Thứ tư 26/08/2026 21:59
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện quy định quyền tư pháp của Tòa án nhân dân theo Hiến pháp năm 2013

Tóm tắt: Bài viết này phân tích và làm rõ quyền tư pháp của Tòa án nhân dân, kiến nghị tiếp tục hoàn thiện về thể chế tư pháp trong Đề án xây dựng “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045”.

Tóm tắt: Bài viết này phân tích và làm rõ quyền tư pháp của Tòa án nhân dân, kiến nghị tiếp tục hoàn thiện về thể chế tư pháp trong Đề án xây dựng “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045”.

Abstract: This article analyzes and clarifies the judicial power of the People's Courts, makes recommendations for further improvement of judicial institutions in the Project “Strategy to build and complete the Socialist rule of law State of Vietnam to 2030, with orientation to 2045”.

1. Quyền tư pháp của Tòa án

1.1. Quyền tư pháp được quy định trong Hiến pháp

Trong Hiến pháp năm 1946, Chương V quy định về cơ quan tư pháp và theo quy định tại Điều 63, cơ quan tư pháp là Tòa án các cấp. Sau Hiến pháp năm 1946, các bản Hiến pháp năm 1959, 1980, 1992, 2013 đều không có chương quy định về cơ quan tư pháp mà chỉ có chương quy định về Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân. Hiến pháp năm 2013 tuy không quy định về cơ quan tư pháp nhưng đã quy định rõ hơn về cơ quan thực hiện quyền tư pháp, đó là Tòa án nhân dân: “Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp” (khoản 1 Điều 102).

Quyền tư pháp được nhiều nước trên thế giới quy định trong Hiến pháp. Hiến pháp năm 1949 (Điều 92) của Cộng hòa Liên bang Đức quy định: “Quyền tư pháp thuộc về các thẩm phán; quyền tư pháp do Tòa án Hiến pháp, các Tòa án liên bang được quy định trong Hiến pháp và các Tòa án bang thực hiện”. Tương tự như vậy, Hiến pháp năm 1978 của Tây Ban Nha (Điều 117) quy định: “Quyền tư pháp xuất phát từ nhân dân, do các thẩm phán và bồi thẩm đoàn đại diện cho quyền tư pháp thực hiện nhân danh nhà vua”; Hiến pháp Cộng hòa Hàn Quốc (Điều 101) quy định: “Quyền lực tư pháp được trao cho Tòa án bao gồm các thẩm phán”; Hiến pháp Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (Điều 3) quy định: “Quyền lực tư pháp của Hoa Kỳ sẽ được trao cho Tòa án tối cao và những Tòa án cấp dưới mà Nghị viện có thể thiết lập trong một số trường hợp”; Hiến pháp Liên bang Nga (Điều 118) cũng ghi nhận: “Quyền lực tư pháp được thực hiện thông qua tố tụng Hiến pháp, dân sự, hành chính và hình sự”; Hiến pháp Nhật bản (Điều 76) ghi nhận: “Toàn bộ quyền tư pháp được trao cho Tòa án tối cao và các Tòa án các cấp được hình thành theo quy định của pháp luật”. Các bản Hiến pháp có những diễn giải khác nhau về quyền tư pháp nhưng có một điểm chung đó là quyền tư pháp đều được trao cho Tòa án thực hiện.

Như vậy, quyền tư pháp theo cách hiểu chung nhất hiện nay là một trong những quyền lực nhà nước được giao cho Tòa án thực hiện, bao gồm quyền xét xử đối với các hành vi vi phạm pháp luật; xử lý các tranh chấp, xung đột về quyền và nghĩa vụ phát sinh từ các quan hệ xã hội; công nhận giá trị pháp lý đối với các sự kiện, hành vi làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ của cá nhân, cơ quan, tổ chức…

1.2. Đặc điểm quyền tư pháp

1.2.1. Quyền tư pháp do Tòa án thực hiện

Hệ thống Tòa án các nước đều có Tòa án tối cao và Tòa án cấp dưới, một số nước ngoài hệ thống Tòa án thường còn có các Tòa án chuyên biệt như Tòa án Hiến pháp, Tòa án hành chính, Tòa án lao động… Các Tòa án này được giao thực hiện quyền tư pháp, với sự tham gia của các thẩm phán, bồi thẩm đoàn (hội thẩm nhân dân). Ngoài Tòa án có quyền thực hiện quyền tư pháp, còn có những cơ quan khác có hoạt động tư pháp. Hoạt động tư pháp không đồng nghĩa với quyền tư pháp. Nếu như chủ thể quyền tư pháp chỉ có thể là Tòa án, cơ quan duy nhất có quyền xét xử thì hoạt động tư pháp còn hàm chứa các hoạt động khác nằm trong quỹ đạo của quyền tư pháp và để thực hiện quyền tư pháp. Những cơ quan có hoạt động tư pháp bao gồm cơ quan công tố, cơ quan điều tra và cơ quan thi hành án (bao gồm cả thi hành án hình sự và thi hành án dân sự). Cơ quan có hoạt động tư pháp có thể nằm trong hệ thống tư pháp và được coi là cơ quan tư pháp nhưng chỉ có Tòa án mới có thẩm quyền thực hiện quyền tư pháp. Chẳng hạn, ở Cộng hòa Liên bang Đức, Viện công tố nằm trong hệ thống tư pháp và được coi là cơ quan tư pháp, mặc dù chịu sự chỉ đạo của cơ quan hành pháp (Bộ Tư pháp). Ở Cộng hòa Pháp, công tố nằm trong Tòa án, nhưng về tổ chức vẫn phân định Chánh án công tố và Chánh án xét xử, thẩm phán có thẩm phán công tố và thẩm phán xét xử (thẩm phán đứng, thẩm phán ngồi). Sự “dính líu” về hành chính hoặc tư pháp không làm mất đi tính chất hoạt động tư pháp. Ở nước ta, Hiến pháp năm 1946 quy định công tố nằm trong cơ quan tư pháp (Tòa án), từ Hiến pháp năm 1959 đến nay, Viện kiểm sát nhân dân được thành lập thành một thiết chế độc lập với hệ thống Tòa án nhưng quan hệ chặt chẽ, không thể tách rời hoạt động xét xử của Tòa án.

1.2.2. Quyền tư pháp đòi hỏi tính độc lập cao

Trong Nhà nước pháp quyền, quyền lực tư pháp độc lập sẽ bảo đảm để những giá trị tiến bộ của Nhà nước pháp quyền, dân chủ được phát huy và thể hiện trong thực tiễn đời sống xã hội. Tòa án, thẩm phán không độc lập thì nguy cơ quyền lực tư pháp trở thành công cụ bảo vệ quyền lợi của những thế lực chi phối và đương nhiên nó sẵn sàng tước bỏ quyền lợi hợp pháp, quyền lợi chính đáng của tất cả những bên còn lại. Lúc đó, tính công bằng của hoạt động xét xử bị triệt tiêu[1]. Vì vậy, quyền lực tư pháp độc lập được bảo đảm càng cao thì mức độ pháp quyền sẽ có cơ hội phát triển mạnh mẽ, quyền lực tư pháp không độc lập thì chắc chắn pháp luật khó giữ được vai trò tối thượng trong đời sống xã hội. Trong trường hợp này, quyền con người, quyền tự do dân chủ của cá nhân, tổ chức khó được pháp luật bảo vệ. Do đó, độc lập của tư pháp (Tòa án) được coi là một trong những yêu cầu tiên quyết của nền pháp quyền dân chủ. Cho nên, trong luật nhân quyền quốc tế, độc lập của Tòa án là chuẩn mực tối thiểu bắt buộc các quốc gia phải có nghĩa vụ thực thi lập tức, vô điều kiện nhằm bảo vệ quyền con người trong phạm vi lãnh thổ quốc gia. Hiến pháp của các Nhà nước pháp quyền hiện đại đều quy định quyền lực tư pháp (Tòa án) độc lập với các nhóm quyền lực khác. Ở Việt Nam, ngay từ Hiến pháp năm 1946, độc lập xét xử của Tòa án đã được quy định trong Hiến pháp: “Trong khi xét xử, các viên thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật, các cơ quan khác không được can thiệp”. Nội dung này được tiếp tục kế thừa trong các bản Hiến pháp sau đó.

1.2.3. Quyền tư pháp được thực hiện thông qua tố tụng tư pháp

Cũng như tính độc lập tư pháp trong Nhà nước pháp quyền, trình tự, thủ tục tư pháp nghiêm ngặt cũng là đặc trưng cơ bản để nói về Nhà nước pháp quyền và là đặc trưng của quyền tư pháp. Khi nói đến quyền tư pháp là nói đến tố chất của một thủ tục chặt chẽ, công khai có tính dân chủ cao. Cũng chính vì điều này mà trong các tố tụng tư pháp, việc vi phạm các thủ tục tố tụng sẽ dẫn đến hậu quả bất lợi cho việc tiến hành vụ án. Trong tố tụng hình sự, đối tượng được ưu tiên bảo vệ là con người, quyền con người, quyền công dân. Do đó, lá chắn quan trọng và vững chắc nhất đối với quyền con người, quyền công dân nhằm phòng ngừa và ngăn chặn những vi phạm từ phía các cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng đó chính là các thủ tục tố tụng chặt chẽ. Nguyên tắc suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự cũng là một bảo đảm quan trọng và vững chắc đối với quyền con người, quyền công dân nhằm phòng ngừa và ngăn chặn những vi phạm từ phía các cơ quan tố tụng. Đây là nguyên tắc “kinh điển” nhất của tố tụng hình sự được ghi nhận trong nhiều văn kiện quốc tế quan trọng, như Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền năm 1948; Công ước của Liên Hợp Quốc về các quyền dân sự và chính trị năm 1966. Đặc biệt, bản Tuyên ngôn nêu trên đã coi nguyên tắc suy đoán vô tội là “phẩm giá của văn minh nhân loại”.

2. Nội dung quyền tư pháp theo Hiến pháp năm 2013

Điều 102 Hiến pháp năm 2013 quy định: “1. Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp. 2. Tòa án nhân dân gồm Tòa án nhân dân tối cao và các Tòa án khác do luật định. 3. Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”. Từ quy định này và các văn bản luật hiện hành, nội dung quyền tư pháp của Tòa án nhân dân gồm: (i) Xét xử các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính và giải quyết các việc khác theo quy định của pháp luật; công nhận giá trị pháp lý đối với các sự kiện, hành vi làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ của cá nhân, cơ quan, tổ chức...; (ii) Xử lý vi phạm hành chính; xem xét đề nghị của cơ quan quản lý nhà nước và quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính liên quan đến quyền con người, quyền cơ bản của công dân theo quy định của pháp luật; (iii) Ra quyết định thi hành án; hoãn chấp hành hình phạt tù, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù, giảm hoặc miễn chấp hành hình phạt, xóa án tích…; (iv) Tạo ra án lệ để phục vụ việc giải quyết vụ việc mà Tòa án đang giải quyết; (v) Trong quá trình xét xử vụ án, Tòa án phát hiện và kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ văn bản pháp luật trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức.

Để cụ thể hóa những quy định của Hiến pháp, các bộ luật, luật đã quy định về quyền tư pháp như sau:

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Luật Tố tụng hành chính năm 2015, Pháp lệnh Trình tự, thủ tục, xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân năm 2014 đã quy định thẩm quyền xét xử và giải quyết các tranh chấp tại Tòa án, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính. Những quy định về thẩm quyền xét xử của Tòa án đối với các vụ án hình sự, các vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính và thực hiện các quyền hạn khác theo quy định của luật tố tụng, về cơ bản được kế thừa các quy định của pháp luật tố tụng trước khi có Hiến pháp năm 2013.

Những nội dung mới được quy định trong pháp luật về tố tụng dân sự, tố tụng hành chính để thực hiện quyền tư pháp của Tòa án bao gồm:

- Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (Điều 4) quy định: Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khởi kiện vụ án dân sự, yêu cầu giải quyết việc dân sự tại Tòa án có thẩm quyền, để yêu cầu Tòa án bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác. Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng. Trong trường hợp này, Tòa án áp dụng tập quán để giải quyết vụ việc dân sự; áp dụng tương tự pháp luật để giải quyết vụ việc dân sự hoặc áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ, lẽ công bằng để giải quyết vụ việc dân sự khi không thể áp dụng tập quán, tương tự pháp luật.

- Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (Điều 221), Luật Tố tụng hành chính năm 2015 (khoản 2 Điều 6) quy định: Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, hành chính, nếu phát hiện văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến việc giải quyết vụ án dân sự, vụ án hành chính có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên thì Tòa án có thẩm quyền kiến nghị sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật đó.

- Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 (khoản 2 Điều 22) quy định: Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có nhiệm vụ phát triển và công bố án lệ. Cụ thể, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao: Lựa chọn quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, có tính chuẩn mực của các Tòa án, tổng kết phát triển thành án lệ và công bố án lệ để các Tòa án nghiên cứu, áp dụng trong xét xử. Ngày 28/10/2015, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ.

Nhìn chung, sau khi Hiến pháp năm 2013 quy định quyền tư pháp của Tòa án, các văn bản pháp luật đã kịp thời thể chế hóa quy định của Hiến pháp, sửa đổi, bổ sung quy định thẩm quyền của Tòa án thực hiện quyền tư pháp. Nhiều quy định là những bước tiến đáng kể so với quy định của pháp luật trước đó, phù hợp với nguyên tắc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

3. Một số vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện về thể chế tư pháp nhằm đáp ứng yêu cầu thực hiện quyền tư pháp trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

3.1. Các Tòa án phải được tổ chức độc lập theo thẩm quyền xét xử

Một trong những yếu tố để bảo đảm cho Tòa án độc lập là các Tòa án được tổ chức theo thẩm quyền xét xử. Độc lập của Tòa án còn là nguyên tắc hoạt động của Tòa án trong bộ máy nhà nước hiện đại. Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 quy định: “Các Tòa án nhân dân được tổ chức độc lập theo thẩm quyền xét xử” (Điều 5). Hiện nay, hệ thống Tòa án nhân dân được tổ chức theo hệ thống Tòa án bốn cấp: Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân cấp cao, Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện. Theo mô hình tổ chức này, Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân cấp cao đã được tổ chức theo thẩm quyền xét xử, còn các Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện vẫn tổ chức theo đơn vị hành chính. Trong thời gian qua, các cơ quan nhà nước được giao thẩm quyền nghiên cứu xây dựng Đề án thành lập Tòa án sơ thẩm khu vực theo hướng gộp một số Tòa án cấp huyện thành một Tòa án sơ thẩm khu vực. Đề án thành lập Tòa án sơ thẩm khu vực đã có những hạn chế, bất cập nên không được các cơ quan có thẩm quyền thông qua. Một trong số những hạn chế mà trong thời gian tới phải tiếp tục nghiên cứu đó là Đề án thành lập Tòa án sơ thẩm khu vực mới chỉ giải quyết được yêu cầu độc lập đối với Tòa án cấp huyện, còn Tòa án cấp tỉnh vẫn theo đơn vị hành chính là chưa thực sự bảo đảm nguyên tắc các Tòa án nhân dân được tổ chức độc lập theo thẩm quyền xét xử.

3.2. Làm rõ nội dung Tòa án nhân dân thực hiện quyền kiểm soát hoạt động của cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp theo quy định của Hiến pháp năm 2013

Hiện nay, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 có quy định Tòa án có thẩm quyền phát hiện và kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ văn bản quy phạm pháp luật. Quy định này được coi là Tòa án nhân dân kiểm soát văn bản quy phạm pháp luật. Cụ thể, Điều 221 Bộ luật này quy định: Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, nếu phát hiện văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến việc giải quyết vụ án dân sự có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên thì Chánh án Tòa án đang giải quyết vụ án có văn bản đề nghị Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật. Cơ quan nhận được kiến nghị của Tòa án về việc sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật, đối với văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (nghị định, thông tư) thì trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được kiến nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, cơ quan đã ban hành văn bản đó phải xem xét và trả lời bằng văn bản cho Tòa án nhân dân tối cao, nếu quá thời hạn này mà không nhận được văn bản trả lời thì Tòa án áp dụng văn bản có hiệu lực cao hơn để giải quyết vụ án; đối với kiến nghị xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật là luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì thực hiện theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Theo quy định trên đây, đối với nghị định, thông tư, Tòa án nhân dân có quyền không áp dụng mà áp dụng văn bản có hiệu lực cao hơn để giải quyết vụ án. Nhưng đối với luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Tòa án chỉ có thẩm quyền kiến nghị, không có thẩm quyền không áp dụng. Vì vậy, trường hợp Tòa án đang thụ lý vụ án mà phát hiện thấy luật, pháp lệnh có nội dung trái với Hiến pháp thì phải tạm đình chỉ vụ án để chờ quyết định của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Trong trường hợp Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội không sửa đổi luật, pháp lệnh thì vụ án sẽ không giải quyết được. Hiện nay, để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ công lý, Điều 4 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng”. Như vậy, trong trường hợp khiếu kiện dân sự của người dân không có luật quy định, Tòa án nhân dân còn có thẩm quyền giải quyết thì trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án phát hiện thấy luật, pháp lệnh có dấu hiệu trái hiến pháp, Tòa án lại không có thẩm quyền không áp dụng là không phù hợp. Vì thế, cần nghiên cứu có quy định trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án phát hiện thấy luật, pháp lệnh có dấu hiệu trái Hiến pháp thì Tòa án có thể vẫn tiếp tục giải quyết giống như xét xử trường hợp không có luật quy định.

3.3. Thẩm quyền giải thích pháp luật của Tòa án

Về lý luận, Tòa án có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền cơ bản của công dân, do vậy, Tòa án căn cứ vào pháp luật để xét xử, trong trường hợp không có luật quy định, hoặc có luật nhưng quy định không rõ ràng thì Tòa án vẫn phải xét xử và căn cứ vào tập quán, áp dụng tương tự pháp luật, án lệ, lẽ phải, lẽ công bằng để xét xử. Đây là cơ sở để Tòa án ban hành án lệ và cơ sở để quy định Tòa án có thẩm quyền giải thích luật. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành của Việt Nam vẫn chưa có văn bản nào quy định cụ thể quyền giải thích pháp luật của Tòa án. Vì vậy, Chiến lược xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời gian tới cần nghiên cứu bổ sung quy định Tòa án có thẩm quyền giải thích luật.

ThS. Phạm Thu Giang
Khoa Vận tải – Kinh tế, Trường Địa học Giao thông vận tải


[1]. Tô Văn Hòa, Tính độc lập của Tòa án: Nghiên cứu pháp lý về các khía cạnh lý luận, thực tiễn ở Đức, Mỹ, Pháp, Việt Nam và các kiến nghị đối với Việt Nam.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.

Theo dõi chúng tôi trên: