Thứ tư 18/03/2026 10:28
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện quy định pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm là động sản trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại

Bài viết khái quát pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm là động sản trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại, chỉ rõ những vướng mắc, bất cập về pháp luật và đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này.

1. Khái quát pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm là động sản trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại

Hiện nay, các quy định pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm được thể hiện trong các văn bản pháp luật như: Bộ luật Dân sự năm 2015, Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ (Nghị đinh số 21/2021/NĐ-CP), Thông tư liên tịch số 16/2014/TTLT-BTP-BTNMT-NHNN ngày 06/6/2014 của Bộ Tư pháp, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn một số vấn đề về xử lý tài sản bảo đảm…

Tại Bộ luật Dân sự năm 2015, cụ thể là từ Điều 303 đến Điều 308 quy định về xử lý tài sản bảo đảm. Theo quy định tại Điều 299 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì các trường hợp xử lý tài sản bảo đảm gồm: (i) Đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ; (ii) Bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm trước thời hạn do vi phạm nghĩa vụ theo thỏa thuận hoặc theo quy định của luật; (iii) Trường hợp khác do các bên thỏa thuận hoặc luật có quy định. Theo quy định tại Điều 303 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì việc xử lý tài sản cầm cố, thế chấp bao gồm: (i) Bán đấu giá tài sản; (ii) Bên nhận bảo đảm tự bán tài sản; (iii) Bên nhận bảo đảm nhận chính tài sản để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm; (iv) Phương thức khác. Đây là các phương thức xử lý tài sản bảo đảm theo thỏa thuận, ngoài ra, các bên có thể thỏa thuận các phương thức khác để phù hợp với tính chất của nghĩa vụ như cho thuê tài sản, sử dụng tài sản trong một thời hạn phù hợp để thực hiện giao dịch bảo đảm.

Như vậy, theo quy định của pháp luật dân sự, có 04 phương thức để xử lý tài sản bảo đảm nói chung và tài sản bảo đảm là động sản nói riêng mà các bên trong hợp đồng có thể thỏa thuận là: Bán tài sản bảo đảm; bên nhận bảo đảm nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm; bên nhận bảo đảm nhận các khoản tiền hoặc tài sản khác từ người thứ ba trong trường hợp thế chấp quyền đòi nợ đối với bên thứ ba; các bên hoàn toàn có thể thỏa thuận bất kỳ một phương pháp xử lý tài sản bảo đảm khác.

2. Một số vướng mắc, bất cập trong quy định pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm là động sản trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại

Một là, pháp luật Việt Nam chưa có khái niệm cụ thể về động sản, gây lúng túng cho các chủ thể trong quá trình áp dụng. Theo quy định tại Điều 107 Bộ luật Dân sự năm 2015, động sản được hiểu là những tài sản không phải là bất động sản, trong đó, bất động sản bao gồm đất đai; nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai; tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng; tài sản khác theo quy định của pháp luật. Có thể thấy rằng, hiện nay, pháp luật chưa đưa ra định nghĩa cụ thể về động sản mà chỉ xác định theo hướng loại trừ, đó là những gì không phải là bất động sản thì sẽ là động sản. Cách quy định như vậy là rất chung chung, gây khó khăn trong việc xác định chính xác loại tài sản nào được xem là động sản. Chính vấn đề này khiến cho nội dung phân loại động sản trong pháp luật dân sự trở nên chưa đầy đủ khi áp dụng vào thực tiễn của giao dịch bảo đảm bằng động sản trong hoạt động ngân hàng, đặc biệt là trong vấn đề xử lý tài sản là động sản trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại.

Hai là, quyền truy đòi của ngân hàng đối với tài sản là động sản bảo đảm trong hoạt động cho vay gặp nhiều khó khăn bởi tính chuyển động của động sản. Trên thực tế, động sản là một loại tài sản dễ bị thay đổi hình thái trong quá trình thực hiện bảo đảm khoản vay, trong khi hình thái ban đầu của động sản đã được gọi tên và xác định trong hợp đồng bảo đảm. Vì vậy, điều này có thể ảnh hưởng đến quyền truy đòi của ngân hàng đối với động sản bảo đảm khi ngân hàng xử lý tài sản này để thu hồi vốn. Hiện nay, mặc dù Điều 7 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP đã đưa ra quy định về việc truy đòi tài sản bảo đảm nhưng mới chỉ dừng lại ở việc tái khẳng định quyền truy đòi của bên nhận bảo đảm đối với tài sản bảo đảm, mà chưa làm rõ được nội hàm của quyền truy đòi. Đặc biệt, Điều này cũng chưa làm rõ được quyền truy đòi của bên nhận bảo đảm trong trường hợp tài sản đã được chuyển giao và thay đổi hoàn toàn định dạng ban đầu. Chính “lỗ hổng” pháp lý này không chỉ làm cho các ngân hàng lúng túng, khó khăn trong việc truy đòi khi động sản dùng để bảo đảm khoản vay bị thay đổi hình thái ban đầu mà điều này cũng tạo ra rủi ro về mặt pháp lý cho các ngân hàng khi thực hiện việc xử lý tài sản là động sản bảo đảm trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại.

Ba là, quy định về kiểm soát tài sản là động sản được dùng để bảo đảm các khoản vay còn hạn chế. So với bất động sản, động sản là loại tài sản có thể dễ dàng được chuyển giao quyền sở hữu từ chủ thể này sang chủ thể khác, chính điều này gây ra nhiều khó khăn cho các ngân hàng thương mại trong việc xử lý đối với những loại động sản được dùng để bảo đảm các khoản vay này. Về nguyên tắc, khi tài sản được dùng để bảo đảm các khoản vay thì sẽ bị hạn chế quyền chuyển nhượng, trong đó có động sản. Tuy nhiên, trên thực tế, vẫn có nhiều trường hợp bên vay cố tình tìm cách để thực hiện các giao dịch chuyển dịch tài sản thuộc quyền sở hữu của mình đang dùng để bảo đảm các khoản vay sang cho một chủ thể khác. Điều này tạo ra rủi ro cho các ngân hàng thương mại với tư cách là bên cho vay nhận tài sản bảo đảm. Chính vì vậy, vấn đề đặt ra là phải để quyền truy đòi có thể trở thành cơ chế bảo vệ quyền của ngân hàng, cũng như phải có hệ thống quy tắc ưu tiên một cách rõ ràng để ngân hàng định vị được mức độ được bảo vệ khi xảy ra trường hợp trên. Tuy nhiên, hiện nay, các quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 và Nghị định số 21/2021/NĐ-CP chưa có những điều chỉnh hợp lý về những vấn đề này.

Bốn là, việc xử lý tài sản là động sản không thuộc diện phải đăng ký quyền sở hữu được dùng để bảo đảm trong các khoản vay tại các ngân hàng thương mại gặp nhiều vướng mắc. Theo quy định tại Điều 295 Bộ luật Dân sự năm 2015, điều kiện để tài sản (trong đó có động sản) được sử dụng để bảo đảm các khoản vay là tài sản bảo đảm phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm. Tuy nhiên, theo quy định pháp luật hiện nay thì không bắt buộc tất cả các loại động sản đều phải đăng ký quyền sở hữu, điều này dẫn đến tình trạng các chủ thể khi đi vay sẽ sử dụng cả những động sản không thuộc diện phải đăng ký quyền sở hữu để bảo đảm cho các khoản vay. Vì không thuộc diện phải đăng ký quyền sở hữu nên việc xác định quyền sở hữu của những loại động sản này gặp nhiều khó khăn và tiềm ẩn nhiều rủi ro, bởi đối với nhiều loại động sản, có thể người chiếm hữu và chủ sở hữu là hai chủ thể khác nhau. Trên thực tế, để xác định được chủ sở hữu thực sự đối với tài sản là động sản không thuộc diện bắt buộc phải đăng ký quyền sở hữu, đòi hỏi ngân hàng phải thực hiện nhiều thủ tục để xác minh yếu tố pháp lý trong một chuỗi các giao dịch trước đó của động sản (giao dịch mua bán, tặng cho…), điều này gây tốn kém về thời gian, công sức, chi phí. Còn nếu bỏ qua, không thực hiện thì có thể dẫn đến tiềm ẩn nhiều vấn đề rủi ro cho chính bản thân của các ngân hàng khi xử lý các loại tài sản này để thu hồi vốn với tư cách là bên nhận tài sản bảo đảm các khoản vay.

3. Một số kiến nghị

Một là, cần tiếp tục quy định cụ thể hơn về khái niệm động sản và đưa ra các tiêu chí cụ thể để xác định những loại tài sản là động sản được sử dụng trong hoạt động bảo đảm các khoản vay tại ngân hàng thương mại. Điều này là rất quan trọng và cần thiết để xác định được tính chính danh của các loại động sản này khi dùng để bảo đảm cho các khoản vay. Vấn đề này không chỉ tạo được hành lang cơ sở pháp lý vững chắc giúp các chủ thể có thể dễ dàng, thuận lợi hơn trong việc áp dụng và thực thi pháp luật mà còn giúp hạn chế những rủi ro có thể phát sinh cho ngân hàng và các chủ thể có liên quan khi tiến hành xử lý tài sản là động sản được dùng để bảo đảm các khoản vay, bởi lúc này, tính chính danh của động sản được phép sử dụng để bảo đảm các khoản vay đã được xác định.

Hai là, cần quy định rõ quyền truy đòi của bên nhận bảo đảm trong trường hợp tài sản đã được chuyển giao và thay đổi hoàn toàn định dạng ban đầu. Quyền truy đòi đóng vai trò rất quan trọng đối với bên nhận bảo đảm bởi thông qua quyền này sẽ giúp cho bên nhận bảo đảm có thể đòi lại được các quyền lợi chính đáng của mình trong trường hợp tài sản bảo đảm có sự thay đổi dịch chuyển về hình thái ban đầu. Vì vậy, việc quy định rõ ràng, cụ thể về quyền truy đòi của bên nhận bảo đảm trong trường hợp tài sản đã được chuyển giao và thay đổi hoàn toàn định dạng ban đầu vào trong hệ thống các văn bản pháp luật là điều cần thiết để tạo khung pháp lý giúp các ngân hàng thương mại có thể dễ dàng, thống nhất trong việc thực hiện quyền truy đòi, đồng thời, cũng giúp ngân hàng hạn chế được rủi ro có thể phát sinh trong trường hợp này trên thực tế.

Ba là, cần xây dựng hệ thống các quy tắc ưu tiên một cách rõ ràng trong việc bảo vệ quyền lợi bên nhận bảo đảm khi tài sản bảo đảm khoản vay bị chuyển giao, cũng như cần phải xác định một số loại động sản được áp dụng theo phương thức bảo đảm đặc biệt. Theo đó, việc quy định rõ hệ thống các quy tắc ưu tiên bảo vệ quyền lợi một cách rõ ràng trong trường hợp tài sản là động sản được dùng để bảo đảm các khoản vay tại ngân hàng nhưng lại bị chuyển giao cho các chủ thể khác sẽ giúp ngân hàng có thể định vị mức độ được bảo vệ, từ đó có thể bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình. Bên cạnh đó, việc quy định rõ loại động sản được áp dụng phương thức bảo đảm đặc biệt sẽ tạo ra cơ chế pháp lý ràng buộc cần thiết nhằm bảo đảm rằng những loại động sản này khi được dùng để bảo đảm các khoản vay sẽ không bị dịch chuyển, thất thoát, từ đó, giúp cho việc xử lý được thuận tiện, dễ dàng và nhanh chóng hơn.

Ngoài ra, để bảo đảm quyền lợi cho ngân hàng trong trường hợp bên vay cố tình chuyển dịch tài sản là động sản dùng để bảo đảm cho các khoản vay thì đòi hỏi cần phải tăng tính thực thi của quyền truy đòi. Theo đó, việc tiếp cận quyền truy đòi cần được xác định dưới định dạng “quyền” của bên nhận bảo đảm và phải xem đây là cơ chế để bảo vệ quyền của ngân hàng thương mại với tư cách là chủ nợ. Khi điều này được bảo đảm thì cơ chế bảo vệ quyền lợi của ngân hàng sẽ trở nên mạnh mẽ hơn, từ đó, giúp các ngân hàng có thể bảo toàn lợi ích của mình khi tiến hành tiếp cận và xử lý các tài sản là động sản được sử dụng để bảo đảm các khoản vay nhưng lại bị bên vay chuyển dịch cho chủ thể khác.

Bốn là, cần quy định nguyên tắc tối thiểu trong việc xác định điều kiện pháp lý đối với động sản nói riêng và điều kiện hiệu lực của giao dịch bảo đảm nói chung. Điều này sẽ giúp ngân hàng có thể dễ dàng hơn trong việc xử lý tài sản là động sản không thuộc diện phải đăng ký quyền sở hữu được dùng để bảo đảm trong các khoản vay. Quy định tối thiểu ở đây được hiểu là điều kiện của động sản bảo đảm không nhất thiết phải “hội tụ” đủ ba nhóm quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt của bên bảo đảm, mà chỉ cần có một phần trong các quyền trên thì được xác định là đủ điều kiện pháp lý của động sản bảo đảm. Về nội dung này, trong quy định tại Điều 9.203 (b) Bộ luật Thương mại thống nhất Hoa Kỳ (UCC) quy định: “Lợi ích bảo đảm được gắn với động sản bảo đảm nếu bên bảo đảm có quyền đối với động sản bảo đảm hoặc có quyền chuyển giao các quyền có liên quan đến động sản bảo đảm” và Việt Nam có thể nghiên cứu tham khảo kinh nghiệm này[1]. Khi quy định trên được xác lập rõ ràng sẽ giúp ngân hàng dễ dàng hơn trong việc xử lý tài sản là động sản không thuộc diện phải đăng ký quyền sở hữu, cũng như hạn chế được các vấn đề rủi ro có thể phát sinh trên thực tế./.

TS. Trương Thị Tuyết Minh & ThS. Trần Linh Huân

Khoa Luật Thương mại, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

[1]. Trương Thị Tuyết Minh, “Điều chỉnh pháp luật đối với giao dịch bảo đảm bằng động sản trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 8 (353), tr. 37.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 406), tháng 6/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.

Theo dõi chúng tôi trên: