Thứ tư 26/08/2026 21:58
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện quy định pháp luật Việt Nam về chữ ký điện tử

Chữ ký hoặc các hình thức chứng thực khác (như điểm chỉ) là yêu cầu phổ biến để tạo nên đặc điểm của bên ký kết và ràng buộc họ với nội dung của tài liệu. Hình thức chứng thực phổ biến nhất hiện nay là chữ ký tay và yêu cầu về chữ ký của các bên trong quan hệ hợp đồng thường được đặt ra khi được thực hiện bằng văn bản. Chữ ký thường được hiểu là chữ ký tay của một cá nhân, người có thẩm quyền giao kết hợp đồng. Chữ ký tay là dấu hiệu cá thể hóa của bên tham gia ký kết hợp đồng.

Trong doanh nghiệp, chữ ký tay của người đại diện pháp luật của doanh nghiệp phải được đăng ký và thông báo tới cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền. Vấn đề chữ ký đã được sự quan tâm của rất nhiều các tổ chức chuyên môn về công nghệ kỹ thuật cũng như các cơ quan lập pháp. Nhiều nước đã thừa nhận chữ ký điện tử và quy định thành một đạo luật riêng biệt hoặc là bổ sung các điều khoản quy định về loại hình chữ ký mới. Chữ ký điện tử là sự kết hợp giữa khóa mã riêng và dữ liệu cần mã hóa bằng công nghệ số. Với sự ra đời của chữ ký điện tử (hay còn gọi là chữ ký kỹ thuật số), một cách thức mới để các bên ký kết ra đời.

1. Quy định của pháp luật hiện hành về chữ ký điện tử

Thứ nhất, quy định chung về chữ ký trong giao dịch điện tử

Chữ ký điện tử được đã được quy định trong Luật Giao dịch điện tử năm 2005. Theo khoản 1 Điều 21 của Luật thì “chữ ký điện tử là chữ ký được tạo lập dưới dạng từ, chữ, số, ký hiệu, âm thanh hoặc các hình thức khác bằng phương tiện điện tử, gắn liền hoặc kết hợp một cách lô gíc với thông điệp dữ liệu, có khả năng xác nhận người ký thông điệp dữ liệu và xác nhận sự chấp thuận của người đó đối với nội dung thông điệp dữ liệu được ký” Ngoài ra, chữ ký điện tử còn đươc quy định ở nhiều văn bản khác, như: Nghị định số 130/2018/NĐ-CP ngày 27/9/2018 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Giao dịch điện tử về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số; Thông tư số 06/2015/TT-BTTTT ngày 23/3/2015 của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông quy định danh mục tiêu chuẩn bắt buộc áp dụng về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số; Thông tư số 16/2019/TT-BTTTT ngày 15/12/2019 của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông quy định về danh mục tiêu chuẩn bắt buộc áp dụng về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số theo mô hình ký số trên thiết bị di động và ký số từ xa; Thông tư số 22/2020/TT-BTTTT ngày 07/9/2020 của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông quy định về yêu cầu kỹ thuật đối với phần mềm ký số, phần mềm kiểm tra chữ ký số…

Chữ ký số cho phép người nhận thông điệp dữ liệu biết được người ký thông qua sự can thiệp của người thứ ba đáng tin cậy, được biết đến như người làm chứng. Theo quy định của các văn bản trên: Người ký thông điệp gửi một cặp khóa lệch, một khóa riêng được giữ kín giữa người ký thư và người làm chứng và một khóa chung cho phép người nhận chứng thư có thể kiểm tra qua người làm chứng để biết rằng chữ ký đó của đúng người có chìa khóa riêng đó. Người làm chứng tạo và ký một chứng chỉ bằng số. Chứng chỉ này được kết nối giữa người ký và cặp khóa của người đó vì vậy người ký không thể phủ nhận chữ ký của mình. Chữ ký số được xem là chữ ký điện tử an toàn khi đáp ứng các điều kiện sau[1]: (i) Chữ ký số được tạo ra trong thời gian chứng thư số có hiệu lực và kiểm tra được bằng khóa công khai ghi trên chứng thư số có hiệu lực đó; (ii) Chữ ký số được tạo ra bằng việc sử dụng khóa bí mật tương ứng với khóa công khai ghi trên chứng thư số do tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số quốc gia, tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng, tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số chuyên dùng được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện bảo đảm an toàn cho chữ ký số hoặc tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số nước ngoài được công nhận tại Việt Nam cấp; (iii) Khóa bí mật chỉ thuộc sự kiểm soát của người ký tại thời điểm ký; (iv) Khóa bí mật và nội dung thông điệp dữ liệu chỉ gắn duy nhất với người ký khi người đó ký số thông điệp dữ liệu.

Thứ hai, quy định về việc sử dụng chữ ký số trong giao dịch điện tử

Theo khoản 3 Điều 26 Luật Doanh nghiệp năm 2020, tổ chức, cá nhân có quyền lựa chọn sử dụng chữ ký số theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử hoặc sử dụng tài khoản đăng ký kinh doanh để đăng ký doanh nghiệp qua mạng thông tin điện tử. Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt, doanh nghiệp phải sử dụng chữ ký số, cụ thể:

Chữ ký điện tử theo quy định của pháp luật của người bán; ngày, tháng, năm lập và gửi hóa đơn. Chữ ký điện tử theo quy định của pháp luật của người mua trong trường hợp người mua là đơn vị kế toán (điểm e khoản 1 Điều 6 Thông tư số 32/2011/TT-BTC ngày 14/3/2011 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn về khởi tạo, phát hành và sử dụng hoá đơn điện tử bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ).

Hóa đơn điện tử khi mua bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ, khi sử dụng hóa đơn điện tử phải có phần chữ ký số (khoản 2 Điều 3 Nghị định số 119/2018/NĐ-CP ngày 12/9/2018 của Chính phủ quy định về hóa đơn điện tử khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ).

Người nộp thuế thực hiện hoạt động kinh doanh tại địa bàn có cơ sở hạ tầng về công nghệ thông tin phải thực hiện kê khai, nộp thuế, giao dịch với cơ quan quản lý thuế thông qua phương tiện điện tử theo quy định của pháp luật (khoản 10 Điều 17 Luật Quản lý thuế năm 2019).

Chữ ký số đang được tận dụng tối đa và mang lại rất nhiều lợi ích cho doanh nghiệp như: Thủ tục nhanh gọn, không cần trực tiếp ký tay; tiết kiệm thời gian, giảm chi phí nhân công, di chuyển, doanh nghiệp không cần gặp gỡ nhau, giảm thiểu trở ngại về khoảng cách địa lý; bảo đảm tính chính xác, bảo mật dữ liệu….

2. Những hạn chế trong quy định của pháp luật hiện hành về bảo mật giao dịch điện tử

Pháp luật về bảo mật giao dịch điện tử ở Việt Nam cho tới nay còn một số điểm hạn chế cơ bản như sau:

Thứ nhất, thiếu các định nghĩa về “chữ ký điện tử”, “chữ ký số”, “chữ ký quét” và “chữ ký hình ảnh” ngoài ra, chưa có sự phân biệt giữa chữ ký điện tử và chữ ký số từ đó gây sự nhầm lẫn trong cách áp dụng và sử dụng của người dùng và chưa có hướng dẫn thỏa mãn điều kiện về tính pháp lý của chữ ký điện tử. Bên cạnh đó, chưa có quy định về định danh, xác thực điện tử để bảo mật một cách hiệu quả hơn từ đó dẫn đến việc khó phân định trách nhiệm các bên khi xảy ra các sự cố liên quan đến xác thực và định danh điện tử, gây ảnh hưởng tới tính pháp lý và sự tin tưởng của các bên khi tham gia giao dịch điện tử hoặc khi có tranh chấp xảy ra, thiếu chứng cứ Tòa án giải quyết; chưa có quy định rõ ràng về nội dung an toàn, an ninh, bảo vệ và các phương pháp bảo mật giao dịch điện tử trong Luật mà mới dừng lại ở quy định “quyền lựa chọn các biện pháp bảo mật phù hợp với quy định của pháp luật”.

Thứ hai, các quy định hiện hành mới tập trung điều chỉnh việc bảo mật thông qua phương pháp ký số trong giao dịch điện tử, chưa có quy định cụ thể về các hình thức chữ ký điện tử khác hoặc các hình thức kỹ thuật kết hợp nhằm xác thực người thực hiện giao dịch trên. Điều này tạo ra sự thiếu thống nhất với pháp luật quốc tế trong điều chỉnh pháp luật, không phù hợp với thực tiễn khi công nghệ phát triển phù hợp tiêu chuẩn ký số thế giới, RootCA, Trust List Quốc tế. Tội phạm công nghệ cao càng ngày càng chuyên nghiệp khiến giá trị thông tin bị đặt vào tình trạng không an toàn bảo mật, chưa tạo được hành lang pháp lý chắc chắn bảo vệ người tham giao dịch trên phương tiện điện tử trong nền kinh tế số hiện nay.

Thứ ba, theo quy định Luật Giao dịch điện tử năm 2005 có hai mức độ chữ ký điện tử cơ bản và chữ ký điện tử bảo đảm an toàn, nhưng lại chưa có quy định rõ ràng về trường hợp sử dụng các mức độ chữ ký điện tử. Điều này dẫn đến việc ứng dụng chữ ký điện tử trong thực tế còn chưa khả thi như mong muốn và không phân chia cấp độ đồng bộ với quy định tiêu chuẩn chữ ký điện tử nâng cao.

Thứ tư, pháp luật về chữ ký điện tử chưa bắt kịp được với thực tiễn sử dụng chữ ký số như chứng thư số bị hết hạn hoặc thu hồi sẽ bị vô hiệu hóa chữ ký số trên tài liệu. Ký số thông thường sẽ không thể xác thực được chữ ký số hết hạn hoăc bị thu hồi trong tương lai, từ đó hợp đồng điện tử coi như vô hiệu dẫn tới không có bằng chứng giao dịch, giá trị pháp lý và không tuân thủ pháp luật.

Thứ năm, các văn bản pháp luật về giao dịch điện tử chưa dự liệu tới những tình huống thực tế trong việc trình độ khoa học phát triển, chưa có sự phối hợp với các luật liên quan như Luật An toàn thông tin, Luật An ninh mạng. Bên cạnh đó, với số lượng lớn văn bản quy phạm pháp luật liên quan tới chữ ký số gồm các nghị định và thông tư từ chung tới cụ thể các ngành tạo sự thiếu thống nhất, chồng chéo trong khâu quản lý...

3. Một số đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật về chữ ký điện tử

Trước mắt, để bảo đảm hiệu lực, hiệu quả điều chỉnh của pháp luật về bảo mật giao dịch điện tử ở Việt Nam, rất cần khắc phục những điểm hạn chế nêu trên. Cụ thể:

Một là, bổ sung Điều 4 Luật Giao dịch điện tử năm 2005 các định nghĩa về “chữ ký điện tử”, “chữ ký số”, “chữ ký quét”, “chữ ký hình ảnh”, “chữ ký điện tử an toàn” nhằm hướng pháp luật điều chỉnh rộng rãi, phong phú các dạng chữ ký điện tử, căn cứ để cơ quan có thẩm quyền xem xét về tính hợp pháp của các hình thức đó.

- Chữ ký số: Các bên sử dụng nền tảng, thiết bị chuyên dụng do nhà cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số cung cấp để tạo chữ ký số. Sau đó, chữ ký số đó được đính kèm theo phương thức điện tử với hợp đồng cần được ký kết. Trên thực tế, chữ ký số ít được sử dụng trong việc ký kết các hợp đồng lớn và phức tạp mà chủ yếu được sử dụng khi bên ký kết nộp tờ khai hải quan, tờ khai bảo hiểm xã hội, nộp thuế qua mạng, xuất hóa đơn điện tử hoặc khi tổ chức, cá nhân thực hiện các giao dịch điện tử qua hệ thống ngân hàng trực tuyến.

- Chữ ký quét: Hợp đồng được in bởi người ký từ tệp dữ liệu và người ký của mỗi bên ký vào bản cứng của hợp đồng đó bằng mực ướt. Sau đó, hợp đồng với các chữ ký trên đó được chuyển thành dạng điện tử (ví dụ như bằng cách quét) và bản sao quét của hợp đồng đã ký (là tệp dữ liệu điện tử) được gửi đến bên đối tác qua email. Chữ ký quét được sử dụng thường xuyên trong các hợp đồng có nhiều bên và các bên đó không có mặt ở cùng một nơi để ký cùng một bản sao của hợp đồng. Chữ ký quét đặc biệt phổ biến trong các hợp đồng liên quan đến giao dịch xuyên biên giới và có một hoặc nhiều bên ký kết là người nước ngoài.

- Chữ ký hình ảnh: Một bên ký kết chèn hình ảnh chữ ký của mình vào ô chữ ký của tệp dữ liệu điện tử của hợp đồng; sau đó, tệp dữ liệu điện tử của hợp đồng (cùng với chữ ký hình ảnh trên đó) được gửi đến bên đối tác qua email. Chữ ký ảnh thường được sử dụng trong các hợp đồng không có giá trị lớn nhưng được ký kết thường xuyên và khi người ký không có mặt tại địa điểm có thể in và ký hợp đồng bằng chữ ký mực ướt[2].

- Chữ ký điện tử an toàn: Sửa đổi thành 03 mức độ an toàn (basic, advanced, qualified) thay thế 2 mức chữ ký điện tử cơ bản, chữ điện tử bảo đảm an toàn tại Điều 21, 22 Luật Giao dịch điện tử năm 2005.

Hai là, bổ sung quy định bắt buộc về tiêu chuẩn áp dụng đối với chữ ký điện tử và trong các văn bản quy phạm pháp luật. Bổ sung quy định áp dụng bắt buộc đối với TrustCA Timestamp, đây là công nghệ có giá trị cao nhất về chống gian lận, giả mạo trong giao dịch điện tử, bảo đảm tính pháp lý khi lưu trữ tài liệu điện tử lâu dài, xác thực tài liệu dài hạn, tin cậy cả sau khi chứng thư số hết hạn, giúp thay thế hoàn toàn bản giấy, không phải in ấn, thay thế kho lưu trữ giấy bằng kho lưu trữ điện tử. Việc áp dụng ký số đóng dấu thời gian, ký số theo tiêu chuẩn chữ ký số lâu dài LTV/LTANS giúp xác thực tài liệu điện tử mà không phụ thuộc vào thời hạn chứng thư số, các lệnh thu hồi chứng thư số, bảo đảm tuân thủ đầy đủ quy định về lưu trữ tài liệu điện tử lâu dài có xác thực theo quy định pháp luật của Việt Nam và quốc tế[3].

Ba là, yêu cầu áp dụng bắt buộc xác thực đa yếu tố (Multi-Factor Authentication) là phương thức xác thực dựa trên nhiều yếu tố xác thực kết hợp. Với xác thực đa yếu tố, có thể tăng mức độ an toàn, bảo mật nhờ việc kiểm chứng nhiều yếu tố xác thực. Mức độ an toàn bảo mật sẽ càng cao khi số yếu tố xác thực càng nhiều. Khi số yếu tố xác thực lớn thì hệ thống càng phức tạp, kéo theo chi phí đầu tư và duy trì vận hành tốn kém, đồng thời lại bất tiện cho người sử dụng. Do vậy, trên thực tế để cân bằng giữa an toàn, bảo mật và tính tiện dụng, người ta thường áp dụng xác thực hai yếu tố (Two-Factor Authentication - 2FA). Với hệ thống giao dịch điện tử ở thời điểm hiện tại đang sử dụng xác thực đơn vị qua yếu tố những gì thực thể biết sử dụng username và password. Vì vậy, để áp dụng mô hình xác thực hai yếu tố (2FA) cho người dùng tác giả sử dụng phương pháp xác thực dựa trên phương pháp “thực thể biết gì” sử dụng tên đăng nhập (username) và mật khẩu (password) kết hợp với một phương pháp xác thực dựa vào “thực thể thừa hưởng gì" hoặc “thực thể sở hữu gì”. Xét các yếu tố xác thực trong bài toán thực tế của giao dịch điện tử[4].

Bốn là, nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Luật Giao dịch điện tử trên cơ sở kế thừa một số quy định về bảo mật đã có trong Luật Giao dịch điện tử năm 2005, Luật An toàn thông tin mạng năm 2015, Luật An ninh mạng năm 2018 nhất là việc quy định đầy đủ hơn các phương pháp và trách nhiệm trong việc bảo đảm an toàn, bảo mật giao dịch điện tử, quy định về việc xác thực điện tử, quy định rõ hơn trách nhiệm của các chủ thể tham gia vào quá trình cung cấp và sử dụng chữ ký điện tử, cùng các biện pháp chế tài nghiêm khắc, trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo mật giao dịch điện tử để xử lý nhiều bất cập trong thực tiễn góp phần duy trì niềm tin của người dân về an ninh, an toàn, bảo mật giao dịch điện tử khi tham gia vào nền kinh tế số. Luật Giao dịch điện tử sửa đổi, bổ sung cũng cần quy định có tính hợp tác quốc tế trong việc bảo bảo mật như áp dụng các tiêu chuẩn của các nước và hệ thống luật liên quan.

Năm là, tăng cường quản lý nhà nước về bảo mật giao dịch điện tử, quy định rõ ràng cơ quan có chức năng quản lý nhà nước về giao dịch điện tử, bên cạnh đó, giao cho cơ quan này đầy đủ quyền hạn và công cụ quản lý cần thiết nhằm kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm trong phạm vi của giao dịch điện tử hướng tới Chính phủ số.

ThS. Nguyễn Thị Long
GV. Trường Đại học Luật Hà Nội
Hoàng Minh Quang
SV. Trường Đại học Luật Hà Nội


[1] Xem: Khoản 1 Điều 22 Luật Giao dịch điện tử năm 2005.

[2] Xem: Trương Nhật Quang, “Ký kết hợp đồng thông qua phương thức điện tử”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp - Số 10/2020, tr. 19 - 24.

[3] Xem: Thảo Anh, “Bảo mật giao dịch điện tử và ứng dụng di động trong nền kinh tế số”, 2021, Link truy cập: https://www.mic.gov.vn/mic_2020/Pages/TinTuc/148719/Bao-mat-giao-dich-dien-tu-va-ung-dung-di-dong-trong-nen-kinh-te-so.html, truy cập ngày 16/3/2022.

[4] Xem: Nguyễn Đức Nhượng, Vũ Thị Hương Giang, “Xác thực cho các ứng dụng Chính phủ điện tử”, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Bách khoa, 2017.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.

Theo dõi chúng tôi trên: