Thứ sáu 01/05/2026 07:42
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện quy định pháp luật về hợp đồng vô hiệu do vi phạm hình thức theo pháp luật Việt Nam

Bài viết đề cập đến các quy định của pháp luật về hợp đồng vô hiệu do vi phạm hình thức, đồng thời, phân tích một số vướng mắc, bất cập và đưa ra các kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về vấn đề này.

1. Quy định của pháp luật về hợp đồng vô hiệu do vi phạm hình thức

Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự[1]. Như vậy, quy định về hợp đồng vô hiệu nằm trong khuôn khổ của giao dịch dân sự vô hiệu. Điều 129 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức như sau:

“Giao dịch dân sự vi phạm quy định điều kiện có hiệu lực về hình thức thì vô hiệu, trừ trường hợp sau đây:

1. Giao dịch dân sự đã được xác lập theo quy định phải bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định của luật mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó.

2. Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó. Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực”.

Như vậy, trong cả hai trường hợp ngoại lệ trên, pháp luật đều không yêu cầu các bên tham gia thực hiện thủ tục công chứng, chứng thực. Điều luật này phản ánh tinh thần của Bộ luật Dân sự năm 2015, đã coi trọng bản chất, tôn trọng ý chí và cam kết của các bên, tuân thủ các nguyên tắc cơ bản nói chung và các nguyên tắc tự do trong hợp đồng của Bộ luật Dân sự nói riêng. Do đó, việc xác định có hiệu lực hay vô hiệu của hợp đồng phụ thuộc vào việc các bên có thực hiện nghĩa vụ của mình hay không. Theo quy định trên thì một hợp đồng vi phạm quy định về hình thức thì chưa chắc hợp đồng đó đã vô hiệu, mà nó chỉ vô hiệu khi một hoặc các bên chủ thể tham gia có yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng đó vô hiệu. Một hoặc các bên tham gia giao kết hợp đồng đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong hợp đồng thể hiện sự thiện chí, tích cực, mong muốn thực hiện hợp đồng thì hợp đồng không bị vô hiệu. Ngược lại, nếu nghĩa vụ chưa được thực hiện ít nhất hai phần ba và một hoặc các bên có yêu cầu thì Tòa án tuyên bố hợp đồng đó vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức.

Pháp luật tại Việt Nam quy định rằng các giao dịch dân sự (hợp đồng) vi phạm quy định về hình thức sẽ bị coi là vô hiệu. Vì thế, các hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu sẽ được áp dụng đối với những trường hợp vi phạm quy định về hình thức. Hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu được quy định tại Điều 131 Bộ luật Dân sự năm 2015, theo đó, khi một giao dịch dân sự vô hiệu sẽ không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập. Việc không phát sinh thay đổi hay chấm dứt quyền và nghĩa vụ giúp duy trì tính công bằng và ổn định trong quá trình giải quyết hậu quả của giao dịch. Khi hợp đồng vô hiệu thì các bên theo nguyên tắc phải khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả, giúp giữ cho các bên không bị tổn thất không công bằng trong trường hợp hợp đồng vô hiệu. Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó; bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường.

Về thời hiệu khởi kiện của hợp đồng vô hiệu do vi phạm hình thức, Điều 132 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu quy định tại các Điều 125, 126, 127, 128 và 129 của Bộ luật này là 02 năm, kể từ ngày: a) Người đại diện của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự biết hoặc phải biết người được đại diện tự mình xác lập, thực hiện giao dịch; b) Người bị nhầm lẫn, bị lừa dối biết hoặc phải biết giao dịch được xác lập do bị nhầm lẫn, do bị lừa dối; c) Người có hành vi đe dọa, cưỡng ép chấm dứt hành vi đe dọa, cưỡng ép; d) Người không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình xác lập giao dịch; đ) Giao dịch dân sự được xác lập trong trường hợp giao dịch dân sự không tuân thủ quy định về hình thức”. Đối với các giao dịch dân sự được quy định tại Điều 123 và Điều 124 của Bộ luật này thì thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu không bị hạn chế. Như vậy, theo quy định này thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm hình thức là hai năm.

2. Những vướng mắc, bất cập trong quy định pháp luật về giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm hình thức

Thứ nhất, pháp luật hiện hành chưa dự liệu đến khả năng sự thoả thuận lựa chọn hình thức hợp đồng của các bên là điều kiện để hợp đồng trở nên có hiệu lực.

Khoản 2 Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015 có nhấn mạnh đến “trường hợp luật có quy định” nhưng quan điểm này chưa thực sự đầy đủ khi không dự liệu đến khả năng của các bên có thể thỏa thuận lựa chọn hình thức của hợp đồng là một trong những điều kiện cơ bản để hợp đồng trở nên có hiệu lực. Nguyên tắc tự do thỏa thuận trong lĩnh vực pháp luật dân sự đề cao sự linh hoạt của các bên tham gia giao dịch, cho phép họ tự do thỏa thuận về hình thức làm điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, ngay cả khi không có yêu cầu bắt buộc từ phía pháp luật về mặt hình thức. Chẳng hạn, trong trường hợp một thỏa thuận hợp đồng đặt cọc mua bán nhà, các bên có khả năng tự do thỏa thuận rằng hợp đồng sẽ chỉ có hiệu lực pháp luật khi được lập thành văn bản có công chứng. Vậy, nếu một trong các bên tham gia không tuân thủ quy định bắt buộc về hình thức trong hợp đồng theo như đã thỏa thuận thì hợp đồng có bị vô hiệu hay không. Do đó, quan điểm chỉ tập trung vào “trường hợp luật có quy định” cần được mở rộng để bảo đảm tính linh hoạt và đa dạng trong quá trình thỏa thuận hình thức hợp đồng, từ đó, nâng cao tính công bằng và minh bạch trong quá trình thực hiện các giao dịch dân sự.

Thứ hai, chưa có hướng dẫn về những loại hợp đồng cụ thể bắt buộc tuân thủ điều kiện về hình thức.

Điều 129 Bộ luật Dân sự năm 2015 không đưa ra những hướng dẫn cụ thể về những loại hợp đồng nào bắt buộc phải tuân thủ điều kiện về hình thức và trong trường hợp nào hình thức trở thành điều kiện có hiệu lực của hợp đồng. Bộ luật Dân sự năm 2015 chỉ tập trung vào một số loại hợp đồng nhất định như hợp đồng mua bán, tặng cho nhà ở, hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất… để đặt ra yêu cầu về hình thức bắt buộc. Bên cạnh đó, nhiều văn bản pháp luật chuyên ngành có đưa ra các yêu cầu cụ thể về nội dung bắt buộc trong hợp đồng. Ví dụ: Luật Xây dựng đề cập đến 14 điều cần có trong hợp đồng xây dựng, trong khi Luật Kinh doanh bất động sản đưa ra 12 điều bắt buộc trong hợp đồng mua, bán, cho thuê, cho thuê mua nhà hay công trình xây dựng… Trong trường hợp mà hợp đồng không đáp ứng đầy đủ các nội dung bắt buộc nêu trên thì liệu có vi phạm điều kiện về hình thức của hợp đồng hay không[2].

Bên cạnh đó, sự “tản mạn” của các quy định pháp luật từ nhiều văn bản luật khác nhau khiến cho người dân và cả người làm công tác xét xử đều gặp khó khăn trong việc nắm bắt, hiểu rõ về những hợp đồng cụ thể nào đòi hỏi tuân thủ nghiêm ngặt về hình thức và quy định về thời hiệu khởi kiện như thế nào[3]. Sự phân tán này không chỉ tạo ra khó khăn cho người giao kết hợp đồng mà còn ảnh hưởng đến quyền lợi và nghĩa vụ của họ trong quá trình thực hiện các giao dịch dân sự. Trên thực tế hiện nay, có những người lợi dụng một số kẽ hở trong hệ thống pháp luật, bằng cách lợi dụng sự thiếu kiến thức, thông tin cũng như sự chênh lệch trong quá trình tiếp cận thông tin của một số người khi tham gia giao dịch, thường cố tình giao kết những hợp đồng không tuân thủ quy định về hình thức, chủ yếu nhằm mục đích trốn tránh sự kiểm soát của cơ quan nhà nước và trục lợi cá nhân (như việc ký kết hợp đồng mua, bán đất nhưng lại không làm thủ tục chứng thực nhằm mục đích trốn thuế). Hậu quả của điều này là những vụ tranh chấp ngày càng trở nên phổ biến và phức tạp, với sự tinh vi có chiều hướng gia tăng. Trên thực tế, đã có sự hiểu lầm vô cùng nghiêm trọng tồn tại trong cộng đồng dân cư, đó là, khi một số người dân thực hiện giao kết những hợp đồng không tuân thủ quy định về hình thức nên hợp đồng bị vô hiệu, tuy nhiên, khi có yêu cầu Tòa án xử lý thì hầu hết các hợp đồng này lại được công nhận và giải quyết hậu quả theo hướng công nhận giao dịch. Ví dụ điển hình nhất là Án lệ số 55/2022/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 07/9/2022 và được công bố tại Quyết định số 323/QĐ-CA ngày 14/10/2022 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao về việc công bố án lệ. Tình huống án lệ là hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập trước ngày 01/01/2017 chưa được công chứng/chứng thực nhưng bên nhận chuyển nhượng đã thực hiện hai phần ba nghĩa vụ của mình nên Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của hợp đồng. Vì vậy, những người tham gia vào giao dịch nhầm tưởng việc làm của họ là không sai, dù có vi phạm pháp luật trong quá trình giao dịch nhưng cuối cùng vẫn được Nhà nước công nhận và bảo vệ. Điều này ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên yếu thế khi tham gia giao dịch.

Thứ ba, chưa có hướng dẫn thống nhất về việc xác định “một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong hợp đồng”.

Một trong những vấn đề lớn mà Điều 129 Bộ luật Dân sự năm 2015 đặt ra là khía cạnh liên quan đến việc xác định “một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ” là như thế nào. Vì hiện nay, vẫn chưa có văn bản hướng dẫn chi tiết về cách thức xác định liệu một bên hay các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch. Thực tiễn thực hiện hợp đồng cho thấy, một hợp đồng có thể chứa nhiều loại nghĩa vụ khác nhau, từ nghĩa vụ tài sản (như việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất) đến các nghĩa vụ phi tài sản (như việc thực hiện các thủ tục pháp lý). Vì vậy, cần phải xác định rõ liệu nghĩa vụ chỉ đơn thuần là nghĩa vụ tài sản hay nó còn bao gồm cả các nghĩa vụ mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng và dựa vào tiêu chí gì để được coi là đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ. Vấn đề này không chỉ nằm ở sự khó khăn khi xác định con số cơ học hai phần ba nghĩa vụ là bao nhiêu mà quan trọng hơn là nếu được áp dụng triệt để và rộng rãi trong tương lai, nó có thể làm suy giảm đáng kể, thậm chí triệt tiêu nguyên tắc trọng thức (sự thoả thuận giữa các bên phải thể hiện dưới hình thức chứng thư văn bản hay văn bản công chứng, chứng thực) của hợp đồng chuyển nhượng quyền lợi trên bất động sản[4].

Thứ tư, về thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu do vi phạm hình thức.

Liên quan đến thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu do không tuân thủ về hình thức hay rộng hơn là giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ về hình thức, theo tác giả, không nên quy định thời hiệu cho giao dịch dân sự này mà coi vi phạm điều kiện về hình thức là một loại giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối. Tức một khi các bên đã thực hiện giao kết hợp đồng mà pháp luật quy định phải tuân thủ về hình thức, nhưng, các bên không tuân thủ thì hợp đồng đó đương nhiên không có hiệu lực pháp luật. Nếu một hoặc các bên yêu cầu Tòa án tuyên bố thì Tòa án tuyên bố hợp đồng đó là vô hiệu và xử lý hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu, có tính đến lỗi của các bên tham gia hợp đồng và xem xét phần hoa lợi, lợi tức của bên ngay tình, cũng như tính đến việc bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình liên quan đến hợp đồng vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức đó. Điều này làm nổi bật tầm quan trọng của việc tuân thủ các quy định pháp luật về hình thức trong quá trình thực hiện giao kết hợp đồng và hỗ trợ trong việc bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan.

Thứ năm, về giải quyết hậu quả pháp lý.

Việc giải quyết hậu quả pháp lý khi các bên phải khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả lại cho nhau những gì đã nhận sau khi hợp đồng bị tuyên bố vô hiệu có nhiều khía cạnh phức tạp và chưa rõ ràng. Trong thực tiễn áp dụng pháp luật, khái niệm “khôi phục lại tình trạng ban đầu” và “hoàn trả cho nhau những gì đã nhận” thường được hiểu là đồng nghĩa với nhau. Tuy nhiên, đây lại là hai vấn đề hoàn toàn khác biệt và sự hiểu lầm này xuất phát từ bản chất của đối tượng chủ yếu trong hợp đồng, thường là tài sản. Trong thực tiễn xét xử, Tòa án yêu cầu các bên tham gia trong hợp đồng vô hiệu phải khôi phục lại tình trạng ban đầu. Tuy nhiên, không phải lúc nào việc hoàn trả tài sản cũng tương đồng với trạng thái tại thời điểm giao dịch được xác lập. Có thể xảy ra những trường hợp tài sản đã bị hỏng, giảm giá trị, hoặc thậm chí đã được tu sửa, xây dựng, nâng cấp làm tăng giá trị. Điều này dẫn đến việc pháp luật không quy định cụ thể về việc hoàn trả tài sản, mà để cho thẩm phán tự quyết định giải pháp phù hợp với từng trường hợp cụ thể. Tình trạng này dẫn đến sự không đồng nhất và không thống nhất trong cách giải quyết và xử lý hậu quả của hợp đồng vô hiệu.

Quy định về việc “bên có lỗi thì phải bồi thường thiệt hại” trong Bộ luật Dân sự năm 2015 không quy định rõ “bên” là ai, là đối tượng nào. Liệu “bên” có lỗi có nghĩa là bên tham gia vào hợp đồng, bên làm hợp đồng vô hiệu hay một chủ thể khác liên quan đến giao dịch? Điều này trở nên khá rắc rối, đặc biệt là khi xem xét trường hợp hợp đồng đã được công chứng nhưng sau đó bị Tòa án tuyên bố vô hiệu. Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật Công chứng năm 2014 quy định: “Công chứng là việc công chứng viên của một tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản”. Trong trường hợp hợp đồng đã được công chứng viên công chứng, tức xác nhận tính hợp pháp của hợp đồng mà bị Tòa án tuyên bố vô hiệu thì công chứng viên có phải chịu trách nhiệm gì hay không? Quy định tại khoản 1 Điều 38 Luật Công chứng năm 2014, việc bồi thường thiệt hại cho người yêu cầu công chứng thuộc về tổ chức hành nghề công chứng có công chứng viên gây ra lỗi trong quá trình công chứng. Nhưng việc quy định “bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường” tại Điều 131 Bộ luật Dân sự năm 2015 chỉ áp dụng cho các “bên” tham gia hợp đồng mà không áp dụng cho công chứng viên. Hiện nay, vấn đề xác định thiệt hại của hợp đồng dân sự vô hiệu nói chung chưa được hướng dẫn cụ thể, chúng ta chỉ có thể dựa vào một số văn bản hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao để nghiên cứu vấn đề này. Tuy nhiên, những văn bản này lại hướng dẫn cho Bộ luật cũ.

3. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về hợp đồng dân sự vô hiệu do vi phạm hình thức

Để bảo đảm tính khả thi và hiệu quả của các quy định về hình thức hợp đồng cũng như để giải quyết một cách minh bạch và công bằng hậu quả pháp lý của những hợp đồng không tuân thủ quy định về hình thức, tác giả đề xuất đưa ra một số kiến nghị như sau:

Thứ nhất, cần sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015 như sau: “Hình thức giao dịch là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp luật có quy định hoặc các bên có thỏa thuận”. Như đã phân tích ở trên, có thể nhận thấy rằng pháp luật đã bỏ qua quyền lựa chọn hình thức làm điều kiện có hiệu lực của hợp đồng trong quy định tại khoản 2 Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015. Điều này đặt ra yêu cầu cần phải thừa nhận quyền tự do thỏa thuận trong việc xác lập hợp đồng của các bên tham gia. Việc điều chỉnh này sẽ giúp làm rõ và bổ sung hơn về quyền của các bên khi thỏa thuận về hình thức hợp đồng mà họ muốn sử dụng.

Thứ hai, nghiên cứu bổ sung Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015 theo hướng quy định cụ thể những loại hợp đồng nào bắt buộc phải tuân thủ quy định về hình thức để nâng cao tính rõ ràng và hiệu quả của hệ thống quy định về hình thức của hợp đồng. Đặc biệt, cần tập trung vào những hợp đồng mà yêu cầu đăng ký, công chứng, chứng thực… Trong trường hợp các hợp đồng này không tuân thủ điều kiện về hình thức, chúng sẽ luôn bị coi là vô hiệu. Đồng thời, cần kiện toàn hệ thống pháp luật, tạo sự hệ thống hóa và thống nhất về quy định này trong các văn bản quy phạm pháp luật, tránh sự chồng chéo và không logic, góp phần giảm thiểu khó khăn trong quá trình xét xử và ngăn chặn những lỗ hổng pháp luật có thể tạo điều kiện cho một số đối tượng cá nhân trục lợi.

Thứ ba, nghiên cứu xác định rõ quy định “hai phần ba” là như thế nào. Việc xác định việc một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong hợp đồng không phải lúc nào cũng dễ dàng. Để giải quyết vấn đề này, cần có sự can thiệp của các cơ quan có thẩm quyền thông qua việc ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết để hỗ trợ quá trình xác định này. Điều này sẽ giúp tạo ra một hệ thống chuẩn mực hóa, tránh những hiểu lầm và tranh cãi không cần thiết trong quá trình xử lý các vấn đề liên quan.

Thứ tư, cần nghiên cứu, sửa đổi Điều 132 Bộ luật Dân sự năm 2015 về thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu như sau: “Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu được quy định tại các điều từ Điều 125 đến Điều 129 của Bộ luật này là hai năm, kể từ ngày phát hiện giao dịch dân sự vi phạm quy định về hình thức”.

Thứ năm, nghiên cứu, bổ sung Điều 131 Bộ luật Dân sự năm 2015 theo hướng làm rõ hơn một số nội dung về bên có lỗi, việc khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả lại cho nhau những gì đã nhận. Cần thực hiện sửa đổi để làm rõ hơn về khái niệm “bên có lỗi”, bao gồm việc xác định liệu “bên có lỗi” có nghĩa là bất kỳ bên nào tham gia vào hợp đồng và vi phạm điều kiện về hình thức, hay chỉ những bên gây ra lỗi trực tiếp. Bên cạnh đó, Nhà nước cần có văn bản hướng dẫn chi tiết về cách áp dụng quy định “các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu”, bao gồm quy trình thực hiện, các biện pháp cụ thể để bảo đảm tính công bằng và minh bạch trong việc khôi phục và cách xử lý các tình huống đặc biệt như lãng phí và chi phí không mong muốn… Từ đó, nhằm bảo đảm rằng quy định của pháp luật là rõ ràng, chính xác, linh hoạt và thực tế hóa, tạo điều kiện thuận lợi cho cả Tòa án và các bên tham gia giao dịch./.

Diệp Linh


[1] Điều 116 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[2] ThS. Trịnh Tuấn Anh (2020), “Hợp đồng vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức - Thực trạng và hướng hoàn thiện”, https://tapchitoaan.vn/hop-dong-vo-hieu-do-khong-tuan-thu-quy-dinh-ve-hinh-thuc-thuc-trang-va-huong-hoan-thien, truy cập ngày 18/12/2023.

[3] Phạm Thị Thảo (2017), “Giao dịch dân sự vô hiệu về hình thức theo pháp luật Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Học viện Khoa học xã hội - Viện hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, tr. 60.

[4] TS. Đỗ Giang Nam (2023), “Hình thức của hợp đồng liên quan đến bất động sản ở một số quốc gia trên thế giới và hàm ý chính sách cho Việt Nam”, http://www.lapphap.vn/Pages/TinTuc/211691/Hinh-thuc-cua-hop-dong-lien-quan-den-bat-dong-san-o-mot-so-quoc-gia-tren-the-gioi-va-ham-y-chinh-sach-cho-Viet-Nam.html, truy cập ngày 18/12/2023.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tóm tắt: Chương VII dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) quy định về tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo gần như giữ nguyên nội dung Chương VII Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Tuy nhiên, phân tích từ góc độ liên thông giữa Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 với Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Đất đai năm 2024, cho thấy có một số bất cập, nếu được hoàn thiện trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) sẽ giúp hệ thống pháp luật liên quan đến chế định này được hoàn thiện, đồng bộ hơn.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.

Theo dõi chúng tôi trên: