Thứ bảy 11/04/2026 05:54
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện quy định pháp luật Việt Nam về chữ ký điện tử

Chữ ký hoặc các hình thức chứng thực khác (như điểm chỉ) là yêu cầu phổ biến để tạo nên đặc điểm của bên ký kết và ràng buộc họ với nội dung của tài liệu. Hình thức chứng thực phổ biến nhất hiện nay là chữ ký tay và yêu cầu về chữ ký của các bên trong quan hệ hợp đồng thường được đặt ra khi được thực hiện bằng văn bản. Chữ ký thường được hiểu là chữ ký tay của một cá nhân, người có thẩm quyền giao kết hợp đồng. Chữ ký tay là dấu hiệu cá thể hóa của bên tham gia ký kết hợp đồng.

Trong doanh nghiệp, chữ ký tay của người đại diện pháp luật của doanh nghiệp phải được đăng ký và thông báo tới cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền. Vấn đề chữ ký đã được sự quan tâm của rất nhiều các tổ chức chuyên môn về công nghệ kỹ thuật cũng như các cơ quan lập pháp. Nhiều nước đã thừa nhận chữ ký điện tử và quy định thành một đạo luật riêng biệt hoặc là bổ sung các điều khoản quy định về loại hình chữ ký mới. Chữ ký điện tử là sự kết hợp giữa khóa mã riêng và dữ liệu cần mã hóa bằng công nghệ số. Với sự ra đời của chữ ký điện tử (hay còn gọi là chữ ký kỹ thuật số), một cách thức mới để các bên ký kết ra đời.

1. Quy định của pháp luật hiện hành về chữ ký điện tử

Thứ nhất, quy định chung về chữ ký trong giao dịch điện tử

Chữ ký điện tử được đã được quy định trong Luật Giao dịch điện tử năm 2005. Theo khoản 1 Điều 21 của Luật thì “chữ ký điện tử là chữ ký được tạo lập dưới dạng từ, chữ, số, ký hiệu, âm thanh hoặc các hình thức khác bằng phương tiện điện tử, gắn liền hoặc kết hợp một cách lô gíc với thông điệp dữ liệu, có khả năng xác nhận người ký thông điệp dữ liệu và xác nhận sự chấp thuận của người đó đối với nội dung thông điệp dữ liệu được ký” Ngoài ra, chữ ký điện tử còn đươc quy định ở nhiều văn bản khác, như: Nghị định số 130/2018/NĐ-CP ngày 27/9/2018 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Giao dịch điện tử về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số; Thông tư số 06/2015/TT-BTTTT ngày 23/3/2015 của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông quy định danh mục tiêu chuẩn bắt buộc áp dụng về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số; Thông tư số 16/2019/TT-BTTTT ngày 15/12/2019 của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông quy định về danh mục tiêu chuẩn bắt buộc áp dụng về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số theo mô hình ký số trên thiết bị di động và ký số từ xa; Thông tư số 22/2020/TT-BTTTT ngày 07/9/2020 của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông quy định về yêu cầu kỹ thuật đối với phần mềm ký số, phần mềm kiểm tra chữ ký số…

Chữ ký số cho phép người nhận thông điệp dữ liệu biết được người ký thông qua sự can thiệp của người thứ ba đáng tin cậy, được biết đến như người làm chứng. Theo quy định của các văn bản trên: Người ký thông điệp gửi một cặp khóa lệch, một khóa riêng được giữ kín giữa người ký thư và người làm chứng và một khóa chung cho phép người nhận chứng thư có thể kiểm tra qua người làm chứng để biết rằng chữ ký đó của đúng người có chìa khóa riêng đó. Người làm chứng tạo và ký một chứng chỉ bằng số. Chứng chỉ này được kết nối giữa người ký và cặp khóa của người đó vì vậy người ký không thể phủ nhận chữ ký của mình. Chữ ký số được xem là chữ ký điện tử an toàn khi đáp ứng các điều kiện sau[1]: (i) Chữ ký số được tạo ra trong thời gian chứng thư số có hiệu lực và kiểm tra được bằng khóa công khai ghi trên chứng thư số có hiệu lực đó; (ii) Chữ ký số được tạo ra bằng việc sử dụng khóa bí mật tương ứng với khóa công khai ghi trên chứng thư số do tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số quốc gia, tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng, tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số chuyên dùng được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện bảo đảm an toàn cho chữ ký số hoặc tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số nước ngoài được công nhận tại Việt Nam cấp; (iii) Khóa bí mật chỉ thuộc sự kiểm soát của người ký tại thời điểm ký; (iv) Khóa bí mật và nội dung thông điệp dữ liệu chỉ gắn duy nhất với người ký khi người đó ký số thông điệp dữ liệu.

Thứ hai, quy định về việc sử dụng chữ ký số trong giao dịch điện tử

Theo khoản 3 Điều 26 Luật Doanh nghiệp năm 2020, tổ chức, cá nhân có quyền lựa chọn sử dụng chữ ký số theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử hoặc sử dụng tài khoản đăng ký kinh doanh để đăng ký doanh nghiệp qua mạng thông tin điện tử. Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt, doanh nghiệp phải sử dụng chữ ký số, cụ thể:

Chữ ký điện tử theo quy định của pháp luật của người bán; ngày, tháng, năm lập và gửi hóa đơn. Chữ ký điện tử theo quy định của pháp luật của người mua trong trường hợp người mua là đơn vị kế toán (điểm e khoản 1 Điều 6 Thông tư số 32/2011/TT-BTC ngày 14/3/2011 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn về khởi tạo, phát hành và sử dụng hoá đơn điện tử bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ).

Hóa đơn điện tử khi mua bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ, khi sử dụng hóa đơn điện tử phải có phần chữ ký số (khoản 2 Điều 3 Nghị định số 119/2018/NĐ-CP ngày 12/9/2018 của Chính phủ quy định về hóa đơn điện tử khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ).

Người nộp thuế thực hiện hoạt động kinh doanh tại địa bàn có cơ sở hạ tầng về công nghệ thông tin phải thực hiện kê khai, nộp thuế, giao dịch với cơ quan quản lý thuế thông qua phương tiện điện tử theo quy định của pháp luật (khoản 10 Điều 17 Luật Quản lý thuế năm 2019).

Chữ ký số đang được tận dụng tối đa và mang lại rất nhiều lợi ích cho doanh nghiệp như: Thủ tục nhanh gọn, không cần trực tiếp ký tay; tiết kiệm thời gian, giảm chi phí nhân công, di chuyển, doanh nghiệp không cần gặp gỡ nhau, giảm thiểu trở ngại về khoảng cách địa lý; bảo đảm tính chính xác, bảo mật dữ liệu….

2. Những hạn chế trong quy định của pháp luật hiện hành về bảo mật giao dịch điện tử

Pháp luật về bảo mật giao dịch điện tử ở Việt Nam cho tới nay còn một số điểm hạn chế cơ bản như sau:

Thứ nhất, thiếu các định nghĩa về “chữ ký điện tử”, “chữ ký số”, “chữ ký quét” và “chữ ký hình ảnh” ngoài ra, chưa có sự phân biệt giữa chữ ký điện tử và chữ ký số từ đó gây sự nhầm lẫn trong cách áp dụng và sử dụng của người dùng và chưa có hướng dẫn thỏa mãn điều kiện về tính pháp lý của chữ ký điện tử. Bên cạnh đó, chưa có quy định về định danh, xác thực điện tử để bảo mật một cách hiệu quả hơn từ đó dẫn đến việc khó phân định trách nhiệm các bên khi xảy ra các sự cố liên quan đến xác thực và định danh điện tử, gây ảnh hưởng tới tính pháp lý và sự tin tưởng của các bên khi tham gia giao dịch điện tử hoặc khi có tranh chấp xảy ra, thiếu chứng cứ Tòa án giải quyết; chưa có quy định rõ ràng về nội dung an toàn, an ninh, bảo vệ và các phương pháp bảo mật giao dịch điện tử trong Luật mà mới dừng lại ở quy định “quyền lựa chọn các biện pháp bảo mật phù hợp với quy định của pháp luật”.

Thứ hai, các quy định hiện hành mới tập trung điều chỉnh việc bảo mật thông qua phương pháp ký số trong giao dịch điện tử, chưa có quy định cụ thể về các hình thức chữ ký điện tử khác hoặc các hình thức kỹ thuật kết hợp nhằm xác thực người thực hiện giao dịch trên. Điều này tạo ra sự thiếu thống nhất với pháp luật quốc tế trong điều chỉnh pháp luật, không phù hợp với thực tiễn khi công nghệ phát triển phù hợp tiêu chuẩn ký số thế giới, RootCA, Trust List Quốc tế. Tội phạm công nghệ cao càng ngày càng chuyên nghiệp khiến giá trị thông tin bị đặt vào tình trạng không an toàn bảo mật, chưa tạo được hành lang pháp lý chắc chắn bảo vệ người tham giao dịch trên phương tiện điện tử trong nền kinh tế số hiện nay.

Thứ ba, theo quy định Luật Giao dịch điện tử năm 2005 có hai mức độ chữ ký điện tử cơ bản và chữ ký điện tử bảo đảm an toàn, nhưng lại chưa có quy định rõ ràng về trường hợp sử dụng các mức độ chữ ký điện tử. Điều này dẫn đến việc ứng dụng chữ ký điện tử trong thực tế còn chưa khả thi như mong muốn và không phân chia cấp độ đồng bộ với quy định tiêu chuẩn chữ ký điện tử nâng cao.

Thứ tư, pháp luật về chữ ký điện tử chưa bắt kịp được với thực tiễn sử dụng chữ ký số như chứng thư số bị hết hạn hoặc thu hồi sẽ bị vô hiệu hóa chữ ký số trên tài liệu. Ký số thông thường sẽ không thể xác thực được chữ ký số hết hạn hoăc bị thu hồi trong tương lai, từ đó hợp đồng điện tử coi như vô hiệu dẫn tới không có bằng chứng giao dịch, giá trị pháp lý và không tuân thủ pháp luật.

Thứ năm, các văn bản pháp luật về giao dịch điện tử chưa dự liệu tới những tình huống thực tế trong việc trình độ khoa học phát triển, chưa có sự phối hợp với các luật liên quan như Luật An toàn thông tin, Luật An ninh mạng. Bên cạnh đó, với số lượng lớn văn bản quy phạm pháp luật liên quan tới chữ ký số gồm các nghị định và thông tư từ chung tới cụ thể các ngành tạo sự thiếu thống nhất, chồng chéo trong khâu quản lý...

3. Một số đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật về chữ ký điện tử

Trước mắt, để bảo đảm hiệu lực, hiệu quả điều chỉnh của pháp luật về bảo mật giao dịch điện tử ở Việt Nam, rất cần khắc phục những điểm hạn chế nêu trên. Cụ thể:

Một là, bổ sung Điều 4 Luật Giao dịch điện tử năm 2005 các định nghĩa về “chữ ký điện tử”, “chữ ký số”, “chữ ký quét”, “chữ ký hình ảnh”, “chữ ký điện tử an toàn” nhằm hướng pháp luật điều chỉnh rộng rãi, phong phú các dạng chữ ký điện tử, căn cứ để cơ quan có thẩm quyền xem xét về tính hợp pháp của các hình thức đó.

- Chữ ký số: Các bên sử dụng nền tảng, thiết bị chuyên dụng do nhà cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số cung cấp để tạo chữ ký số. Sau đó, chữ ký số đó được đính kèm theo phương thức điện tử với hợp đồng cần được ký kết. Trên thực tế, chữ ký số ít được sử dụng trong việc ký kết các hợp đồng lớn và phức tạp mà chủ yếu được sử dụng khi bên ký kết nộp tờ khai hải quan, tờ khai bảo hiểm xã hội, nộp thuế qua mạng, xuất hóa đơn điện tử hoặc khi tổ chức, cá nhân thực hiện các giao dịch điện tử qua hệ thống ngân hàng trực tuyến.

- Chữ ký quét: Hợp đồng được in bởi người ký từ tệp dữ liệu và người ký của mỗi bên ký vào bản cứng của hợp đồng đó bằng mực ướt. Sau đó, hợp đồng với các chữ ký trên đó được chuyển thành dạng điện tử (ví dụ như bằng cách quét) và bản sao quét của hợp đồng đã ký (là tệp dữ liệu điện tử) được gửi đến bên đối tác qua email. Chữ ký quét được sử dụng thường xuyên trong các hợp đồng có nhiều bên và các bên đó không có mặt ở cùng một nơi để ký cùng một bản sao của hợp đồng. Chữ ký quét đặc biệt phổ biến trong các hợp đồng liên quan đến giao dịch xuyên biên giới và có một hoặc nhiều bên ký kết là người nước ngoài.

- Chữ ký hình ảnh: Một bên ký kết chèn hình ảnh chữ ký của mình vào ô chữ ký của tệp dữ liệu điện tử của hợp đồng; sau đó, tệp dữ liệu điện tử của hợp đồng (cùng với chữ ký hình ảnh trên đó) được gửi đến bên đối tác qua email. Chữ ký ảnh thường được sử dụng trong các hợp đồng không có giá trị lớn nhưng được ký kết thường xuyên và khi người ký không có mặt tại địa điểm có thể in và ký hợp đồng bằng chữ ký mực ướt[2].

- Chữ ký điện tử an toàn: Sửa đổi thành 03 mức độ an toàn (basic, advanced, qualified) thay thế 2 mức chữ ký điện tử cơ bản, chữ điện tử bảo đảm an toàn tại Điều 21, 22 Luật Giao dịch điện tử năm 2005.

Hai là, bổ sung quy định bắt buộc về tiêu chuẩn áp dụng đối với chữ ký điện tử và trong các văn bản quy phạm pháp luật. Bổ sung quy định áp dụng bắt buộc đối với TrustCA Timestamp, đây là công nghệ có giá trị cao nhất về chống gian lận, giả mạo trong giao dịch điện tử, bảo đảm tính pháp lý khi lưu trữ tài liệu điện tử lâu dài, xác thực tài liệu dài hạn, tin cậy cả sau khi chứng thư số hết hạn, giúp thay thế hoàn toàn bản giấy, không phải in ấn, thay thế kho lưu trữ giấy bằng kho lưu trữ điện tử. Việc áp dụng ký số đóng dấu thời gian, ký số theo tiêu chuẩn chữ ký số lâu dài LTV/LTANS giúp xác thực tài liệu điện tử mà không phụ thuộc vào thời hạn chứng thư số, các lệnh thu hồi chứng thư số, bảo đảm tuân thủ đầy đủ quy định về lưu trữ tài liệu điện tử lâu dài có xác thực theo quy định pháp luật của Việt Nam và quốc tế[3].

Ba là, yêu cầu áp dụng bắt buộc xác thực đa yếu tố (Multi-Factor Authentication) là phương thức xác thực dựa trên nhiều yếu tố xác thực kết hợp. Với xác thực đa yếu tố, có thể tăng mức độ an toàn, bảo mật nhờ việc kiểm chứng nhiều yếu tố xác thực. Mức độ an toàn bảo mật sẽ càng cao khi số yếu tố xác thực càng nhiều. Khi số yếu tố xác thực lớn thì hệ thống càng phức tạp, kéo theo chi phí đầu tư và duy trì vận hành tốn kém, đồng thời lại bất tiện cho người sử dụng. Do vậy, trên thực tế để cân bằng giữa an toàn, bảo mật và tính tiện dụng, người ta thường áp dụng xác thực hai yếu tố (Two-Factor Authentication - 2FA). Với hệ thống giao dịch điện tử ở thời điểm hiện tại đang sử dụng xác thực đơn vị qua yếu tố những gì thực thể biết sử dụng username và password. Vì vậy, để áp dụng mô hình xác thực hai yếu tố (2FA) cho người dùng tác giả sử dụng phương pháp xác thực dựa trên phương pháp “thực thể biết gì” sử dụng tên đăng nhập (username) và mật khẩu (password) kết hợp với một phương pháp xác thực dựa vào “thực thể thừa hưởng gì" hoặc “thực thể sở hữu gì”. Xét các yếu tố xác thực trong bài toán thực tế của giao dịch điện tử[4].

Bốn là, nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Luật Giao dịch điện tử trên cơ sở kế thừa một số quy định về bảo mật đã có trong Luật Giao dịch điện tử năm 2005, Luật An toàn thông tin mạng năm 2015, Luật An ninh mạng năm 2018 nhất là việc quy định đầy đủ hơn các phương pháp và trách nhiệm trong việc bảo đảm an toàn, bảo mật giao dịch điện tử, quy định về việc xác thực điện tử, quy định rõ hơn trách nhiệm của các chủ thể tham gia vào quá trình cung cấp và sử dụng chữ ký điện tử, cùng các biện pháp chế tài nghiêm khắc, trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo mật giao dịch điện tử để xử lý nhiều bất cập trong thực tiễn góp phần duy trì niềm tin của người dân về an ninh, an toàn, bảo mật giao dịch điện tử khi tham gia vào nền kinh tế số. Luật Giao dịch điện tử sửa đổi, bổ sung cũng cần quy định có tính hợp tác quốc tế trong việc bảo bảo mật như áp dụng các tiêu chuẩn của các nước và hệ thống luật liên quan.

Năm là, tăng cường quản lý nhà nước về bảo mật giao dịch điện tử, quy định rõ ràng cơ quan có chức năng quản lý nhà nước về giao dịch điện tử, bên cạnh đó, giao cho cơ quan này đầy đủ quyền hạn và công cụ quản lý cần thiết nhằm kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm trong phạm vi của giao dịch điện tử hướng tới Chính phủ số.

ThS. Nguyễn Thị Long
GV. Trường Đại học Luật Hà Nội
Hoàng Minh Quang
SV. Trường Đại học Luật Hà Nội


[1] Xem: Khoản 1 Điều 22 Luật Giao dịch điện tử năm 2005.

[2] Xem: Trương Nhật Quang, “Ký kết hợp đồng thông qua phương thức điện tử”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp - Số 10/2020, tr. 19 - 24.

[3] Xem: Thảo Anh, “Bảo mật giao dịch điện tử và ứng dụng di động trong nền kinh tế số”, 2021, Link truy cập: https://www.mic.gov.vn/mic_2020/Pages/TinTuc/148719/Bao-mat-giao-dich-dien-tu-va-ung-dung-di-dong-trong-nen-kinh-te-so.html, truy cập ngày 16/3/2022.

[4] Xem: Nguyễn Đức Nhượng, Vũ Thị Hương Giang, “Xác thực cho các ứng dụng Chính phủ điện tử”, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Bách khoa, 2017.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.
Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Bài viết phân tích các vấn đề cốt lõi về hợp đồng tiếp thị liên kết, đánh giá thực tiễn áp dụng và chỉ ra những bất cập trong quy định pháp luật, đặc biệt liên quan đến khái niệm pháp lý, cơ chế giao kết và hiệu lực phụ lục hợp đồng. Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng tiếp thị liên kết, nhằm bảo đảm tính minh bạch, công bằng trong quan hệ hợp đồng và góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của hoạt động tiếp thị liên kết trong môi trường thương mại điện tử tại Việt Nam.
Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự gia tăng của quan hệ hôn nhân xuyên biên giới, vấn đề giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn ngày càng trở nên cấp thiết. Bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá quy định hiện hành về xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch (lex patriae). Qua đó, nhận diện một số bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thực thi nguyên tắc này tại Việt Nam hiện nay.
Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Tóm tắt: Ở Việt Nam, chế định Hội thẩm nhân dân là phương thức thể chế hóa quyền làm chủ của Nhân dân trong hoạt động xét xử. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy, chế định này tồn tại một số hạn chế, dẫn đến sự tham gia của Nhân dân trong nhiều trường hợp còn hình thức. Bài viết phân tích vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử, nhận diện những hạn chế trong quy định pháp luật hiện hành về cơ chế lựa chọn, phân công, tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm pháp lý; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của Hội thẩm nhân dân, đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách tư pháp trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.

Theo dõi chúng tôi trên: