Thứ sáu 02/10/2026 09:04
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện quy định pháp luật về hợp đồng vô hiệu do vi phạm hình thức theo pháp luật Việt Nam

Bài viết đề cập đến các quy định của pháp luật về hợp đồng vô hiệu do vi phạm hình thức, đồng thời, phân tích một số vướng mắc, bất cập và đưa ra các kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về vấn đề này.

1. Quy định của pháp luật về hợp đồng vô hiệu do vi phạm hình thức

Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự[1]. Như vậy, quy định về hợp đồng vô hiệu nằm trong khuôn khổ của giao dịch dân sự vô hiệu. Điều 129 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức như sau:

“Giao dịch dân sự vi phạm quy định điều kiện có hiệu lực về hình thức thì vô hiệu, trừ trường hợp sau đây:

1. Giao dịch dân sự đã được xác lập theo quy định phải bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định của luật mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó.

2. Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó. Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực”.

Như vậy, trong cả hai trường hợp ngoại lệ trên, pháp luật đều không yêu cầu các bên tham gia thực hiện thủ tục công chứng, chứng thực. Điều luật này phản ánh tinh thần của Bộ luật Dân sự năm 2015, đã coi trọng bản chất, tôn trọng ý chí và cam kết của các bên, tuân thủ các nguyên tắc cơ bản nói chung và các nguyên tắc tự do trong hợp đồng của Bộ luật Dân sự nói riêng. Do đó, việc xác định có hiệu lực hay vô hiệu của hợp đồng phụ thuộc vào việc các bên có thực hiện nghĩa vụ của mình hay không. Theo quy định trên thì một hợp đồng vi phạm quy định về hình thức thì chưa chắc hợp đồng đó đã vô hiệu, mà nó chỉ vô hiệu khi một hoặc các bên chủ thể tham gia có yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng đó vô hiệu. Một hoặc các bên tham gia giao kết hợp đồng đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong hợp đồng thể hiện sự thiện chí, tích cực, mong muốn thực hiện hợp đồng thì hợp đồng không bị vô hiệu. Ngược lại, nếu nghĩa vụ chưa được thực hiện ít nhất hai phần ba và một hoặc các bên có yêu cầu thì Tòa án tuyên bố hợp đồng đó vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức.

Pháp luật tại Việt Nam quy định rằng các giao dịch dân sự (hợp đồng) vi phạm quy định về hình thức sẽ bị coi là vô hiệu. Vì thế, các hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu sẽ được áp dụng đối với những trường hợp vi phạm quy định về hình thức. Hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu được quy định tại Điều 131 Bộ luật Dân sự năm 2015, theo đó, khi một giao dịch dân sự vô hiệu sẽ không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập. Việc không phát sinh thay đổi hay chấm dứt quyền và nghĩa vụ giúp duy trì tính công bằng và ổn định trong quá trình giải quyết hậu quả của giao dịch. Khi hợp đồng vô hiệu thì các bên theo nguyên tắc phải khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả, giúp giữ cho các bên không bị tổn thất không công bằng trong trường hợp hợp đồng vô hiệu. Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó; bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường.

Về thời hiệu khởi kiện của hợp đồng vô hiệu do vi phạm hình thức, Điều 132 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu quy định tại các Điều 125, 126, 127, 128 và 129 của Bộ luật này là 02 năm, kể từ ngày: a) Người đại diện của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự biết hoặc phải biết người được đại diện tự mình xác lập, thực hiện giao dịch; b) Người bị nhầm lẫn, bị lừa dối biết hoặc phải biết giao dịch được xác lập do bị nhầm lẫn, do bị lừa dối; c) Người có hành vi đe dọa, cưỡng ép chấm dứt hành vi đe dọa, cưỡng ép; d) Người không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình xác lập giao dịch; đ) Giao dịch dân sự được xác lập trong trường hợp giao dịch dân sự không tuân thủ quy định về hình thức”. Đối với các giao dịch dân sự được quy định tại Điều 123 và Điều 124 của Bộ luật này thì thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu không bị hạn chế. Như vậy, theo quy định này thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm hình thức là hai năm.

2. Những vướng mắc, bất cập trong quy định pháp luật về giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm hình thức

Thứ nhất, pháp luật hiện hành chưa dự liệu đến khả năng sự thoả thuận lựa chọn hình thức hợp đồng của các bên là điều kiện để hợp đồng trở nên có hiệu lực.

Khoản 2 Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015 có nhấn mạnh đến “trường hợp luật có quy định” nhưng quan điểm này chưa thực sự đầy đủ khi không dự liệu đến khả năng của các bên có thể thỏa thuận lựa chọn hình thức của hợp đồng là một trong những điều kiện cơ bản để hợp đồng trở nên có hiệu lực. Nguyên tắc tự do thỏa thuận trong lĩnh vực pháp luật dân sự đề cao sự linh hoạt của các bên tham gia giao dịch, cho phép họ tự do thỏa thuận về hình thức làm điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, ngay cả khi không có yêu cầu bắt buộc từ phía pháp luật về mặt hình thức. Chẳng hạn, trong trường hợp một thỏa thuận hợp đồng đặt cọc mua bán nhà, các bên có khả năng tự do thỏa thuận rằng hợp đồng sẽ chỉ có hiệu lực pháp luật khi được lập thành văn bản có công chứng. Vậy, nếu một trong các bên tham gia không tuân thủ quy định bắt buộc về hình thức trong hợp đồng theo như đã thỏa thuận thì hợp đồng có bị vô hiệu hay không. Do đó, quan điểm chỉ tập trung vào “trường hợp luật có quy định” cần được mở rộng để bảo đảm tính linh hoạt và đa dạng trong quá trình thỏa thuận hình thức hợp đồng, từ đó, nâng cao tính công bằng và minh bạch trong quá trình thực hiện các giao dịch dân sự.

Thứ hai, chưa có hướng dẫn về những loại hợp đồng cụ thể bắt buộc tuân thủ điều kiện về hình thức.

Điều 129 Bộ luật Dân sự năm 2015 không đưa ra những hướng dẫn cụ thể về những loại hợp đồng nào bắt buộc phải tuân thủ điều kiện về hình thức và trong trường hợp nào hình thức trở thành điều kiện có hiệu lực của hợp đồng. Bộ luật Dân sự năm 2015 chỉ tập trung vào một số loại hợp đồng nhất định như hợp đồng mua bán, tặng cho nhà ở, hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất… để đặt ra yêu cầu về hình thức bắt buộc. Bên cạnh đó, nhiều văn bản pháp luật chuyên ngành có đưa ra các yêu cầu cụ thể về nội dung bắt buộc trong hợp đồng. Ví dụ: Luật Xây dựng đề cập đến 14 điều cần có trong hợp đồng xây dựng, trong khi Luật Kinh doanh bất động sản đưa ra 12 điều bắt buộc trong hợp đồng mua, bán, cho thuê, cho thuê mua nhà hay công trình xây dựng… Trong trường hợp mà hợp đồng không đáp ứng đầy đủ các nội dung bắt buộc nêu trên thì liệu có vi phạm điều kiện về hình thức của hợp đồng hay không[2].

Bên cạnh đó, sự “tản mạn” của các quy định pháp luật từ nhiều văn bản luật khác nhau khiến cho người dân và cả người làm công tác xét xử đều gặp khó khăn trong việc nắm bắt, hiểu rõ về những hợp đồng cụ thể nào đòi hỏi tuân thủ nghiêm ngặt về hình thức và quy định về thời hiệu khởi kiện như thế nào[3]. Sự phân tán này không chỉ tạo ra khó khăn cho người giao kết hợp đồng mà còn ảnh hưởng đến quyền lợi và nghĩa vụ của họ trong quá trình thực hiện các giao dịch dân sự. Trên thực tế hiện nay, có những người lợi dụng một số kẽ hở trong hệ thống pháp luật, bằng cách lợi dụng sự thiếu kiến thức, thông tin cũng như sự chênh lệch trong quá trình tiếp cận thông tin của một số người khi tham gia giao dịch, thường cố tình giao kết những hợp đồng không tuân thủ quy định về hình thức, chủ yếu nhằm mục đích trốn tránh sự kiểm soát của cơ quan nhà nước và trục lợi cá nhân (như việc ký kết hợp đồng mua, bán đất nhưng lại không làm thủ tục chứng thực nhằm mục đích trốn thuế). Hậu quả của điều này là những vụ tranh chấp ngày càng trở nên phổ biến và phức tạp, với sự tinh vi có chiều hướng gia tăng. Trên thực tế, đã có sự hiểu lầm vô cùng nghiêm trọng tồn tại trong cộng đồng dân cư, đó là, khi một số người dân thực hiện giao kết những hợp đồng không tuân thủ quy định về hình thức nên hợp đồng bị vô hiệu, tuy nhiên, khi có yêu cầu Tòa án xử lý thì hầu hết các hợp đồng này lại được công nhận và giải quyết hậu quả theo hướng công nhận giao dịch. Ví dụ điển hình nhất là Án lệ số 55/2022/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 07/9/2022 và được công bố tại Quyết định số 323/QĐ-CA ngày 14/10/2022 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao về việc công bố án lệ. Tình huống án lệ là hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập trước ngày 01/01/2017 chưa được công chứng/chứng thực nhưng bên nhận chuyển nhượng đã thực hiện hai phần ba nghĩa vụ của mình nên Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của hợp đồng. Vì vậy, những người tham gia vào giao dịch nhầm tưởng việc làm của họ là không sai, dù có vi phạm pháp luật trong quá trình giao dịch nhưng cuối cùng vẫn được Nhà nước công nhận và bảo vệ. Điều này ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên yếu thế khi tham gia giao dịch.

Thứ ba, chưa có hướng dẫn thống nhất về việc xác định “một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong hợp đồng”.

Một trong những vấn đề lớn mà Điều 129 Bộ luật Dân sự năm 2015 đặt ra là khía cạnh liên quan đến việc xác định “một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ” là như thế nào. Vì hiện nay, vẫn chưa có văn bản hướng dẫn chi tiết về cách thức xác định liệu một bên hay các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch. Thực tiễn thực hiện hợp đồng cho thấy, một hợp đồng có thể chứa nhiều loại nghĩa vụ khác nhau, từ nghĩa vụ tài sản (như việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất) đến các nghĩa vụ phi tài sản (như việc thực hiện các thủ tục pháp lý). Vì vậy, cần phải xác định rõ liệu nghĩa vụ chỉ đơn thuần là nghĩa vụ tài sản hay nó còn bao gồm cả các nghĩa vụ mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng và dựa vào tiêu chí gì để được coi là đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ. Vấn đề này không chỉ nằm ở sự khó khăn khi xác định con số cơ học hai phần ba nghĩa vụ là bao nhiêu mà quan trọng hơn là nếu được áp dụng triệt để và rộng rãi trong tương lai, nó có thể làm suy giảm đáng kể, thậm chí triệt tiêu nguyên tắc trọng thức (sự thoả thuận giữa các bên phải thể hiện dưới hình thức chứng thư văn bản hay văn bản công chứng, chứng thực) của hợp đồng chuyển nhượng quyền lợi trên bất động sản[4].

Thứ tư, về thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu do vi phạm hình thức.

Liên quan đến thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu do không tuân thủ về hình thức hay rộng hơn là giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ về hình thức, theo tác giả, không nên quy định thời hiệu cho giao dịch dân sự này mà coi vi phạm điều kiện về hình thức là một loại giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối. Tức một khi các bên đã thực hiện giao kết hợp đồng mà pháp luật quy định phải tuân thủ về hình thức, nhưng, các bên không tuân thủ thì hợp đồng đó đương nhiên không có hiệu lực pháp luật. Nếu một hoặc các bên yêu cầu Tòa án tuyên bố thì Tòa án tuyên bố hợp đồng đó là vô hiệu và xử lý hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu, có tính đến lỗi của các bên tham gia hợp đồng và xem xét phần hoa lợi, lợi tức của bên ngay tình, cũng như tính đến việc bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình liên quan đến hợp đồng vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức đó. Điều này làm nổi bật tầm quan trọng của việc tuân thủ các quy định pháp luật về hình thức trong quá trình thực hiện giao kết hợp đồng và hỗ trợ trong việc bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan.

Thứ năm, về giải quyết hậu quả pháp lý.

Việc giải quyết hậu quả pháp lý khi các bên phải khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả lại cho nhau những gì đã nhận sau khi hợp đồng bị tuyên bố vô hiệu có nhiều khía cạnh phức tạp và chưa rõ ràng. Trong thực tiễn áp dụng pháp luật, khái niệm “khôi phục lại tình trạng ban đầu” và “hoàn trả cho nhau những gì đã nhận” thường được hiểu là đồng nghĩa với nhau. Tuy nhiên, đây lại là hai vấn đề hoàn toàn khác biệt và sự hiểu lầm này xuất phát từ bản chất của đối tượng chủ yếu trong hợp đồng, thường là tài sản. Trong thực tiễn xét xử, Tòa án yêu cầu các bên tham gia trong hợp đồng vô hiệu phải khôi phục lại tình trạng ban đầu. Tuy nhiên, không phải lúc nào việc hoàn trả tài sản cũng tương đồng với trạng thái tại thời điểm giao dịch được xác lập. Có thể xảy ra những trường hợp tài sản đã bị hỏng, giảm giá trị, hoặc thậm chí đã được tu sửa, xây dựng, nâng cấp làm tăng giá trị. Điều này dẫn đến việc pháp luật không quy định cụ thể về việc hoàn trả tài sản, mà để cho thẩm phán tự quyết định giải pháp phù hợp với từng trường hợp cụ thể. Tình trạng này dẫn đến sự không đồng nhất và không thống nhất trong cách giải quyết và xử lý hậu quả của hợp đồng vô hiệu.

Quy định về việc “bên có lỗi thì phải bồi thường thiệt hại” trong Bộ luật Dân sự năm 2015 không quy định rõ “bên” là ai, là đối tượng nào. Liệu “bên” có lỗi có nghĩa là bên tham gia vào hợp đồng, bên làm hợp đồng vô hiệu hay một chủ thể khác liên quan đến giao dịch? Điều này trở nên khá rắc rối, đặc biệt là khi xem xét trường hợp hợp đồng đã được công chứng nhưng sau đó bị Tòa án tuyên bố vô hiệu. Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật Công chứng năm 2014 quy định: “Công chứng là việc công chứng viên của một tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản”. Trong trường hợp hợp đồng đã được công chứng viên công chứng, tức xác nhận tính hợp pháp của hợp đồng mà bị Tòa án tuyên bố vô hiệu thì công chứng viên có phải chịu trách nhiệm gì hay không? Quy định tại khoản 1 Điều 38 Luật Công chứng năm 2014, việc bồi thường thiệt hại cho người yêu cầu công chứng thuộc về tổ chức hành nghề công chứng có công chứng viên gây ra lỗi trong quá trình công chứng. Nhưng việc quy định “bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường” tại Điều 131 Bộ luật Dân sự năm 2015 chỉ áp dụng cho các “bên” tham gia hợp đồng mà không áp dụng cho công chứng viên. Hiện nay, vấn đề xác định thiệt hại của hợp đồng dân sự vô hiệu nói chung chưa được hướng dẫn cụ thể, chúng ta chỉ có thể dựa vào một số văn bản hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao để nghiên cứu vấn đề này. Tuy nhiên, những văn bản này lại hướng dẫn cho Bộ luật cũ.

3. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về hợp đồng dân sự vô hiệu do vi phạm hình thức

Để bảo đảm tính khả thi và hiệu quả của các quy định về hình thức hợp đồng cũng như để giải quyết một cách minh bạch và công bằng hậu quả pháp lý của những hợp đồng không tuân thủ quy định về hình thức, tác giả đề xuất đưa ra một số kiến nghị như sau:

Thứ nhất, cần sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015 như sau: “Hình thức giao dịch là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp luật có quy định hoặc các bên có thỏa thuận”. Như đã phân tích ở trên, có thể nhận thấy rằng pháp luật đã bỏ qua quyền lựa chọn hình thức làm điều kiện có hiệu lực của hợp đồng trong quy định tại khoản 2 Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015. Điều này đặt ra yêu cầu cần phải thừa nhận quyền tự do thỏa thuận trong việc xác lập hợp đồng của các bên tham gia. Việc điều chỉnh này sẽ giúp làm rõ và bổ sung hơn về quyền của các bên khi thỏa thuận về hình thức hợp đồng mà họ muốn sử dụng.

Thứ hai, nghiên cứu bổ sung Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015 theo hướng quy định cụ thể những loại hợp đồng nào bắt buộc phải tuân thủ quy định về hình thức để nâng cao tính rõ ràng và hiệu quả của hệ thống quy định về hình thức của hợp đồng. Đặc biệt, cần tập trung vào những hợp đồng mà yêu cầu đăng ký, công chứng, chứng thực… Trong trường hợp các hợp đồng này không tuân thủ điều kiện về hình thức, chúng sẽ luôn bị coi là vô hiệu. Đồng thời, cần kiện toàn hệ thống pháp luật, tạo sự hệ thống hóa và thống nhất về quy định này trong các văn bản quy phạm pháp luật, tránh sự chồng chéo và không logic, góp phần giảm thiểu khó khăn trong quá trình xét xử và ngăn chặn những lỗ hổng pháp luật có thể tạo điều kiện cho một số đối tượng cá nhân trục lợi.

Thứ ba, nghiên cứu xác định rõ quy định “hai phần ba” là như thế nào. Việc xác định việc một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong hợp đồng không phải lúc nào cũng dễ dàng. Để giải quyết vấn đề này, cần có sự can thiệp của các cơ quan có thẩm quyền thông qua việc ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết để hỗ trợ quá trình xác định này. Điều này sẽ giúp tạo ra một hệ thống chuẩn mực hóa, tránh những hiểu lầm và tranh cãi không cần thiết trong quá trình xử lý các vấn đề liên quan.

Thứ tư, cần nghiên cứu, sửa đổi Điều 132 Bộ luật Dân sự năm 2015 về thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu như sau: “Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu được quy định tại các điều từ Điều 125 đến Điều 129 của Bộ luật này là hai năm, kể từ ngày phát hiện giao dịch dân sự vi phạm quy định về hình thức”.

Thứ năm, nghiên cứu, bổ sung Điều 131 Bộ luật Dân sự năm 2015 theo hướng làm rõ hơn một số nội dung về bên có lỗi, việc khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả lại cho nhau những gì đã nhận. Cần thực hiện sửa đổi để làm rõ hơn về khái niệm “bên có lỗi”, bao gồm việc xác định liệu “bên có lỗi” có nghĩa là bất kỳ bên nào tham gia vào hợp đồng và vi phạm điều kiện về hình thức, hay chỉ những bên gây ra lỗi trực tiếp. Bên cạnh đó, Nhà nước cần có văn bản hướng dẫn chi tiết về cách áp dụng quy định “các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu”, bao gồm quy trình thực hiện, các biện pháp cụ thể để bảo đảm tính công bằng và minh bạch trong việc khôi phục và cách xử lý các tình huống đặc biệt như lãng phí và chi phí không mong muốn… Từ đó, nhằm bảo đảm rằng quy định của pháp luật là rõ ràng, chính xác, linh hoạt và thực tế hóa, tạo điều kiện thuận lợi cho cả Tòa án và các bên tham gia giao dịch./.

Diệp Linh


[1] Điều 116 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[2] ThS. Trịnh Tuấn Anh (2020), “Hợp đồng vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức - Thực trạng và hướng hoàn thiện”, https://tapchitoaan.vn/hop-dong-vo-hieu-do-khong-tuan-thu-quy-dinh-ve-hinh-thuc-thuc-trang-va-huong-hoan-thien, truy cập ngày 18/12/2023.

[3] Phạm Thị Thảo (2017), “Giao dịch dân sự vô hiệu về hình thức theo pháp luật Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Học viện Khoa học xã hội - Viện hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, tr. 60.

[4] TS. Đỗ Giang Nam (2023), “Hình thức của hợp đồng liên quan đến bất động sản ở một số quốc gia trên thế giới và hàm ý chính sách cho Việt Nam”, http://www.lapphap.vn/Pages/TinTuc/211691/Hinh-thuc-cua-hop-dong-lien-quan-den-bat-dong-san-o-mot-so-quoc-gia-tren-the-gioi-va-ham-y-chinh-sach-cho-Viet-Nam.html, truy cập ngày 18/12/2023.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 81/2025/QH15 (Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024) cho phép ghi âm trong suốt phiên tòa và ghi hình ở phần khai mạc và tuyên án. Các nghiên cứu trong nước về xét xử công khai, quyền tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin hầu như chưa đánh giá riêng quy định này theo học thuyết tương xứng và cân bằng quyền hiến định. Áp dụng ba điều kiện hạn chế quyền tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 (Hiến pháp năm 2013) cho thấy quy định này phù hợp nhưng chưa đáp ứng đầy đủ tính cần thiết và tính tương xứng, bởi tồn tại biện pháp ít hạn chế hơn mà vẫn bảo vệ tương đương nhóm chủ thể yếu thế. Từ học thuyết cân bằng quyền, nghiên cứu xây dựng tiêu chí ưu tiên giữa quyền tự do báo chí và quyền riêng tư; đồng thời, đề xuất sửa đổi khoản 3 Điều 141 và tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp** (Dự thảo Thông tư) để tương thích với khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025 và thiết lập cơ chế phối hợp giữa Tòa án và báo chí.
Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Tóm tắt: Quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh là hai phạm trù pháp lý quan trọng, phản ánh sự phát triển của xã hội. Trong bối cảnh truyền thông số phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong hoạt động báo chí ngày càng phổ biến, làm tăng nguy cơ xâm phạm đời sống riêng tư của trẻ em và phát sinh xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền được bảo vệ đời sống riêng tư của trẻ em. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và nhận diện các dạng xung đột pháp lý giữa hai quyền, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật trong giải quyết xung đột và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm hài hòa giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh.
Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, đồng thời, nâng cao chất lượng xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Nghiên cứu phân tích hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với chính sách và pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện, nghiên cứu làm rõ thực trạng chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

Một bài giảng hôm nay có thể được truyền từ một lớp học nhỏ tới hàng nghìn người học ở nhiều không gian khác nhau; một học sinh chỉ cần vài giây để nhận câu trả lời từ trí tuệ nhân tạo (AI) cho vấn đề từng đòi hỏi hàng giờ tra cứu. Công nghệ đang làm cho lớp học vượt khỏi bốn bức tường. Tuy nhiên, khi những giới hạn vật lý dần biến mất, những giới hạn pháp lý về quyền sáng tạo, dữ liệu, liêm chính học thuật và trách nhiệm của con người càng phải được xác lập rõ hơn. Bởi lớp học có thể không còn biên giới, nhưng quyền và trách nhiệm phải luôn được xác định rõ.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.

Theo dõi chúng tôi trên: