Chủ nhật 24/05/2026 23:00
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện quy định pháp luật về trách nhiệm kỷ luật của cán bộ, công chức

Bài viết tập trung đánh giá một số quy định pháp luật về trách nhiệm kỷ luật của cán bộ, công chức dưới góc độ khoa học và thực tiễn đã có điều chỉnh phù hợp, đang còn vướng mắc hoặc chưa phù hợp, từ đó, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện vấn đề này trong thời gian tới.

Đội ngũ cán bộ, công chức được hình thành và ngày càng phát triển trong quá trình xây dựng và thực hiện các mục tiêu của Nhà nước. Những chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước ta trong các giai đoạn lịch sử đã được các thế hệ cán bộ, công chức thực hiện với vai trò là cầu nối trực tiếp nhất đưa đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước vào đời sống xã hội để điều chỉnh các quan hệ xã hội theo đúng yêu cầu của Nhà nước. Trong suốt quá trình đó, Nhà nước ta luôn có hình thức khen thưởng đối với những cán bộ, công chức có thành tích, đồng thời, kỷ luật cán bộ, công chức vi phạm pháp luật. Trách nhiệm pháp lý đặt ra đối với cán bộ, công chức như: Trách nhiệm kỷ luật, trách nhiệm vật chất, trách nhiệm hành chính, trách nhiệm hình sự, trong đó, trách nhiệm kỷ luật và trách nhiệm vật chất gắn với hoạt động công vụ. Đối với trách nhiệm kỷ luật, thời gian gần đây đã có những sự điều chỉnh và áp dụng trong thực tế đạt được kết quả nhất định, song vẫn cần phải nghiên cứu sâu hơn nhằm nâng cao hiệu quả của loại trách nhiệm pháp lý này.

Pháp luật quy định về trách nhiệm kỷ luật bao gồm: Luật Cán bộ, công chức năm 2008; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức năm 2019; Nghị định số 112/2020/NĐ-CP ngày 18/9/2020 của Chính phủ về xử lý cán bộ, công chức, viên chức (Nghị định số 112/2020/NĐ-CP); Nghị quyết số 76/2022/QH15 ngày 15/11/2022 của Kỳ họp thứ tư, Quốc hội khóa XV (Nghị quyết số 76/2022/QH15); Nghị định số 71/2023/NĐ-CP ngày 20/9/2023 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 112/2020/NĐ-CP (Nghị định số 71/2023/NĐ-CP).

1. Về các hình thức kỷ luật

Pháp luật quy định trách nhiệm kỷ luật của cán bộ, công chức đã được phân hóa cụ thể với từng đối tượng là cán bộ, công chức trên cơ sở sự hình thành vị trí việc làm và tính chất hoạt động công vụ của cán bộ, công chức. Các hình thức kỷ luật đối với cán bộ là khiển trách, cảnh cáo, cách chức, bãi nhiệm. Các hình thức kỷ luật đối với công chức là khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, giáng chức, cách chức, buộc thôi việc. Đây là quy định có tính chất khung về hình thức kỷ luật của cán bộ, công chức được quy định tại Điều 78, Điều 79 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2019). Căn cứ pháp lý để truy cứu trách nhiệm kỷ luật được quy định như sau: Cán bộ, công chức, viên chức có hành vi vi phạm các quy định về nghĩa vụ của cán bộ, công chức, viên chức; những việc cán bộ, công chức, viên chức không được làm; nội quy, quy chế của cơ quan, tổ chức, đơn vị; vi phạm đạo đức, lối sống hoặc vi phạm pháp luật khác khi thi hành công vụ thì bị xem xét xử lý kỷ luật[1]. Qua đó cho thấy rằng, trách nhiệm kỷ luật chủ yếu được đặt ra khi nó gắn với hoạt động công vụ của cán bộ, công chức, đó là việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức theo quy định của Luật Cán bộ, công chức và các quy định khác có liên quan[2].

Về các hình thức kỷ luật, tác giả đưa ra một số kiến nghị cụ thể như sau:

Thứ nhất, lịch sử quy định về các hình thức kỷ luật của cán bộ, công chức từ Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 1998 đến nay đều quy định khiển trách là hình thức kỷ luật nhẹ nhất, sau đó đến các hình thức nặng hơn như cảnh cáo, hạ bậc lương… Nghị định số 112/2020/NĐ-CP đã đưa ra 09 hành vi áp dụng hình thức kỷ luật là khiển trách đối với cán bộ, công chức vi phạm lần đầu, gây hậu quả ít nghiêm trọng (Điều 8) và các hình thức kỷ luật cao hơn thường lấy đó làm cơ sở để xác định hành vi vi phạm nặng hơn tương ứng với hình thức kỷ luật cao hơn. Qua nghiên cứu và tham khảo cho thấy rằng, khiển trách trong hoạt động công vụ nên được coi như lời nhắc nhở, chỉ ra điểm sai và yêu cầu sửa chữa của cấp trên đối với cấp dưới, nên không cần coi đó là một hình thức kỷ luật. Các hình thức kỷ luật nếu bắt đầu từ hình thức cảnh cáo sẽ thể hiện sự nghiêm khắc hơn của cơ quan, tổ chức đối với người vi phạm kỷ luật. Cảnh cáo là đưa ra cảnh báo về những vi phạm có thể dẫn đến những hậu quả tiêu cực và phải chịu trách nhiệm. Với ý nghĩa như vậy, theo quan điểm của tác giả và tham khảo pháp luật một số các quốc gia, thì nên bỏ hình thức kỷ luật khiển trách. Theo đó, cảnh cáo là hình thức kỷ luật nhẹ nhất nhưng đã đủ sức răn đe và gắn với trách nhiệm pháp lý đặt ra. Pháp luật liên quan đến các hình thức kỷ luật của công chức ở một số quốc gia như Nhật Bản, Cộng hòa liên bang Đức, Liên bang Nga cũng không có hình thức khiển trách và bắt đầu bằng hình thức cảnh cáo.

Thứ hai, trách nhiệm kỷ luật chỉ thực sự có hiệu quả cho nền công vụ khi nó được sử dụng để xử lý các vi phạm kỷ luật, từ đó chấn chỉnh hoạt động công vụ của cán bộ, công chức. Từ căn cứ mang tính chất lý luận đó, soi chiếu vào quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2019) về việc xử lý đối với hành vi vi phạm trong thời gian công tác của cán bộ, công chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu: “Cán bộ, công chức sau khi nghỉ việc hoặc nghỉ hưu mới phát hiện có hành vi vi phạm trong thời gian công tác thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm phải chịu một trong các hình thức kỷ luật khiển trách, cảnh cáo, xóa tư cách chức vụ đã đảm nhiệm gắn với hệ quả pháp lý tương ứng với hình thức xử lý kỷ luật”. Như đã phân tích ở trên, trách nhiệm kỷ luật chỉ nên đặt ra đối với cán bộ, công chức khi họ đang trong thời gian hoạt động công vụ, bởi vậy, hình thức khiển trách hay cảnh cáo đều không có tác dụng thực tế. Trường hợp xử lý vi phạm kỷ luật nhằm vô hiệu hóa các quyết định hay hành vi do người vi phạm đã nghỉ việc, nghỉ hưu là cần thiết. Cần bổ sung vào nội dung Điều 78, Điều 79 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2019) coi đó như là một hình thức kỷ luật chính thức, áp dụng cho cả các đối tượng tuy không nghỉ việc hoặc chưa nghỉ hưu hoặc đã chuyển vị trí công tác nhưng cần xóa tư cách chức vụ đã đảm nhiệm để vô hiệu hóa các quyết định, hành vi do vi phạm mà có.

Thứ ba, sửa đổi cụm từ “xóa tư cách chức vụ đã đảm nhiệm gắn với hệ quả pháp lý tương ứng với hình thức xử lý kỷ luật” thành “xóa tư cách chức vụ đã đảm nhiệm gắn với vi phạm kỷ luật tương ứng với hình thức xử lý kỷ luật” cho chính xác, bởi trách nhiệm kỷ luật chỉ đặt ra trên cơ sở vi phạm kỷ luật.

Thứ tư, bổ sung các hình thức kỷ luật liên quan đến việc hưởng các lợi ích về vật chất và tinh thần của cán bộ, công chức đã thôi việc hoặc nghỉ hưu mới phát hiện ra vi phạm kỷ luật trong thời gian công tác như truất lương hưu, khấu trừ lương hưu… và các lợi ích tinh thần khác. Việc tước đi toàn bộ hay một phần lợi ích cần được đặt ra trên cơ sở mức độ vi phạm kỷ luật, thiệt hại do vi phạm đó gây ra. Như vậy, mới tạo ra sự răn đe cũng như sự công bằng trong xử lý các vi phạm pháp luật nói chung.

2. Về thời hiệu, thời hạn xử lý kỷ luật

Thời hiệu xử lý kỷ luật là thời hạn mà khi hết thời hạn đó thì cán bộ, công chức có hành vi vi phạm không bị xử lý kỷ luật. So với Luật Cán bộ, công chức năm 2008 thì việc quy định thời hiệu xử lý kỷ luật tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức năm 2019 đã cụ thể và phù hợp hơn với thực tế. Nếu như Luật Cán bộ, công chức năm 2008 quy định thời hiệu chung cho mọi trường hợp là 24 tháng thì Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức năm 2019 đã phân hóa đối với từng mức độ vi phạm kỷ luật[3]: 05 năm đối với hành vi vi phạm ít nghiêm trọng đến mức phải kỷ luật bằng hình thức khiển trách, 10 năm với những trường hợp còn lại không thuộc trường hợp kỷ luật bằng hình thức khiển trách. Việc quy định về thời hiệu xử lý kỷ luật có thời hạn như trên chưa thực sự hợp lý, bởi lẽ, việc xác định thời hiệu dựa trên hình thức kỷ luật dự kiến sẽ áp dụng như vậy đã đi trước quy trình xử lý kỷ luật, hay nói cách khác là việc xác định thời hiệu xử lý kỷ luật sẽ gặp khó khăn vì cần phải chứng minh khiển trách là hình thức kỷ luật tương ứng với hành vi vi phạm, mà kết luận này chỉ được quyết định sau nhiều trình tự, thủ tục xử lý kỷ luật. Do vậy, cần quy định cụ thể những trường hợp nào thì áp dụng thời hiệu xử lý kỷ luật có thời hạn.

Đặc biệt, lần đầu tiên Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức năm 2019 (khoản 16, Điều 1) quy định về những trường hợp không áp dụng thời hiệu xử lý kỷ luật: (i) Cán bộ, công chức là đảng viên có hành vi vi phạm đến mức kỷ luật bằng hình thức khai trừ; (ii) Có hành vi vi phạm quy định về công tác bảo vệ chính trị nội bộ; (iii) Có hành vi xâm hại đến lợi ích quốc gia trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, đối ngoại; (iv) Sử dụng văn bằng, chứng chỉ, giấy chứng nhận giả hoặc không hợp pháp (khoản 2 Điều 80). Việc quy định về những trường hợp không áp dụng thời hiệu xử lý kỷ luật là rất cần thiết. Tuy nhiên, phân tích các quy định trên thì đối với trường hợp (i) và (ii) cần xem xét lại về cách thức thể hiện. Trường hợp (i) thể hiện việc xử lý nghiêm khắc đối với cán bộ, công chức là đảng viên vi phạm kỷ luật, nhưng việc pháp luật dẫn chiếu đến một số quy định của Đảng khiến cho các quy định của pháp luật và quy định của tổ chức chính trị chưa có sự phân biệt rạch ròi, hay nói cách khác là trong trường hợp này đã lấy một số các tiêu chí của Đảng làm căn cứ cho việc áp dụng các quy định của pháp luật. Điều này xuất phát từ quy định về nội hàm của cán bộ, công chức bao gồm cả những người làm việc trong các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội[4]. Vậy nên, cần quy định cụ thể hơn trong luật thay vì dẫn chiếu đến quy định của Đảng. Đối với trường hợp (ii) thì công tác bảo vệ chính trị nội bộ cũng là công tác Đảng. Hiện nay, nội hàm của khái niệm này chưa được quy định cụ thể và thống nhất nên việc áp dụng trong thực tế sẽ gặp khó khăn hoặc đôi khi tùy tiện. Do vậy, về kỹ thuật lập pháp, hai trường hợp (i) và (ii) nêu trên cần phải chuẩn hóa lại cho rõ ràng để thống nhất cách áp dụng.

Thời hạn xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức là khoảng thời gian từ khi phát hiện hành vi vi phạm kỷ luật của cán bộ, công chức đến khi có quyết định xử lý kỷ luật của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Cả về thời hiệu và thời hạn theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức năm 2019 đều kéo dài thêm thời gian. Điều này là cần thiết và hợp lý cho việc xử lý vi phạm kỷ luật được xem xét cẩn trọng và không vì giới hạn thời gian mà các vi phạm kỷ luật không được xem xét và xử lý kịp thời.

3. Về thẩm quyền và quy trình xem xét xử lý kỷ luật

Về tổng thể, thẩm quyền và quy trình xem xét kỷ luật trong pháp luật của Việt Nam được tiến hành theo chiều dọc, trong nội bộ cơ quan nhà nước và theo thứ bậc hành chính. Như vậy, việc xử lý kỷ luật có tính chất trực tiếp từ nơi phát sinh ra vi phạm kỷ luật và việc xem xét hình thức kỷ luật theo thẩm quyền của sự hình thành và quản lý đội ngũ cán bộ, công chức. Chẳng hạn như, thẩm quyền xử lý kỷ luật đối với cán bộ là cấp có thẩm quyền phê chuẩn, quyết định phê duyệt kết quả bầu cử, trừ các chức vụ, chức danh trong cơ quan hành chính nhà nước do Quốc hội phê chuẩn thì Thủ tướng Chính phủ ra quyết định xử lý kỷ luật[5]; đối với công chức thì thẩm quyền xử lý kỷ luật được quy định cụ thể đối với từng loại công chức như công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý, công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý, công chức cấp xã, công chức biệt phái, công chức làm việc trong Tòa án và Viện kiểm sát[6], chủ yếu dựa trên nguyên tắc người có thẩm quyền bổ nhiệm và người có thẩm quyền quản lý cán bộ, công chức. Cán bộ là đội ngũ nhân sự được lựa chọn qua hình thức bầu cử, bổ nhiệm, phê chuẩn cho nên việc quản lý nói chung và xem xét trách nhiệm kỷ luật có những đặc thù riêng: “Căn cứ vào quyết định xử lý kỷ luật của cấp có thẩm quyền, cơ quan tham mưu về tổ chức, cán bộ của cấp có thẩm quyền xử lý kỷ luật đề xuất hình thức kỷ luật, thời điểm xử lý kỷ luật và thời gian thi hành kỷ luật” và một số trường hợp cụ thể khác; ngoài ra, những trường hợp chưa có quyết định xử lý kỷ luật của cấp có thẩm quyền thì trình tự, thủ tục xử lý kỷ luật được tiến hành theo trình tự, thủ tục xử lý kỷ luật đối với công chức[7]. Về trình tự, thủ tục xử lý kỷ luật của công chức được quy định cụ thể theo ba bước: (i) Tổ chức họp kiểm điểm; (ii) Thành lập Hội đồng kỷ luật; (iii) Cấp có thẩm quyền ra quyết định xử lý kỷ luật.

Nhìn chung, trình tự và thủ tục xử lý kỷ luật cán bộ, công chức được quy định rõ ràng, chặt chẽ, thể hiện thái độ nghiêm khắc của Nhà nước trước những vi phạm trong hoạt động công vụ của cán bộ, công chức.

Tóm lại, trách nhiệm kỷ luật của cán bộ, công chức được quy định trong Luật Cán bộ, công chức năm 2008 còn một số điểm chưa thực sự phù hợp với thực tế. Vì vậy, trong những năm gần đây, Nhà nước đã ban hành các văn bản quy phạm để cụ thể và bổ sung những quy định mới nhằm mục đích thắt chặt quản lý đối với đội ngũ cán bộ, công chức theo mục tiêu của Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, đó là việc xây dựng và hoàn thiện “đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có đủ phẩm chất, năng lực, chuyên nghiệp, liêm chính, chí công, vô tư”. Một trong những nội dung đó là việc quy định trách nhiệm kỷ luật và xử lý những vi phạm kỷ luật của cán bộ, công chức, bởi lẽ, từ những vi phạm kỷ luật, vi phạm pháp luật trong hoạt động công vụ sẽ tiềm ẩn những vi phạm pháp luật liên quan tới những vi phạm thuộc về tham nhũng; góp phần thực hiện mục tiêu loại bỏ tham nhũng, lợi dụng công vụ nhà nước để trục lợi cá nhân, gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới việc thực hiện các chức năng của Nhà nước./.

TS. Nguyễn Thị Minh Hà

Trường Đại học Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

[1]. Khoản 1 Điều 6 Nghị định số 112/2020/NĐ-CP.

[2]. Điều 2 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2019).

[3]. Sau này được điều chỉnh tại Mục 5 Nghị quyết số 76/2022/QH15.

[4]. Điều 4 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2019).

[5]. Điều 20 Nghị định số 112/2020/NĐ-CP và Nghị định số 71/2023/NĐ-CP.

[6]. Điều 24 Nghị định số 112/2020/NĐ-CP và Nghị định số 71/2023/NĐ-CP.

[7]. Điều 21 Nghị định số 112/2020/NĐ-CP và Nghị định số 71/2023/NĐ-CP.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 402), tháng 4/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: