Thứ hai 13/04/2026 17:30
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện quy định quyền tư pháp của Tòa án nhân dân theo Hiến pháp năm 2013

Tóm tắt: Bài viết này phân tích và làm rõ quyền tư pháp của Tòa án nhân dân, kiến nghị tiếp tục hoàn thiện về thể chế tư pháp trong Đề án xây dựng “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045”.

Tóm tắt: Bài viết này phân tích và làm rõ quyền tư pháp của Tòa án nhân dân, kiến nghị tiếp tục hoàn thiện về thể chế tư pháp trong Đề án xây dựng “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045”.

Abstract: This article analyzes and clarifies the judicial power of the People's Courts, makes recommendations for further improvement of judicial institutions in the Project “Strategy to build and complete the Socialist rule of law State of Vietnam to 2030, with orientation to 2045”.

1. Quyền tư pháp của Tòa án

1.1. Quyền tư pháp được quy định trong Hiến pháp

Trong Hiến pháp năm 1946, Chương V quy định về cơ quan tư pháp và theo quy định tại Điều 63, cơ quan tư pháp là Tòa án các cấp. Sau Hiến pháp năm 1946, các bản Hiến pháp năm 1959, 1980, 1992, 2013 đều không có chương quy định về cơ quan tư pháp mà chỉ có chương quy định về Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân. Hiến pháp năm 2013 tuy không quy định về cơ quan tư pháp nhưng đã quy định rõ hơn về cơ quan thực hiện quyền tư pháp, đó là Tòa án nhân dân: “Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp” (khoản 1 Điều 102).

Quyền tư pháp được nhiều nước trên thế giới quy định trong Hiến pháp. Hiến pháp năm 1949 (Điều 92) của Cộng hòa Liên bang Đức quy định: “Quyền tư pháp thuộc về các thẩm phán; quyền tư pháp do Tòa án Hiến pháp, các Tòa án liên bang được quy định trong Hiến pháp và các Tòa án bang thực hiện”. Tương tự như vậy, Hiến pháp năm 1978 của Tây Ban Nha (Điều 117) quy định: “Quyền tư pháp xuất phát từ nhân dân, do các thẩm phán và bồi thẩm đoàn đại diện cho quyền tư pháp thực hiện nhân danh nhà vua”; Hiến pháp Cộng hòa Hàn Quốc (Điều 101) quy định: “Quyền lực tư pháp được trao cho Tòa án bao gồm các thẩm phán”; Hiến pháp Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (Điều 3) quy định: “Quyền lực tư pháp của Hoa Kỳ sẽ được trao cho Tòa án tối cao và những Tòa án cấp dưới mà Nghị viện có thể thiết lập trong một số trường hợp”; Hiến pháp Liên bang Nga (Điều 118) cũng ghi nhận: “Quyền lực tư pháp được thực hiện thông qua tố tụng Hiến pháp, dân sự, hành chính và hình sự”; Hiến pháp Nhật bản (Điều 76) ghi nhận: “Toàn bộ quyền tư pháp được trao cho Tòa án tối cao và các Tòa án các cấp được hình thành theo quy định của pháp luật”. Các bản Hiến pháp có những diễn giải khác nhau về quyền tư pháp nhưng có một điểm chung đó là quyền tư pháp đều được trao cho Tòa án thực hiện.

Như vậy, quyền tư pháp theo cách hiểu chung nhất hiện nay là một trong những quyền lực nhà nước được giao cho Tòa án thực hiện, bao gồm quyền xét xử đối với các hành vi vi phạm pháp luật; xử lý các tranh chấp, xung đột về quyền và nghĩa vụ phát sinh từ các quan hệ xã hội; công nhận giá trị pháp lý đối với các sự kiện, hành vi làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ của cá nhân, cơ quan, tổ chức…

1.2. Đặc điểm quyền tư pháp

1.2.1. Quyền tư pháp do Tòa án thực hiện

Hệ thống Tòa án các nước đều có Tòa án tối cao và Tòa án cấp dưới, một số nước ngoài hệ thống Tòa án thường còn có các Tòa án chuyên biệt như Tòa án Hiến pháp, Tòa án hành chính, Tòa án lao động… Các Tòa án này được giao thực hiện quyền tư pháp, với sự tham gia của các thẩm phán, bồi thẩm đoàn (hội thẩm nhân dân). Ngoài Tòa án có quyền thực hiện quyền tư pháp, còn có những cơ quan khác có hoạt động tư pháp. Hoạt động tư pháp không đồng nghĩa với quyền tư pháp. Nếu như chủ thể quyền tư pháp chỉ có thể là Tòa án, cơ quan duy nhất có quyền xét xử thì hoạt động tư pháp còn hàm chứa các hoạt động khác nằm trong quỹ đạo của quyền tư pháp và để thực hiện quyền tư pháp. Những cơ quan có hoạt động tư pháp bao gồm cơ quan công tố, cơ quan điều tra và cơ quan thi hành án (bao gồm cả thi hành án hình sự và thi hành án dân sự). Cơ quan có hoạt động tư pháp có thể nằm trong hệ thống tư pháp và được coi là cơ quan tư pháp nhưng chỉ có Tòa án mới có thẩm quyền thực hiện quyền tư pháp. Chẳng hạn, ở Cộng hòa Liên bang Đức, Viện công tố nằm trong hệ thống tư pháp và được coi là cơ quan tư pháp, mặc dù chịu sự chỉ đạo của cơ quan hành pháp (Bộ Tư pháp). Ở Cộng hòa Pháp, công tố nằm trong Tòa án, nhưng về tổ chức vẫn phân định Chánh án công tố và Chánh án xét xử, thẩm phán có thẩm phán công tố và thẩm phán xét xử (thẩm phán đứng, thẩm phán ngồi). Sự “dính líu” về hành chính hoặc tư pháp không làm mất đi tính chất hoạt động tư pháp. Ở nước ta, Hiến pháp năm 1946 quy định công tố nằm trong cơ quan tư pháp (Tòa án), từ Hiến pháp năm 1959 đến nay, Viện kiểm sát nhân dân được thành lập thành một thiết chế độc lập với hệ thống Tòa án nhưng quan hệ chặt chẽ, không thể tách rời hoạt động xét xử của Tòa án.

1.2.2. Quyền tư pháp đòi hỏi tính độc lập cao

Trong Nhà nước pháp quyền, quyền lực tư pháp độc lập sẽ bảo đảm để những giá trị tiến bộ của Nhà nước pháp quyền, dân chủ được phát huy và thể hiện trong thực tiễn đời sống xã hội. Tòa án, thẩm phán không độc lập thì nguy cơ quyền lực tư pháp trở thành công cụ bảo vệ quyền lợi của những thế lực chi phối và đương nhiên nó sẵn sàng tước bỏ quyền lợi hợp pháp, quyền lợi chính đáng của tất cả những bên còn lại. Lúc đó, tính công bằng của hoạt động xét xử bị triệt tiêu[1]. Vì vậy, quyền lực tư pháp độc lập được bảo đảm càng cao thì mức độ pháp quyền sẽ có cơ hội phát triển mạnh mẽ, quyền lực tư pháp không độc lập thì chắc chắn pháp luật khó giữ được vai trò tối thượng trong đời sống xã hội. Trong trường hợp này, quyền con người, quyền tự do dân chủ của cá nhân, tổ chức khó được pháp luật bảo vệ. Do đó, độc lập của tư pháp (Tòa án) được coi là một trong những yêu cầu tiên quyết của nền pháp quyền dân chủ. Cho nên, trong luật nhân quyền quốc tế, độc lập của Tòa án là chuẩn mực tối thiểu bắt buộc các quốc gia phải có nghĩa vụ thực thi lập tức, vô điều kiện nhằm bảo vệ quyền con người trong phạm vi lãnh thổ quốc gia. Hiến pháp của các Nhà nước pháp quyền hiện đại đều quy định quyền lực tư pháp (Tòa án) độc lập với các nhóm quyền lực khác. Ở Việt Nam, ngay từ Hiến pháp năm 1946, độc lập xét xử của Tòa án đã được quy định trong Hiến pháp: “Trong khi xét xử, các viên thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật, các cơ quan khác không được can thiệp”. Nội dung này được tiếp tục kế thừa trong các bản Hiến pháp sau đó.

1.2.3. Quyền tư pháp được thực hiện thông qua tố tụng tư pháp

Cũng như tính độc lập tư pháp trong Nhà nước pháp quyền, trình tự, thủ tục tư pháp nghiêm ngặt cũng là đặc trưng cơ bản để nói về Nhà nước pháp quyền và là đặc trưng của quyền tư pháp. Khi nói đến quyền tư pháp là nói đến tố chất của một thủ tục chặt chẽ, công khai có tính dân chủ cao. Cũng chính vì điều này mà trong các tố tụng tư pháp, việc vi phạm các thủ tục tố tụng sẽ dẫn đến hậu quả bất lợi cho việc tiến hành vụ án. Trong tố tụng hình sự, đối tượng được ưu tiên bảo vệ là con người, quyền con người, quyền công dân. Do đó, lá chắn quan trọng và vững chắc nhất đối với quyền con người, quyền công dân nhằm phòng ngừa và ngăn chặn những vi phạm từ phía các cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng đó chính là các thủ tục tố tụng chặt chẽ. Nguyên tắc suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự cũng là một bảo đảm quan trọng và vững chắc đối với quyền con người, quyền công dân nhằm phòng ngừa và ngăn chặn những vi phạm từ phía các cơ quan tố tụng. Đây là nguyên tắc “kinh điển” nhất của tố tụng hình sự được ghi nhận trong nhiều văn kiện quốc tế quan trọng, như Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền năm 1948; Công ước của Liên Hợp Quốc về các quyền dân sự và chính trị năm 1966. Đặc biệt, bản Tuyên ngôn nêu trên đã coi nguyên tắc suy đoán vô tội là “phẩm giá của văn minh nhân loại”.

2. Nội dung quyền tư pháp theo Hiến pháp năm 2013

Điều 102 Hiến pháp năm 2013 quy định: “1. Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp. 2. Tòa án nhân dân gồm Tòa án nhân dân tối cao và các Tòa án khác do luật định. 3. Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”. Từ quy định này và các văn bản luật hiện hành, nội dung quyền tư pháp của Tòa án nhân dân gồm: (i) Xét xử các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính và giải quyết các việc khác theo quy định của pháp luật; công nhận giá trị pháp lý đối với các sự kiện, hành vi làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ của cá nhân, cơ quan, tổ chức...; (ii) Xử lý vi phạm hành chính; xem xét đề nghị của cơ quan quản lý nhà nước và quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính liên quan đến quyền con người, quyền cơ bản của công dân theo quy định của pháp luật; (iii) Ra quyết định thi hành án; hoãn chấp hành hình phạt tù, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù, giảm hoặc miễn chấp hành hình phạt, xóa án tích…; (iv) Tạo ra án lệ để phục vụ việc giải quyết vụ việc mà Tòa án đang giải quyết; (v) Trong quá trình xét xử vụ án, Tòa án phát hiện và kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ văn bản pháp luật trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức.

Để cụ thể hóa những quy định của Hiến pháp, các bộ luật, luật đã quy định về quyền tư pháp như sau:

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Luật Tố tụng hành chính năm 2015, Pháp lệnh Trình tự, thủ tục, xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân năm 2014 đã quy định thẩm quyền xét xử và giải quyết các tranh chấp tại Tòa án, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính. Những quy định về thẩm quyền xét xử của Tòa án đối với các vụ án hình sự, các vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính và thực hiện các quyền hạn khác theo quy định của luật tố tụng, về cơ bản được kế thừa các quy định của pháp luật tố tụng trước khi có Hiến pháp năm 2013.

Những nội dung mới được quy định trong pháp luật về tố tụng dân sự, tố tụng hành chính để thực hiện quyền tư pháp của Tòa án bao gồm:

- Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (Điều 4) quy định: Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khởi kiện vụ án dân sự, yêu cầu giải quyết việc dân sự tại Tòa án có thẩm quyền, để yêu cầu Tòa án bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác. Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng. Trong trường hợp này, Tòa án áp dụng tập quán để giải quyết vụ việc dân sự; áp dụng tương tự pháp luật để giải quyết vụ việc dân sự hoặc áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ, lẽ công bằng để giải quyết vụ việc dân sự khi không thể áp dụng tập quán, tương tự pháp luật.

- Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (Điều 221), Luật Tố tụng hành chính năm 2015 (khoản 2 Điều 6) quy định: Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, hành chính, nếu phát hiện văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến việc giải quyết vụ án dân sự, vụ án hành chính có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên thì Tòa án có thẩm quyền kiến nghị sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật đó.

- Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 (khoản 2 Điều 22) quy định: Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có nhiệm vụ phát triển và công bố án lệ. Cụ thể, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao: Lựa chọn quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, có tính chuẩn mực của các Tòa án, tổng kết phát triển thành án lệ và công bố án lệ để các Tòa án nghiên cứu, áp dụng trong xét xử. Ngày 28/10/2015, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ.

Nhìn chung, sau khi Hiến pháp năm 2013 quy định quyền tư pháp của Tòa án, các văn bản pháp luật đã kịp thời thể chế hóa quy định của Hiến pháp, sửa đổi, bổ sung quy định thẩm quyền của Tòa án thực hiện quyền tư pháp. Nhiều quy định là những bước tiến đáng kể so với quy định của pháp luật trước đó, phù hợp với nguyên tắc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

3. Một số vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện về thể chế tư pháp nhằm đáp ứng yêu cầu thực hiện quyền tư pháp trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

3.1. Các Tòa án phải được tổ chức độc lập theo thẩm quyền xét xử

Một trong những yếu tố để bảo đảm cho Tòa án độc lập là các Tòa án được tổ chức theo thẩm quyền xét xử. Độc lập của Tòa án còn là nguyên tắc hoạt động của Tòa án trong bộ máy nhà nước hiện đại. Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 quy định: “Các Tòa án nhân dân được tổ chức độc lập theo thẩm quyền xét xử” (Điều 5). Hiện nay, hệ thống Tòa án nhân dân được tổ chức theo hệ thống Tòa án bốn cấp: Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân cấp cao, Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện. Theo mô hình tổ chức này, Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân cấp cao đã được tổ chức theo thẩm quyền xét xử, còn các Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện vẫn tổ chức theo đơn vị hành chính. Trong thời gian qua, các cơ quan nhà nước được giao thẩm quyền nghiên cứu xây dựng Đề án thành lập Tòa án sơ thẩm khu vực theo hướng gộp một số Tòa án cấp huyện thành một Tòa án sơ thẩm khu vực. Đề án thành lập Tòa án sơ thẩm khu vực đã có những hạn chế, bất cập nên không được các cơ quan có thẩm quyền thông qua. Một trong số những hạn chế mà trong thời gian tới phải tiếp tục nghiên cứu đó là Đề án thành lập Tòa án sơ thẩm khu vực mới chỉ giải quyết được yêu cầu độc lập đối với Tòa án cấp huyện, còn Tòa án cấp tỉnh vẫn theo đơn vị hành chính là chưa thực sự bảo đảm nguyên tắc các Tòa án nhân dân được tổ chức độc lập theo thẩm quyền xét xử.

3.2. Làm rõ nội dung Tòa án nhân dân thực hiện quyền kiểm soát hoạt động của cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp theo quy định của Hiến pháp năm 2013

Hiện nay, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 có quy định Tòa án có thẩm quyền phát hiện và kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ văn bản quy phạm pháp luật. Quy định này được coi là Tòa án nhân dân kiểm soát văn bản quy phạm pháp luật. Cụ thể, Điều 221 Bộ luật này quy định: Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, nếu phát hiện văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến việc giải quyết vụ án dân sự có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên thì Chánh án Tòa án đang giải quyết vụ án có văn bản đề nghị Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật. Cơ quan nhận được kiến nghị của Tòa án về việc sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật, đối với văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (nghị định, thông tư) thì trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được kiến nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, cơ quan đã ban hành văn bản đó phải xem xét và trả lời bằng văn bản cho Tòa án nhân dân tối cao, nếu quá thời hạn này mà không nhận được văn bản trả lời thì Tòa án áp dụng văn bản có hiệu lực cao hơn để giải quyết vụ án; đối với kiến nghị xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật là luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì thực hiện theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Theo quy định trên đây, đối với nghị định, thông tư, Tòa án nhân dân có quyền không áp dụng mà áp dụng văn bản có hiệu lực cao hơn để giải quyết vụ án. Nhưng đối với luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Tòa án chỉ có thẩm quyền kiến nghị, không có thẩm quyền không áp dụng. Vì vậy, trường hợp Tòa án đang thụ lý vụ án mà phát hiện thấy luật, pháp lệnh có nội dung trái với Hiến pháp thì phải tạm đình chỉ vụ án để chờ quyết định của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Trong trường hợp Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội không sửa đổi luật, pháp lệnh thì vụ án sẽ không giải quyết được. Hiện nay, để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ công lý, Điều 4 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng”. Như vậy, trong trường hợp khiếu kiện dân sự của người dân không có luật quy định, Tòa án nhân dân còn có thẩm quyền giải quyết thì trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án phát hiện thấy luật, pháp lệnh có dấu hiệu trái hiến pháp, Tòa án lại không có thẩm quyền không áp dụng là không phù hợp. Vì thế, cần nghiên cứu có quy định trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án phát hiện thấy luật, pháp lệnh có dấu hiệu trái Hiến pháp thì Tòa án có thể vẫn tiếp tục giải quyết giống như xét xử trường hợp không có luật quy định.

3.3. Thẩm quyền giải thích pháp luật của Tòa án

Về lý luận, Tòa án có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền cơ bản của công dân, do vậy, Tòa án căn cứ vào pháp luật để xét xử, trong trường hợp không có luật quy định, hoặc có luật nhưng quy định không rõ ràng thì Tòa án vẫn phải xét xử và căn cứ vào tập quán, áp dụng tương tự pháp luật, án lệ, lẽ phải, lẽ công bằng để xét xử. Đây là cơ sở để Tòa án ban hành án lệ và cơ sở để quy định Tòa án có thẩm quyền giải thích luật. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành của Việt Nam vẫn chưa có văn bản nào quy định cụ thể quyền giải thích pháp luật của Tòa án. Vì vậy, Chiến lược xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời gian tới cần nghiên cứu bổ sung quy định Tòa án có thẩm quyền giải thích luật.

ThS. Phạm Thu Giang
Khoa Vận tải – Kinh tế, Trường Địa học Giao thông vận tải


[1]. Tô Văn Hòa, Tính độc lập của Tòa án: Nghiên cứu pháp lý về các khía cạnh lý luận, thực tiễn ở Đức, Mỹ, Pháp, Việt Nam và các kiến nghị đối với Việt Nam.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.
Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Bài viết phân tích các vấn đề cốt lõi về hợp đồng tiếp thị liên kết, đánh giá thực tiễn áp dụng và chỉ ra những bất cập trong quy định pháp luật, đặc biệt liên quan đến khái niệm pháp lý, cơ chế giao kết và hiệu lực phụ lục hợp đồng. Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng tiếp thị liên kết, nhằm bảo đảm tính minh bạch, công bằng trong quan hệ hợp đồng và góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của hoạt động tiếp thị liên kết trong môi trường thương mại điện tử tại Việt Nam.
Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự gia tăng của quan hệ hôn nhân xuyên biên giới, vấn đề giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn ngày càng trở nên cấp thiết. Bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá quy định hiện hành về xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch (lex patriae). Qua đó, nhận diện một số bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thực thi nguyên tắc này tại Việt Nam hiện nay.
Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Tóm tắt: Ở Việt Nam, chế định Hội thẩm nhân dân là phương thức thể chế hóa quyền làm chủ của Nhân dân trong hoạt động xét xử. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy, chế định này tồn tại một số hạn chế, dẫn đến sự tham gia của Nhân dân trong nhiều trường hợp còn hình thức. Bài viết phân tích vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử, nhận diện những hạn chế trong quy định pháp luật hiện hành về cơ chế lựa chọn, phân công, tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm pháp lý; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của Hội thẩm nhân dân, đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách tư pháp trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Theo dõi chúng tôi trên: