới, với định hướng trao quyền giải thích pháp luật cho Tòa án và việc Hiến pháp năm 2013 khẳng định “Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý”, thiết nghĩ, nước ta cần xây dựng lộ trình thích hợp để thừa nhận quy tắc mục đích luận và theo đó là bỏ quy định tại điểm c khoản 2 Điều 158 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015. Bởi vì, theo Điều 102 Hiến pháp năm 2013, nhiệm vụ của Tòa án là bảo vệ công lý, tức là lẽ phải, sự công bằng, sự thật, chứ không phải là bảo vệ các quy định pháp luật do Nhà nước đặt ra. Chính vì thế, trong trường hợp các quy định pháp luật trở nên lạc hậu, lỗi thời so với sự phát triển của các quan hệ xã hội thì thẩm phán bằng kinh nghiệm, chuyên môn và niềm tin nội tâm có thể giải thích theo hướng “thoát ly” nghĩa đen của câu từ để tìm về mục đích của việc ban hành quy định. Điều này là một trong những biểu hiện rõ ràng nhất cho nhiệm vụ bảo vệ công lý của Tòa án theo Điều 102 Hiến pháp năm 2013. Mặc dù vậy, việc áp dụng quy tắc mục đích luận cần được nghiên cứu và có lộ trình thích hợp. Đồng thời, với lộ trình này phải là việc trao quyền giải thích pháp luật cho Tòa án, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ xét xử của thẩm phán và đảm bảo tốt nhất sự độc lập của Tòa án. Nếu những điều kiện này không được đảm bảo thì việc áp dụng quy tắc trên sẽ trở nên rất “mạo hiểm” và gây ra nhiều hệ lụy.

4. Chủ thể có quyền đề nghị giải thích pháp luật
Hiện nay, quy định của pháp luật về chủ thể có quyền đề nghị giải thích pháp luật vẫn chưa thống nhất. Cụ thể, theo khoản 1 Điều 49 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014, các chủ thể có quyền đề nghị giải thích pháp luật không bao gồm Kiểm toán nhà nước, nhưng khoản 1 Điều 159 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 lại liệt kê cả Kiểm toán nhà nước khi quy định về chủ thể có quyền đề nghị giải thích pháp luật. Hơn nữa, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 cũng không có điều khoản nào quy định về việc bổ sung “Kiểm toán nhà nước” vào khoản 1 Điều 49 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014. Điều này đã tạo nên sự chưa thống nhất về cơ sở pháp lý đối với quyền đề nghị giải thích pháp luật của Kiểm toán nhà nước. Vì thế, khoản 1 Điều 49 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014 nên được sửa đổi theo hướng quy định Kiểm toán nhà nước cũng là một trong những chủ thể có quyền đề nghị giải thích pháp luật.

Ngoài ra, khi nghiên cứu về vấn đề này, tác giả nhận thấy, pháp luật đã “bỏ sót” một chủ thể có quyền đề nghị giải thích, đó chính là nhân dân - đối tượng thường chịu sự tác động trực tiếp từ các quy định của pháp luật. Việc các nhà lập pháp trao quyền đề nghị giải thích cho các chủ thể trên có lẽ xuất phát từ Điều 84 Hiến pháp năm 2013 về các chủ thể có quyền trình dự án luật, pháp lệnh[6]. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, việc có quyền trình dự án luật và việc có quyền yêu cầu giải thích pháp luật là khác nhau về bản chất[7]. Bởi lẽ, quyền trình dự án luật mang tầm vĩ mô, nhưng quyền yêu cầu giải thích pháp luật thường gắn liền với một vụ việc cụ thể, với lợi ích của một hoặc một số đối tượng cụ thể. Vì thế, đặt trường hợp, khi có nhu cầu về giải thích pháp luật nhưng vì một lý do nào đó mà các chủ thể trên đồng thời không thực hiện quyền của mình thì người dân sẽ dùng phương thức chính thức nào để yêu cầu giải thích pháp luật, đảm bảo quyền lợi của họ? Như vậy, xét về mặt thủ tục và hình thức (chưa bàn đến nội dung và hiệu quả của từng vấn đề cụ thể khi giải thích pháp luật) thì quy định này đã là “một sự không công bằng đối với người dân”[8]. Do vậy, trong thời gian sắp tới, cần có lộ trình để cho phép người dân, những người có quyền, lợi ích hợp pháp được điều chỉnh trực tiếp bởi văn bản pháp luật có quyền đề nghị giải thích quy định của văn bản đó.

5. Chủ thể có quyền giải thích pháp luật
Theo quy định hiện hành, Ủy ban thường vụ Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh (Điều 74 Hiến pháp năm 2013). Tuy nhiên, trên thực tế, một số chủ thể khác (Chính phủ, Tòa án) vẫn tham gia vào hoạt động giải thích pháp luật. Nhưng điều đáng lưu ý là, hiệu quả trong hoạt động giải thích pháp luật của chủ thể chính thức và không chính thức lại khá khác nhau. Cụ thể, cho đến nay, Ủy ban Thường vụ Quốc hội chỉ mới thực hiện quyền này khoảng năm lần - “một con số rất ít ỏi”[9], nhưng trong năm lần giải thích này, chỉ có hai lần nghị quyết ghi rõ là “giải thích”[10]. Mặt khác, cho đến nay, Ủy ban Thường vụ Quốc hội vẫn chưa tiến hành hoạt động giải thích Hiến pháp và pháp lệnh[11]. Lý giải về thực trạng này, một số quan điểm cho rằng, Ủy ban Thường vụ Quốc hội không có nhu cầu về giải thích pháp luật vì đây không phải là cơ quan áp dụng pháp luật và trên thực tế luôn có các chủ thể khác bằng nhiều cách thức, thực hiện công việc này thay Ủy ban Thường vụ Quốc hội[12]. Trong khi đó, mặc dù Chính phủ và Tòa án không được trao quyền giải thích pháp luật nhưng các cơ quan này đã ban hành rất nhiều văn bản có nội dung diễn giải nhằm làm cho luật được hiểu rõ hơn để áp dụng vào thực tiễn thi hành[13] như: Nghị định của Chính phủ; thông tư của các Bộ; thông tư liên tịch giữa các Bộ, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao; nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao... Mặc dù các hoạt động này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng pháp luật trên thực tế, nhưng đây lại là những hoạt động rất khó kiểm soát và luôn tiềm ẩn khả năng xâm phạm quyền con người, quyền công dân[14]. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng, dù pháp luật có thừa nhận quyền giải thích pháp luật của Chính phủ và Tòa án hay không thì trên thực tế họ vẫn tiến hành hoạt động này.

Chính vì vậy, để có cơ chế kiểm soát các hoạt động giải thích pháp luật không chính thức, thiết nghĩ, quyền giải thích pháp luật nên được trao cho chủ thể đã ban hành văn bản pháp luật đó. Trong trường hợp việc giải thích này không hợp lý hoặc tạo nên sự “tranh cãi” trong thực tế thi hành thì Tòa án nhân dân tối cao sẽ là chủ thể giải thích cuối cùng[15]. Nói cách khác, mặc dù nhiều chủ thể được trao quyền giải thích pháp luật nhưng việc giải thích của bất kỳ chủ thể nào cũng có thể được Tòa án nhân dân tối cao xem xét lại trong vụ việc cụ thể. Điều này không làm giảm tầm quan trọng của các cơ quan khác trong việc giải thích pháp luật, bởi vì, “đôi khi các lý do như sự thiếu thông tin, thiếu kinh phí, sự khống chế về thời gian trong giải quyết vụ việc thậm chí sự không chắc chắn về quyết định của cơ quan tư pháp mà không thể đem tất cả các vụ việc ra Tòa án xem xét được”[16]. Vì vậy, về cơ bản, giải thích của các chủ thể trên vẫn đảm bảo giá trị về lý luận và thực tiễn. Đồng thời, cần nghiên cứu xây dựng những quy định về việc kiểm soát hoạt động giải thích pháp luật. Những quy định này có thể được bổ sung vào Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, thậm chí về lâu về dài, những quy định này cần được thể hiện trong một đạo luật riêng biệt về giải thích văn bản quy phạm pháp luật ở nước ta. Điều này sẽ tạo cơ sở pháp lý toàn diện cho việc kiểm soát hoạt động giải thích pháp luật của các chủ thể trên, đặc biệt là Chính phủ.

6. Trình tự, thủ tục giải thích pháp luật
Hiện nay, trình tự, thủ tục giải thích Hiến pháp và trình tự, thủ tục giải thích luật, pháp lệnh được quy định giống nhau. Đây là một điều bất hợp lý. Bởi lẽ, Điều 119 Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định: “Hiến pháp là luật cơ bản của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có hiệu lực pháp lý cao nhất”. Theo đó, các văn bản trong hệ thống pháp luật đều phải phù hợp với Hiến pháp, là sự cụ thể hóa, chi tiết hóa các quy định của Hiến pháp; mọi hành vi vi hiến đều phải bị xử lý. Hơn nữa, phạm vi điều chỉnh của Hiến pháp bao gồm hầu hết những lĩnh vực quan trọng trong đời sống xã hội, rộng hơn rất nhiều so với phạm vi điều chỉnh của các văn bản khác. Chính vì thế, giải thích Hiến pháp là “giải thích quy phạm mang tính quyền lực nhà nước và có tính bắt buộc cao nhất đối với mọi chủ thể trong xã hội”[17]. Việc giải thích này có phạm vi và mức độ ảnh hưởng rất lớn so với việc giải thích một đạo luật hay một pháp lệnh. Vì tính chất quan trọng này, hiện nay, ở các nước trên thế giới, quy trình giải thích Hiến pháp đều được thiết kế rất đặc biệt, khác với quy trình giải thích các đạo luật khác. Cụ thể, có ba mô hình sau: Một là, trao quyền giải thích Hiến pháp cho Tòa án (Tòa án tối cao Hoa Kỳ); hai là, trao quyền giải thích Hiến pháp cho cơ quan lập pháp (Trung Quốc); ba là, trao quyền giải thích Hiến pháp cho cơ quan chuyên trách (Tòa án hiến pháp của Cộng hòa liên bang Đức)[18]. Ở nước ta, mặc dù tính tối cao của Hiến pháp đã được quy định trong Hiến pháp năm 2013 và quy trình làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp cũng đã được thiết kế đặc biệt hơn so với quy trình làm luật, thông qua luật. Tuy nhiên, việc quy định cùng một quy trình cho việc giải thích Hiến pháp và luật, pháp lệnh là một điều chưa hợp lý, ảnh hưởng đến vị trí tối cao của Hiến pháp. Do đó, cần có lộ trình thích hợp để xây dựng một quy trình riêng đối với việc giải thích Hiến pháp. Trong giai đoạn hiện nay, nếu chưa thể trao quyền giải thích Hiến pháp cho Tòa án tối cao và cũng chưa thể thành lập một cơ quan bảo hiến để thực hiện công việc này thì trước hết, theo tác giả, tỷ lệ thông qua nghị quyết về việc giải thích Hiến pháp nên được nâng lên là “ít nhất hai phần ba tổng số thành viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội biểu quyết tán thành”. Điều này sẽ tạo nên sự đồng bộ giữa các quy định về làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp, giải thích Hiến pháp cũng như đảm bảo được một quy trình đặc biệt khi giải thích Hiến pháp.

Trương Thị Minh Thùy

Khoa Luật Hành chính - Nhà nước, Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh


[1] Nguyễn Văn Cương (2016), “Một số kiến nghị về việc hoàn thiện quy trình giải thích Hiến pháp trong khuôn khổ Hiến pháp năm 2013”, Tạp chí Nghề luật, số 9, tr. 10.

[2] Nguyễn Thị Ánh Vân (2016), “Bài học từ kinh nghiệm giải thích pháp luật thành văn của một số nước Civil law và Common law”, Tạp chí Luật học, số 5, tr. 87.

[3] Xem thêm: Nguyễn Thị Ánh Vân (2016), “Bài học từ kinh nghiệm giải thích pháp luật thành văn của một số nước Civil law và Common law”, Tạp chí Luật học, số 5, tr. 82.

[4] Nguyễn Thị Ánh Vân (2016), “Bài học từ kinh nghiệm giải thích pháp luật thành văn của một số nước Civil law và Common law”, Tạp chí Luật học, số 5, tr. 84.

[5] Nguyễn Minh Đức (2012), “Giải thích pháp luật và cơ sở để giải thích pháp luật”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 14 (222), tr. 15.

[6] Phạm Thị Duyên Thảo (2009), “Giải thích pháp luật ở Việt Nam - Một số yêu cầu để đảm bảo sự hợp lý”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 6 (207), tr. 12.

[7] Phạm Thị Duyên Thảo (2009), “Giải thích pháp luật ở Việt Nam - Một số yêu cầu để đảm bảo sự hợp lý”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 6 (207), tr. 12.

[8] Phạm Thị Duyên Thảo (2009), “Giải thích pháp luật ở Việt Nam - Một số yêu cầu để đảm bảo sự hợp lý”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 6 (207), tr. 12.

[9] Cao Vũ Minh (2009), “Vai trò giải thích pháp luật của Tòa án Hiến pháp”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 24 (161), tr. 14.

[10] Phạm Thị Duyên Thảo (2012), “Sửa đổi Hiến pháp năm 1992: Nên trao quyền giải thích pháp luật cho Tòa án”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 8 (216), tr. 15.

[11] Hoàng Văn Tú (2008), “Giải thích pháp luật - Một số vấn đề cơ bản về lí luận và thực tiễn ở Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 11(127), tr. 12.

[12] Phạm Thị Duyên Thảo (2011), “Những vấn đề đặt ra từ thực tế giải thích pháp luật ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 4 (276), tr. 35.

[13] Vũ Hoài Nam (2016), “Bàn về chủ thể giải thích pháp luật hình sự ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 3 (288), tr. 12.

[14] Vũ Hoài Nam (2016), “Bàn về chủ thể giải thích pháp luật hình sự ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 3 (288), tr. 12.

[15] Phạm Thị Duyên Thảo (2009), “Giải thích pháp luật ở Việt Nam - Một số yêu cầu để đảm bảo sự hợp lý”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 6 (207), tr. 15.

[16] Phạm Thị Duyên Thảo (2009), “Giải thích pháp luật ở Việt Nam - Một số yêu cầu để đảm bảo sự hợp lý”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 6 (207), tr. 15.

[17] Ngô Đức Mạnh (2008), “Giải thích pháp luật là bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Số 11(127), tr. 6.

[18] Phan Nguyễn Phương Thảo (2018), Giải thích Hiến pháp ở Việt Nam, Kỷ yếu Hội thảo “Giải thích pháp luật”, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, tr. 55.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tóm tắt: Chương VII dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) quy định về tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo gần như giữ nguyên nội dung Chương VII Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Tuy nhiên, phân tích từ góc độ liên thông giữa Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 với Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Đất đai năm 2024, cho thấy có một số bất cập, nếu được hoàn thiện trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) sẽ giúp hệ thống pháp luật liên quan đến chế định này được hoàn thiện, đồng bộ hơn.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.

Theo dõi chúng tôi trên: