Thứ năm 08/10/2026 08:45
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện quy định pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khỏe bị xâm phạm

Hoàn thiện quy định pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khỏe bị xâm phạm

Bài viết phân tích một số vướng mắc về giải quyết bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khỏe bị xâm phạm, từ đó, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện về vấn đề này.

Bồi thường thiệt hại do xâm phạm tính mạng, sức khỏe là một loại trách nhiệm pháp lý, do đó, trách nhiệm bồi thường do xâm phạm tính mạng, sức khỏe phát sinh khi và chỉ khi thỏa mãn đầy đủ các điều kiện do pháp luật quy định. Các điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại (căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại) do sức khỏe, tính mạng bị xâm phạm là những căn cứ do pháp luật quy định, khi thỏa mãn các căn cứ đó thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm sức khỏe, tính mạng phát sinh. Pháp luật dân sự không quy định cụ thể căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm tính mạng, sức khỏe mà chỉ quy định căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung.

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người nhằm mục đích bảo vệ cho tính mạng, sức khỏe của cá nhân không thể bị xâm phạm. Đồng thời, giáo dục ý thức tuân thủ pháp luật, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể, phòng ngừa các hành vi vi phạm khác. Theo quy định tại Điều 584 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì: “Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác”. Như vậy, trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong vụ án hình sự (trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng) chỉ phát sinh khi có đủ các yếu tố: (i) Phải có thiệt hại xảy ra, thiệt hại gồm vật chất và tinh thần; (ii) Phải có hành vi trái pháp luật; (iii) Có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vi trái pháp luật; (iv) Phải có lỗi cố ý hoặc vô ý của người gây ra thiệt hại.

1. Một số vướng mắc về giải quyết bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khỏe bị xâm phạm

Thứ nhất, xác định mức bồi thường tổn thất tinh thần do hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe gây ra.

Về nguyên tắc, mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên tự thỏa thuận. Tuy nhiên, nếu các bên không thỏa thuận được thì đối với trường hợp tính mạng bị xâm phạm thì mức bồi thường tổn thất về tinh thần tối đa không quá 100 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định (khoản 2 Điều 591 Bộ luật Dân sự năm 2015); đối với trường hợp sức khỏe bị xâm phạm thì mức bồi thường tổn thất về tinh thần tối đa không quá 50 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định (khoản 2 Điều 590 Bộ luật Dân sự năm 2015). Hiện nay, Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP) chưa hướng dẫn cụ thể thực hiện khoản 2 Điều 591 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Về mức bồi thường, do tính chất đặc biệt của tinh thần là hết sức trừu tượng nên những tổn thất về tinh thần là không thể xác định cụ thể, không thể khôi phục lại như tình trạng ban đầu như các loại tài sản thông thường khi bị thiệt hại. Bồi thường tổn thất về tinh thần không thể hiểu như nguyên tắc bồi thường toàn bộ mà chỉ coi đó là bù đắp một phần tổn thất, mất mát về tinh thần. Về nguyên tắc, việc tính mức bồi thường có thể xác định theo hướng tỷ lệ thuận với những thiệt hại vật chất thực tế xác định được.

Thực tiễn cũng đã xảy ra những trường hợp lái xe gây tai nạn còn cố ý làm cho nạn nhân chết vì lý do là mức bồi thường trong trường hợp xâm phạm tính mạng thấp. Pháp luật không quy định mức bồi thường tối thiểu mà chỉ quy định mức bồi thường tổn thất về tinh thần tối đa. Điều này có thể dẫn đến tình trạng tùy tiện trong hoạt động áp dụng pháp luật của Tòa án.

Về người được bồi thường, theo quy định của pháp luật thì người được hưởng khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần chính là người bị hại nếu đối tượng bị xâm phạm là sức khỏe và danh dự, nhân phẩm, uy tín và là người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị hại nếu đối tượng bị xâm phạm là tính mạng. Khi một người bị xâm phạm đến tính mạng thì thứ tự người được bồi thường tổn thất về tinh thần là những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất. Nếu không có những người này thì người được bồi thường là người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị hại hoặc người bị hại trực tiếp nuôi dưỡng. Thực tiễn áp dụng quy định này đã xuất hiện vấn đề bất cập như: Có trường hợp những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất không trực tiếp sống cùng, để cho người khác nuôi dưỡng người bị hại với nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng khi người đó bị xâm phạm tính mạng thì người trực tiếp nuôi dưỡng không được hưởng vì vẫn còn người thuộc hàng thừa kế thứ nhất. Trong khi đó, những người ở hàng thừa kế thứ nhất không quan tâm, chăm sóc người bị hại lúc còn sống thì lại được bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần, mà mục đích của luật là nhằm bồi thường cho những người thân thích bị thiệt hại về tinh thần.

Thứ hai, chi phí hợp lý cho việc mai táng.

Theo hướng dẫn của Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP thì chi phí hợp lý cho việc mai táng được hiểu là những chi phí không thể thiếu trong một đám tang. Tuy nhiên, việc xác định chi phí ở mỗi địa phương, mỗi thời điểm khác nhau, mặt khác, chi phí mai táng dựa trên chi phí thực của gia đình bị hại nên mỗi nơi giá cả khác nhau hoặc các khoản chi như mua đất chôn cất, dịch vụ trọn gói… là khoản chi phí lớn và khó xác định.

Thứ ba, xác định lỗi của bị hại trong vụ án mà bị hại cũng có lỗi.

Đối với các vụ án hình sự, tình tiết “người bị hại cũng có lỗi” có ý nghĩa quan trọng trong việc giải quyết vấn đề bồi thường dân sự. Điều 585 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định: “Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại, thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra”. Như vậy, đối với các vụ án mà bị hại cũng có lỗi cần phải xác định mức độ, tỷ lệ lỗi của bị hại để xác định mức bị cáo phải bồi thường tương ứng với tỷ lệ lỗi. Tuy nhiên, trên thực tế, việc xác định mức độ lỗi, tỷ lệ lỗi trong nhiều vụ án còn chưa thực sự chính xác, còn tùy nghi, cảm tính trong việc xác định lỗi.

Thứ tư, xác định tiền bồi dưỡng phục hồi sức khỏe.

Theo hướng dẫn tại Điều 7 Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP, đối với bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm thì chi phí phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại là các loại chi phí cho việc phục hồi, hỗ trợ, thay thế một phần chức năng cơ thể bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại. Tuy nhiên, hiện nay, Nghị quyết chưa hướng dẫn việc xác định tiền bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe cho người bị hại theo chỉ định của bác sỹ, vì vậy, việc vận dụng của thẩm phán trong một số trường hợp còn tùy nghi, định tính trong xác định khoản tiền bồi dưỡng phục hồi sức khỏe cho người bị hại.

Thứ năm, xác định tiền cấp dưỡng.

Điều 8 Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP quy định, khi có thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm, người gây thiệt hại phải bồi thường các khoản như: Chi phí cấp cứu, điều trị; chi phí mai táng và khoản tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng hoặc nuôi dưỡng trước khi chết. Tuy nhiên, hiện nay, chưa có quy định cấp dưỡng đối với trường hợp người bị hại mất khả năng lao động nên thực tế, gia đình và người bị hại gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống khi bị xâm hại sức khỏe mức nghiêm trọng, đặc biệt, trong các trường hợp mất hoàn toàn khả năng lao động, sống thực vật phải có người chăm sóc.

2. Một số kiến nghị

Một là, cần nâng mức bồi thường tổn thất tinh thần, quy định rõ hơn về bồi thường thiệt hại về tinh thần.

Đối với sức khỏe bị xâm phạm, mức bồi thường tổn thất tinh thần tối đa hiện nay là 50 tháng lương cơ sở. Tuy nhiên, mức này vẫn còn thấp khi đặt trong một số trường hợp cụ thể, ví dụ như: Bị hại bị thiệt hại sức khỏe tới 80%, 90% sức khỏe; bị hại là vận động viên bị thiệt hại sức khỏe và không thể hồi phục được như trước khi bị xâm phạm sức khỏe; diễn viên, ca sỹ bị xâm phạm sức khỏe dẫn đến không thể tiếp tục làm nghề… Do đó, tác giả kiến nghị cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh theo hướng nâng mức bồi thường tổn thất tinh thần khi sức khỏe bị xâm phạm lên mức tối đa là 100 tháng lương cơ sở.

Đối với tính mạng bị xâm phạm, mức bồi thường tổn thất tinh thần hiện nay là 100 tháng lương cơ sở. Mức này vẫn còn thấp khi đặt trong một số trường hợp cụ thể, ví dụ như: Bị hại là con duy nhất trong gia đình; bị hại là con trai duy nhất trong dòng họ; bị hại là người trẻ tuổi… Hơn nữa, khoản 4 Điều 27 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 quy định: “Thiệt hại về tinh thần trong trường hợp người bị thiệt hại chết được xác định là 360 tháng lương cơ sở”, do đó, theo tác giả, cần điều chỉnh theo hướng tăng mức bồi thường về tổn thất tinh thần do tính mạng bị xâm phạm lên đến 150 - 200 tháng lương cơ sở.

Bên cạnh đó, cần quy định từ mức bồi thường tối thiểu đến mức bồi thường tối đa và có hướng dẫn cụ thể của cấp có thẩm quyền trong trường hợp nào được áp dụng mức bồi thường tối thiểu, trong trường hợp nào thì được áp dụng mức bồi thường tối đa.

Về người được hưởng bù đắp về tinh thần, trong trường hợp này, pháp luật cần quy định những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất và người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị hại, người bị hại trực tiếp nuôi dưỡng đều là người thân thích và cùng được bồi thường trong cùng một diện sẽ phù hợp với phong tục tập quán của dân tộc. Mục đích của bồi thường tổn thất về tinh thần là nhằm vào những người bị tổn thất, mất mát về tinh thần. Pháp luật cần bổ sung quy định trong trường hợp này người thuộc hàng thừa kế thứ nhất sẽ không được hưởng khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần nếu họ đã bị Tòa án kết án về một trong các hành vi ngược đãi, hành hạ nghiêm trọng hoặc vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng người bị hại đối với người bị xâm phạm tính mạng.

Về xác định mức độ thiệt hại về tinh thần, theo tác giả, cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần nghiên cứu, xem xét, thống nhất xác định thiệt hại về tinh thần, hay cơ quan chuyên trách xác định thiệt hại về tinh thần làm căn cứ để Tòa án quyết định mức bồi thường.

Hai là, cần thống nhất mức bồi thường về chi phí mai táng theo hướng dẫn của Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP, đưa ra mức tối đa, tối thiểu dựa trên mức lương cơ sở trong việc xác định mức mà người gây thiệt hại phải bồi thường như: Mua đất chôn cất; thuê xe đưa tang; dịch vụ chôn cất…

Ba là, xác định tỷ lệ lỗi của bị hại trong trường hợp bị hại cũng có lỗi cần thiết được thể hiện trong bản án, giải thích rõ mức độ lỗi, tỷ lệ lỗi của bị hại, lấy đó làm căn cứ để quyết định mức độ bồi thường. Theo tác giả, cần có sự hướng dẫn thống nhất trong việc xác định tỷ lệ lỗi thông qua việc xây dựng các tiêu chí cụ thể, mức độ ảnh hưởng, tác động của lỗi đối với thiệt hại.

Bốn là, khoản tiền bồi dưỡng phục hồi sức khỏe cho người bị thiệt hại hiện chỉ được quy định một cách chung chung tại điểm c khoản 1 Điều 7 Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP, do đó, cần tiếp tục hướng dẫn nội dung này theo hướng quy định mức tối đa, tối thiểu và cách tính, mức bồi thường cho phù hợp với tình trạng sức khỏe của người bị thiệt hại; từng loại thương tích và thời gian bồi dưỡng phục hồi sức khỏe.

Bên cạnh đó, đối với trường hợp sức khỏe bị xâm phạm, cơ quan có thẩm quyền cần hướng dẫn trong trường hợp nào thì bị hại phải có người chăm sóc khi điều trị, trường hợp nào không cần người chăm sóc; thời gian chăm sóc tối thiểu là bao lâu; chi phí cho người chăm sóc và số lần chi phí tàu xe đi lại cho người chăm sóc bị hại...

Năm là, cần có quy định cấp dưỡng đối với người bị xâm hại sức khỏe nặng mà họ mất khả năng lao động, không có thu nhập và thực tế trước khi bị xâm phạm họ đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng.

ThS. Lê Thị Phương

Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 384), tháng 7/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: