Chủ nhật 01/11/2026 18:44
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện quy định pháp luật về hội đồng quản trị trong công ty cổ phần

Trên thế giới hiện nay, có hai mô hình quản trị cơ bản là mô hình một tầng (mô hình nhất nguyên hoặc mô hình Anglo - Saxon) và mô hình hai tầng (mô hình quản trị nhị nguyên hoặc mô hình German)[1]. Ở cả hai mô hình này, Hội đồng quản trị (HĐQT) là cơ quan quản lý có thẩm quyền cao nhất trong tổ chức, hoạt động và đại diện công ty trong các mối quan hệ bên ngoài. Do vậy, việc xây dựng khung pháp lý phù hợp sẽ tạo cơ chế để HĐQT hoạt động độc lập, hiệu quả trong sự tương tác, kết hợp với các thiết chế khác. Qua đó, góp phần hỗ trợ hoạt động quản trị công ty đạt mục đích đề ra, bảo vệ quyền lợi của những chủ thể có liên quan nói riêng, góp phần phát triển nền kinh tế nói chung.

1. Thực trạng pháp luật về Hội đồng quản trị trong công ty cổ phần

Pháp luật Việt Nam hiện hành thừa nhận HĐQT có thể được xây dựng và tổ chức theo mô hình một tầng (HĐQT tồn tại cùng với Ban Kiểm soát) hoặc mô hình hai tầng (không có Ban Kiểm soát, trong HĐQT có thành viên độc lập và Ủy ban kiểm toán)[2]. Quy định này đã trao cho chủ doanh nghiệp quyền chủ động và tự quyết về mô hình áp dụng, đáp ứng được yêu cầu quản trị công ty thực tế của các nhà đầu tư.

1.1. Thành viên Hội đồng quản trị

Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định số lượng thành viên HĐQT từ 03 - 11 người, cụ thể do Điều lệ quy định[3], nhưng không làm rõ cơ cấu HĐQT gồm những nhóm thành viên nào. Việc phân loại dựa trên những điều khoản khác nhau khi đề cập tới tư cách thành viên HĐQT. Chẳng hạn, Điều 155 quy định tiêu chuẩn thành viên HĐQT, tiêu chuẩn thành viên độc lập HĐQT; Điều 161 đề cập tới thành viên HĐQT không điều hành là đối tượng trở thành thành viên Ủy ban kiểm toán…

a. Thành viên HĐQT

Nhiệm kỳ của thành viên HĐQT không quá 05 năm và có thể được bầu lại với số nhiệm kỳ không hạn chế[4]. Cá nhân đóng vai trò thành viên HĐQT phải đáp ứng được các tiêu chuẩn và điều kiện tương đối chặt chẽ, cụ thể[5]: (i) Không thuộc nhóm tổ chức, cá nhân không có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam; (ii) Có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm trong quản trị kinh doanh hoặc trong lĩnh vực, ngành, nghề kinh doanh của công ty và không nhất thiết là cổ đông của công ty, trừ trường hợp Điều lệ công ty có quy định khác; (iii) Đối với doanh nghiệp nhà nước và công ty con của doanh nghiệp nhà nước thì thành viên Hội đồng quản trị không được là người có quan hệ gia đình của Giám đốc, Tổng giám đốc và người quản lý khác của công ty; của người quản lý, người có thẩm quyền bổ nhiệm người quản lý công ty mẹ; (iv) Thành viên HĐQT công ty có thể đồng thời là thành viên HĐQT của công ty khác.

Đối với điều kiện (iv), pháp luật chứng khoán quy định chi tiết hơn. Theo đó, một thành viên trong HĐQT của một công ty đại chúng chỉ được phép đồng thời làm thành viên trong HĐQT của tối đa năm (05) công ty khác[6]. Tuy nhiên, có thể thấy, điều kiện (iv) mang tính chất như một nội dung cho phép đối với vị trí thành viên HĐQT, không mang ý nghĩa như một tiêu chuẩn để trở thành thành viên HĐQT. Do vậy, về mặt kỹ thuật lập pháp, việc quy định điều kiện (iv) trong điều khoản về “tiêu chuẩn, điều kiện thành viên HĐQT”[7] chưa thực sự hợp lý.

b. Thành viên HĐQT không điều hành

Thành viên HĐQT không điều hành là thành viên HĐQT đảm nhận vị trí thành viên của Ủy ban kiểm toán, bên cạnh vị trí Chủ tịch Ủy ban kiểm toán được đảm nhận bởi thành viên độc lập HĐQT[8]. Như vậy, thành viên HĐQT không điều hành xuất hiện trong HĐQT ở mô hình hai tầng.

Ngoài ra, Luật Doanh nghiệp năm 2020 không đưa ra định nghĩa và điều kiện, không có điều chỉnh cụ thể thêm đối với thành viên HĐQT không điều hành. Do đó, điều kiện để trở thành thành viên HĐQT nói chung là điều kiện áp dụng cho cả thành viên HĐQT không điều hành.

Đối với công ty đại chúng, khoản 56 Điều 3 Nghị định số 155/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Chứng khoán (Nghị định số 155/2020/NĐ-CP) quy định: “Thành viên Hội đồng quản trị không điều hành (sau đây gọi là thành viên không điều hành) là thành viên Hội đồng quản trị không phải là Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó Giám đốc), Kế toán trưởng và những người điều hành khác theo quy định của Điều lệ công ty”.

Người điều hành được quy định tại khoản 55 Điều 3 Nghị định số 155/2020/NĐ-CP: Người điều hành doanh nghiệp là Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó Giám đốc), kế toán trưởng và người điều hành khác theo quy định của Điều lệ công ty.

Từ các quy định này cho thấy, thành viên HĐQT không điều hành là thành viên không nắm giữ chức vụ trong chức năng điều hành doanh nghiệp (Tổng giám đốc, Giám đốc và các cấp điều hành bên dưới theo quy định tại Điều lệ công ty) và ngược lại. Tuy nhiên, cách hiểu này chỉ áp dụng đối với công ty đại chúng, chưa có cơ sở pháp lý để xác định thế nào là thành viên HĐQT điều hành/không điều hành đối với công ty cổ phần thông thường.

Về tỷ lệ thành viên trong cơ cấu HĐQT, đối với công ty đại chúng phải có ít nhất một phần ba (1/3) thành viên HĐQT là thành viên không điều hành[9]. Tuy nhiên, tỷ lệ này không bị khống chế trong công ty cổ phần thông thường. Trong trường hợp số lượng thành viên không điều hành trong HĐQT quá ít (tối thiểu sẽ là 01 thành viên)[10], chức năng giám sát những người điều hành của HĐQT có thể không được bảo đảm hiệu quả. Việc để ngỏ vấn đề này trong quy định của pháp luật doanh nghiệp hiện hành cho thấy, chức năng quản trị của HĐQT trong công ty cổ phần ở Việt Nam chưa thực sự được chú trọng so với chức năng quản lý, điều hành.

c. Thành viên độc lập HĐQT

Luật Doanh nghiệp năm 2020 và Luật Chứng khoán năm 2019 đều không đưa ra định nghĩa về thành viên độc lập HĐQT. Pháp luật doanh nghiệp chỉ quy định trong mô hình quản trị công ty cổ phần hai tầng phải có thành viên độc lập HĐQT và tiêu chuẩn, điều kiện của thành viên độc lập HĐQT[11]. Theo đó, thành viên độc lập HĐQT là người: (i) Không thuộc Đại hội đồng cổ đông, HĐQT, Ban kiểm soát, người quản lý công ty; (ii) Không có mối quan hệ nhân thân với các vị trí quản lý, cổ đông lớn và người có quyền kiểm soát (trực tiếp hoặc gián tiếp sở hữu ít nhất 01% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết của công ty…).

Có thể thấy, sự “không liên quan” với các cổ đông lớn, vị trí quản lý, người có quyền kiểm soát và những người có mối quan hệ nhân thân tạo ra tính “độc lập” cho thành viên độc lập HĐQT. Tính “độc lập” này cần thiết để bảo đảm ngăn chặn xung đột lợi ích, ảnh hưởng đến sự khách quan, minh bạch trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của thành viên độc lập HĐQT. Qua đó, hướng tới bảo đảm lợi ích tổng thể của công ty.

Tuy vậy, ở một mức độ nhất định, các tiêu chuẩn nêu trên chưa thực sự rõ ràng, thuận tiện để áp dụng. Ví dụ, chưa có tiêu chí để xác định thế nào là “cổ đông lớn”. Nội hàm thuật ngữ này chỉ được làm rõ trong Luật Chứng khoán năm 2019, áp dụng cho công ty đại chúng, theo đó, cổ đông lớn là cổ đông sở hữu từ 5% cổ phần có quyền biểu quyết tại công ty[12]. Tương tự, Luật Doanh nghiệp năm 2020 cũng chưa đưa ra định nghĩa thế nào là “sở hữu gián tiếp”. Điều này gây ra khó khăn trên thực tế áp dụng cho các chủ thể.

Về vai trò của thành viên độc lập HĐQT, Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định thành viên độc lập HĐQT thực hiện vai trò của mình thông qua vị trí Chủ tịch Ủy ban kiểm toán. Khảo sát ở các công ty cổ phần niêm yết, vai trò của thành viên độc lập HĐQT chú trọng nhiều đến công tác giám sát và cố vấn[13]. Thực tiễn này tương thích với quy định về vị trí Chủ tịch Ủy ban kiểm toán mà thành viên độc lập HĐQT đảm nhận, cũng hợp lý trong sự phân định chức năng, quyền hạn để tránh được xung đột về vai trò giữa các loại thành viên trong HĐQT và Ban điều hành.

Về số lượng thành viên trong cơ cấu của HĐQT, ở công ty cổ phần thông thường, tỷ lệ thành viên độc lập HĐQT phải bảo đảm 20% tổng số thành viên HĐQT (1/5)[14]. Đối với công ty đại chúng chưa niêm yết tổ chức theo mô hình quản trị hai tầng, tỷ lệ phải bảo đảm ít nhất là 20% (1/5)[15]. Đối với công ty niêm yết, số lượng thành viên độc lập HĐQT có thể từ 01 - 03 tùy thuộc số lượng thành viên HĐQT (trong khoảng từ 03 - 11 người)[16]. Tuy nhiên, trên thực tế, việc tuân thủ chủ yếu để đáp ứng yêu cầu luật định. Hiện tại, có nhiều công ty không có thành viên độc lập HĐQT trong HĐQT hoặc có nhưng với số lượng thấp hơn quy định. Chẳng hạn, Công ty cổ phần Tập đoàn Hòa Phát (HPG) và Tổng công ty Điện lực dầu khí Việt Nam (POW)[17].

Về nhiệm kỳ của thành viên độc lập HĐQT, một cá nhân chỉ được bầu giữ vị trí này của một công ty không quá hai nhiệm kỳ liên tục[18]. Mỗi nhiệm kỳ được quy định không vượt quá 05 năm. Do đó, nhiệm kỳ của thành viên độc lập HĐQT sẽ không quá 10 năm. Quy định này có tính hợp lý bởi vì sẽ giúp bảo đảm tính độc lập, khách quan của thành viên độc lập HĐQT. Bởi lẽ, sau một thời gian tham gia sâu vào quản trị, thành viên độc lập HĐQT có thể phát sinh quyền lợi, trách nhiệm liên quan đến các thành viên HĐQT, cổ đông khác.

Về cơ chế bầu thành viên độc lập HĐQT, khoản 3 Điều 148 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định cơ chế bầu dồn phiếu nếu Điều lệ công ty không có quy định khác. Thực tế chứng minh rằng, tính hiệu quả của thành viên độc lập HĐQT phụ thuộc nhiều vào việc lựa chọn, chất lượng và hiệu quả làm việc của họ. Tuy nhiên, với cơ chế bầu dồn phiếu, các cổ đông có quyền chi phối, kiểm soát có thể tác động việc đề cử, bổ nhiệm, bỏ qua ý kiến của cổ đông thiểu số. Điều này dẫn tới tính độc lập của thành viên độc lập HĐQT khó được bảo đảm.

1.2. Thư ký

Tương đồng với thông lệ quốc tế, pháp luật Việt Nam quy định chức danh thư ký không bắt buộc phải có. Khi thấy cần thiết, HĐQT bổ nhiệm thư ký để hỗ trợ HĐQT và thành viên HĐQT thực hiện chức năng, nhiệm vụ[19]. Ngoài ra, pháp luật doanh nghiệp hiện hành không quy định điều kiện, tiêu chuẩn để trở thành thư ký.

Về mặt kỹ thuật trình bày, quy định về thư ký được thiết kế trong điều khoản quy định về Chủ tịch HĐQT là chưa hợp lý. Bởi lẽ, Chủ tịch HĐQT không có vai trò trong việc bổ nhiệm thư ký và chức danh này không có vai trò hỗ trợ riêng cho Chủ tịch HĐQT.

1.3. Ủy ban kiểm toán

Ủy ban kiểm toán là cơ quan bắt buộc phải có trong mô hình quản trị hai tầng. Khoản 1 Điều 161 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định: Ủy ban kiểm toán là cơ quan chuyên môn thuộc HĐQT. Ủy ban kiểm toán có số lượng từ hai thành viên trở lên. Chủ tịch Ủy ban kiểm toán phải là thành viên độc lập HĐQT. Các thành viên khác của Ủy ban kiểm toán phải là thành viên HĐQT không điều hành.

Tên gọi “Ủy ban kiểm toán” là điểm mới trong Luật Doanh nghiệp năm 2020, thay thế tên gọi “Ban kiểm toán nội bộ” quy định tại Luật Doanh nghiệp năm 2014. Sự thay đổi này đã giải quyết được tình trạng nhầm lẫn dẫn đến khó khăn trong thực tiễn tổ chức và quản lý công ty cổ phần trên thực tế. Đó là, tên gọi “Ban kiểm toán nội bộ” trực thuộc HĐQT có thể gây nhầm lẫn với một cơ quan trùng tên nhưng lại trực thuộc Giám đốc/Ban Giám đốc, với chức năng, nhiệm vụ khác nhau.

Ngoài số lượng thành viên và đối tượng để trở thành thành viên Ủy ban kiểm toán, Chủ tịch Ủy ban kiểm toán, pháp luật doanh nghiệp hiện hành chưa có thêm quy định nào về cơ chế, cách thức thiết lập Ủy ban kiểm toán và những tiêu chuẩn, điều kiện cụ thể đối với chức danh Chủ tịch Ủy ban kiểm toán, cũng như chức danh thành viên Ủy ban kiểm toán. Riêng đối với công ty đại chúng, những vấn đề này được quy định chi tiết hơn trong pháp luật chứng khoán[20]. Điều này vô hình chung tạo ra khó khăn cho các nhà đầu tư khi lựa chọn áp dụng và trong quá trình áp dụng mô hình hai tầng - vốn là một xu hướng quản trị công ty hiện đại trên thế giới, nhưng được coi là khá mới ở Việt Nam.

2. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về Hội đồng quản trị trong công ty cổ phần

Một là, điều chỉnh về mặt kỹ thuật đối với quy định về điều kiện trở thành thành viên HĐQT (tại khoản 1 Điều 155 Luật Doanh nghiệp năm 2020) và quy định về thư ký công ty (tại khoản 5 Điều 156 Luật Doanh nghiệp năm 2020). Theo đó, nên điều chỉnh như sau:

(i) Nội dung “thành viên HĐQT công ty có thể đồng thời là thành viên HĐQT của công ty khác” cần tách ra thành khoản riêng, không thuộc khoản 1 Điều 155 (quy định về “tiêu chuẩn và điều kiện để trở thành thành viên HĐQT”). Bởi lẽ, nội dung này mang tính cho phép, chứ không phải là điều kiện để trở thành thành viên HĐQT.

(ii) Nội dung về “thư ký công ty” trong khoản 5 Điều 156 (quy định về “Chủ tịch HĐQT”) nên được quy định tách biệt. Bởi lẽ, thư ký công ty không phải là chức danh thư ký riêng cho Chủ tịch HĐQT, mà được bổ nhiệm để hỗ trợ HĐQT thực hiện chức năng, nhiệm vụ như: Hỗ trợ tổ chức triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông, HĐQT; ghi chép các biên bản họp; hỗ trợ thành viên HĐQT trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ được giao; hỗ trợ HĐQT trong áp dụng và thực hiện nguyên tắc quản trị công ty; hỗ trợ công ty trong xây dựng quan hệ cổ đông và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cổ đông...

Hai là, bổ sung quy định để định nghĩa các thuật ngữ “cổ đông lớn” và “sở hữu gián tiếp” trong khoản 2 Điều 155 Luật Doanh nghiệp năm 2020. Có thể tham khảo các định nghĩa về “cổ đông lớn” và “sở hữu gián tiếp” lần lượt được quy định tại Luật Chứng khoán năm 2019 và Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) như sau:

(i) “Cổ đông lớn” là cổ đông sở hữu từ 5% cổ phần có quyền biểu quyết của công ty.

(ii) “Sở hữu gián tiếp” là việc sở hữu vốn điều lệ, vốn cổ phần của tổ chức tín dụng thông qua người có liên quan hoặc thông qua ủy thác đầu tư[21].

Ba là, bổ sung quy định ghi nhận rõ thẩm quyền và quyền hạn của thành viên độc lập HĐQT. Bởi lẽ, hiện nay, thẩm quyền và quyền hạn của thành viên độc lập HĐQT chủ yếu phụ thuộc vào Điều lệ công ty mà không được pháp luật quy định cụ thể. Ở một mức độ nhất định, các cổ đông kiểm soát (những người cùng nắm giữ một số lượng lớn cổ phần có quyền biểu quyết), thông qua Điều lệ công ty, có thể gây ảnh hưởng đến thẩm quyền và quyền hạn của thành viên độc lập HĐQT. Bởi vì, nội dung Điều lệ công ty phụ thuộc vào quyết định của Đại hội đồng cổ đông của công ty. Quyết định của Đại hội đồng cổ đông được thông qua nếu có ít nhất 65% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết được thông qua.

Bốn là, có sự điều chỉnh về cơ chế bầu thành viên độc lập HĐQT để tránh tình trạng các cổ đông kiểm soát có thể tác động đến việc đề cử và bổ nhiệm thành viên độc lập HĐQT. Học tập kinh nghiệm một số quốc gia, việc bỏ phiếu hai lớp để bầu thành viên độc lập HĐQT nên được áp dụng. Ví dụ, ở Israel, các thành viên HĐQT bên ngoài phải được bầu thông qua hai lần bỏ phiếu: Một lần bỏ phiếu của tất cả các cổ đông và một lần bỏ phiếu của các cổ đông thiểu số.

Năm là, pháp luật doanh nghiệp cần bổ sung quy định dẫn chiếu sang pháp luật chứng khoán về chức danh thành viên HĐQT không điều hành. Sự bổ sung này nhằm bảo đảm tính logic của pháp luật, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp khi tiến hành xây dựng mô hình quản trị công ty cổ phần của mình, tránh trường hợp doanh nghiệp gặp khó khăn khi tìm kiếm cơ sở pháp lý quy định về chức danh thành viên HĐQT không điều hành. Theo đó, có thể sửa đổi, bổ sung theo hướng, tiêu chuẩn, điều kiện của thành viên HĐQT không điều hành được thực hiện theo quy định của pháp luật chứng khoán.

ThS. Nguyễn Thị Quỳnh Anh

Trường Đại học Quốc tế Sài Gòn


[1] Nguyễn Hữu Trinh, Quản trị công ty cổ phần của các quốc gia trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam, Tạp chí Công thương, Số 01, tháng 01/2022.

[2] Điều 137 Luật Doanh nghiệp năm 2020.

[3] Khoản 1 Điều 154 Luật Doanh nghiệp năm 2020.

[4] Khoản 2 Điều 154 Luật Doanh nghiệp năm 2020.

[5] Khoản 1 Điều 155 Luật Doanh nghiệp năm 2020.

[6] Khoản 3 Điều 275 Nghị định số 155/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Chứng khoán.

[7] Điểm c khoản 1 Điều 155 Luật Doanh nghiệp năm 2020.

[8] Điều 161 Luật Doanh nghiệp năm 2020.

[9] Khoản 2 Điều 276 Nghị định số 155/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Chứng khoán.

[10] Rút ra từ quy định tại Khoản 1 Điều 161 Luật Doanh nghiệp năm 2020.

[11] Khoản 1 Điều 137, Khoản 2 Điều 155 Luật Doanh nghiệp năm 2020.

[12] Khoản 18 Điều 4 Luật Chứng khoán năm 2019.

[13] Perceptions of independent directors about their roles and challenges on corporate boards: Evidence from a survey in Vietnam, Mai Nguyen, Elaine Evans, and Meiting Lu (2019).

[14] Khoản 1 Điều 137 Luật Doanh nghiệp năm 2020.

[15] Khoản 3 Điều 276 Nghị định số 155/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Chứng khoán.

[16] Khoản 4 Điều 276 Nghị định số 155/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Chứng khoán.

[17] Hội Thành viên Độc lập Hội đồng Quản trị Doanh nghiệp Việt Nam (VNIDA) phối hợp với đối tác chiến lược của Hội là FiinGroup Việt Nam (2023), Báo cáo khảo sát thành viên độc lập HĐQT tại các công ty đại chúng ở Việt Nam, tr. 50.

[18] Khoản 2 Điều 154 Luật Doanh nghiệp năm 2020.

[19] Khoản 5 Điều 156 Luật Doanh nghiệp 2020

[20] Mục 4, từ Điều 282 đến Điều 284 Nghị định số 155/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Chứng khoán.

[21] “Người có liên quan” được định nghĩa theo quy định tại khoản 23 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2020 (tương tự như định nghĩa quy định tại khoản 28 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bàn về Điều luật “Quan lại nhận tiền của” trong Hoàng Việt luật lệ và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam

Bàn về Điều luật “Quan lại nhận tiền của” trong Hoàng Việt luật lệ và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam

Tóm tắt: Trước yêu cầu phòng, chống tham nhũng hiện nay, việc nghiên cứu di sản lập pháp truyền thống mang ý nghĩa thiết thực. Nghiên cứu phân tích Điều luật[I] “Quan lại nhận tiền của” thuộc Chương IX (Nhận hối lộ) trong Hoàng Việt luật lệ[II] nhằm làm rõ tư duy lập pháp và giá trị lịch sử của Điều luật. Phạm vi nghiên cứu tập trung phân tích Điều luật “Quan lại nhận tiền của”, đồng thời, so sánh với Quốc triều Hình luật, Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng (UNCAC) và Bộ luật Hình sự năm 2015[III]. Nghiên cứu sử dụng phương pháp sử liệu học để thu thập tư liệu cổ luật; các phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp để làm rõ các yếu tố cấu thành, giá trị, giới hạn lịch sử, đồng thời, so sánh Điều luật này với các quy định có liên quan. Từ đó, nghiên cứu đưa ra một số kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam.
Sử dụng đất kết hợp đa mục đích cho phát triển điện mặt trời tại Việt Nam - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Sử dụng đất kết hợp đa mục đích cho phát triển điện mặt trời tại Việt Nam - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Nghị quyết số 70-NQ/TW[1] xác định năng lượng tái tạo là ưu tiên chiến lược trong chuyển dịch cơ cấu năng lượng quốc gia. Trong bối cảnh điện mặt trời cần diện tích đất hoặc mặt nước lớn, cơ chế sử dụng đất kết hợp đa mục đích tại Điều 218 Luật Đất đai năm 2024 được kỳ vọng góp phần khai thác hiệu quả quỹ đất. Nghiên cứu đánh giá mức độ đồng bộ, tính khả thi và khả năng dự báo của khung pháp lý đất đai hiện hành, trong mối liên hệ với pháp luật về xây dựng, môi trường và điện lực đối với mô hình này. Bằng phương pháp phân tích quy phạm kết hợp phân tích thể chế liên ngành, nghiên cứu làm rõ việc cụ thể hóa hai yêu cầu tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 218 Luật Đất đai năm 2024 đối với dự án phát điện thương mại có vòng đời kéo dài hàng chục năm, nhận diện bốn nhóm bất cập về quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đồng thời, đề xuất định hướng hoàn thiện theo ba giai đoạn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.
Hoàn thiện pháp luật về xử lý trường hợp trúng đấu giá quyền sử dụng đất nhưng vi phạm nghĩa vụ tài chính

Hoàn thiện pháp luật về xử lý trường hợp trúng đấu giá quyền sử dụng đất nhưng vi phạm nghĩa vụ tài chính

Tóm tắt: Tình trạng người trúng đấu giá quyền sử dụng đất không thực hiện nghĩa vụ tài chính và hành vi thao túng đấu giá gây thất thu ngân sách, làm sai lệch giá đất, ảnh hưởng đến tính minh bạch của thị trường bất động sản. Nghiên cứu đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam về xử lý các hành vi này trên cơ sở phân tích quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng. Bằng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh quy phạm pháp luật và nghiên cứu tình huống, kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật còn những bất cập về xử lý tiền đặt trước, hủy kết quả trúng đấu giá, xác định thời hạn cấm tham gia đấu giá, kiểm soát hành vi né tránh chế tài thông qua pháp nhân trung gian và giải quyết hậu quả sau khi hủy kết quả đấu giá. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện quy định về căn cứ, điều kiện và hậu quả pháp lý của các biện pháp xử lý; tăng cường kiểm soát lịch sử vi phạm, bảo đảm tính minh bạch và cạnh tranh trong đấu giá quyền sử dụng đất.
Hoàn thiện quy định về đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật trong dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật

Hoàn thiện quy định về đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật trong dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật

Tóm tắt: Đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật là hoạt động đo lường mức độ đạt được mục tiêu chính sách và tác động thực tế của quy định pháp luật sau khi tổ chức thi hành. Nghiên cứu khái quát các tiêu chí đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật, phân tích những quy định tương ứng trong dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật1 (dự thảo Luật). Nghiên cứu cho thấy, mặc dù dự thảo Luật bước đầu xác lập cơ sở pháp lý cho hoạt động này, nhưng một số quy định còn hạn chế, bất cập. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí, phương thức đánh giá, xác định rõ trách nhiệm phối hợp giữa các chủ thể và cơ chế sử dụng kết quả đánh giá để điều chỉnh, hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện cơ chế công nhận quyền sử dụng đất có nguồn gốc nông, lâm trường trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)

Hoàn thiện cơ chế công nhận quyền sử dụng đất có nguồn gốc nông, lâm trường trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)

Tóm tắt: Trong quá trình sửa đổi Luật Đất đai, việc xử lý đất có nguồn gốc nông, lâm trường đặt ra yêu cầu hoàn thiện điều kiện công nhận quyền sử dụng đất và cơ chế bảo đảm thực hiện quyền này trên thực tế. Nghiên cứu phân tích các quy phạm pháp luật hiện hành, đối chiếu với dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)1 (dự thảo Luật). Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc công nhận quyền sử dụng đất còn phụ thuộc đáng kể vào công tác rà soát, lập phương án sử dụng đất và xử lý quỹ đất có nguồn gốc nông, lâm nghiệp. Những vướng mắc tập trung ở tiến độ thực hiện, điều kiện công nhận, mối quan hệ với các trường hợp không cấp Giấy chứng nhận và cơ chế xử lý khi công ty không thực hiện trách nhiệm. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các quy định của dự thảo Luật về điều kiện công nhận quyền, sự tham gia của người đang sử dụng đất và cơ chế tiếp tục xử lý quỹ đất, nhằm bảo đảm khả năng thực hiện quyền của người đang sử dụng đất.
Hoàn thiện cơ chế xử lý vật chứng trong tố tụng hình sự Việt Nam

Hoàn thiện cơ chế xử lý vật chứng trong tố tụng hình sự Việt Nam

Tóm tắt: Xử lý vật chứng là hoạt động xác định địa vị pháp lý của vật chứng, đồng thời, tác động trực tiếp đến giá trị chứng minh và quyền tài sản. Nghiên cứu phân tích Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2025 (BLTTHS năm 2015) trong mối liên hệ với Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2025 (BLHS năm 2015) và pháp luật dân sự, tập trung làm rõ căn cứ tịch thu, thẩm quyền, hình thức và thủ tục xử lý; tiêu chí xác định công cụ, phương tiện phạm tội và lỗi của chủ sở hữu; cơ chế xử lý tài sản chung, tài sản thế chấp; phạm vi, trình tự giao vật chứng đặc thù cho cơ quan chuyên ngành và việc bảo đảm quyền của người thứ ba. Trên cơ sở nhận diện các bất cập, nghiên cứu đề xuất sửa đổi Điều 85, Điều 106 BLTTHS năm 2015, hoàn thiện thủ tục đối với tài sản bảo đảm và ban hành hướng dẫn liên ngành nhằm thống nhất hoạt động giao, tiếp nhận, bảo quản và xử lý vật chứng.
Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số và yêu cầu hiện đại hóa công tác quản lý đất đai, việc hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai cần được đặt trong mối quan hệ với hoạt động công chứng, cơ sở dữ liệu đất đai và cơ chế xác lập quyền đối với bất động sản (BĐS). Trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề lý luận, phân tích các mô hình đăng ký đất đai và tham khảo kinh nghiệm pháp luật của Pháp, Đức, Trung Quốc…, nghiên cứu làm rõ vai trò của hoạt động công chứng trong giao dịch về quyền sử dụng đất (QSDĐ), từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản lý đất đai.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo (AI) ngày càng đóng vai trò quan trọng, được ứng dụng rộng rãi trong quản trị công và hoạt động lập pháp tại nhiều quốc gia trên thế giới và Việt Nam. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở chính trị, pháp lý, nguyên tắc và phạm vi ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, AI có thể hỗ trợ hiệu quả nhiều công đoạn như xử lý dữ liệu, phân tích chính sách, rà soát văn bản, tổng hợp ý kiến và hỗ trợ kỹ thuật lập pháp. Tuy nhiên, AI chỉ nên được sử dụng như công cụ hỗ trợ dưới sự kiểm soát của con người, không thay thế thẩm quyền, trách nhiệm chính trị, pháp lý và trách nhiệm giải trình của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động lập pháp. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam.
Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Tóm tắt: Pháp quyền xã hội chủ nghĩa là khái niệm được sử dụng rộng rãi ở các quốc gia xã hội chủ nghĩa, nhưng có nội hàm và cách tiếp cận khác nhau, trong khi các nghiên cứu so sánh về vấn đề này còn tương đối hạn chế. Nghiên cứu so sánh quá trình hình thành và phát triển mô hình pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và Trung Quốc cho thấy, Việt Nam chủ yếu tiếp thu mô hình Xô Viết và chịu ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa, thể hiện xu hướng phổ quát pháp lý; ngược lại, Trung Quốc chủ động “Trung Quốc hóa” các học thuyết phương Tây theo hướng đặc thù pháp lý. Trên cở sở đó, nghiên cứu đề xuất Việt Nam có thể tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của Trung Quốc trong xây dựng và hoàn thiện nền pháp quyền xã hội chủ nghĩa phù hợp với thực tiễn đất nước.
Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 81/2025/QH15 (Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024) cho phép ghi âm trong suốt phiên tòa và ghi hình ở phần khai mạc và tuyên án. Các nghiên cứu trong nước về xét xử công khai, quyền tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin hầu như chưa đánh giá riêng quy định này theo học thuyết tương xứng và cân bằng quyền hiến định. Áp dụng ba điều kiện hạn chế quyền tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 (Hiến pháp năm 2013) cho thấy quy định này phù hợp nhưng chưa đáp ứng đầy đủ tính cần thiết và tính tương xứng, bởi tồn tại biện pháp ít hạn chế hơn mà vẫn bảo vệ tương đương nhóm chủ thể yếu thế. Từ học thuyết cân bằng quyền, nghiên cứu xây dựng tiêu chí ưu tiên giữa quyền tự do báo chí và quyền riêng tư; đồng thời, đề xuất sửa đổi khoản 3 Điều 141 và tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp** (Dự thảo Thông tư) để tương thích với khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025 và thiết lập cơ chế phối hợp giữa Tòa án và báo chí.
Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Tóm tắt: Quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh là hai phạm trù pháp lý quan trọng, phản ánh sự phát triển của xã hội. Trong bối cảnh truyền thông số phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong hoạt động báo chí ngày càng phổ biến, làm tăng nguy cơ xâm phạm đời sống riêng tư của trẻ em và phát sinh xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền được bảo vệ đời sống riêng tư của trẻ em. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và nhận diện các dạng xung đột pháp lý giữa hai quyền, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật trong giải quyết xung đột và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm hài hòa giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh.
Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, đồng thời, nâng cao chất lượng xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Nghiên cứu phân tích hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với chính sách và pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện, nghiên cứu làm rõ thực trạng chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.

Theo dõi chúng tôi trên: