Thứ tư 20/05/2026 10:42
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện quy định về áp dụng các biện pháp cưỡng chế trong điều tra hình sự

Hoàn thiện quy định về áp dụng các biện pháp cưỡng chế trong điều tra hình sự

Tóm tắt: Bài viết tập trung phân tích, làm rõ những khó khăn, vướng mắc trong quy định pháp luật về các biện pháp cưỡng chế trong điều tra hình sự, từ đó, đưa ra những kiến nghị hoàn thiện.

Abstract: The article focuses on analyzing and clarifying the difficulties and obstacles in the legal regulations on coercive measures in criminal investigation, thereby, making recommendations for improvement.

1. Khái quát về các biện pháp cưỡng chế trong điều tra hình sự

Trong quá trình điều tra hình sự, các biện pháp cưỡng chế có vị trí, vai trò hết sức quan trọng đối với các cơ quan có thẩm quyền điều tra. Việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế của cơ quan có thẩm quyền điều tra không chỉ hỗ trợ cho các hoạt động điều tra được thực hiện thuận lợi mà còn góp phần quan trọng đối với việc giải quyết yêu cầu, nhiệm vụ thu hồi tài sản trong giai đoạn điều tra hình sự. Điều 126 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021 (Bộ luật Tố tụng hình sự) quy định: Để bảo đảm hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, trong phạm vi thẩm quyền của mình, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có thể áp dụng biện pháp áp giải, dẫn giải, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản. Theo đó, trong giai đoạn điều tra hình sự, các cơ quan có thẩm quyền điều tra có thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế gồm áp giải, dẫn giải, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản. Khi áp dụng các biện pháp cưỡng chế này, các cơ quan có thẩm quyền điều tra phải tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về chủ thể áp dụng, đối tượng áp dụng, căn cứ, trình tự, thủ tục tiến hành. Cụ thể:

- Đối với biện pháp áp giải, dẫn giải: Theo quy định tại khoản 3 Điều 127 Bộ luật Tố tụng hình sự, chủ thể áp dụng biện pháp áp giải, dẫn giải trong điều tra hình sự bao gồm điều tra viên, cấp trưởng của cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, kiểm sát viên. Đối tượng bị áp dụng biện pháp áp giải trong giai đoạn điều tra hình sự bao gồm người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội. Đối tượng bị áp dụng biện pháp dẫn giải là người làm chứng, người bị hại, người bị tố giác về tội phạm thuộc các trường hợp được quy định tại khoản 2 Điều 127 Bộ luật Tố tụng hình sự. Về trình tự, thủ tục thực hiện biện pháp áp giải, dẫn giải, cơ quan, người có thẩm quyền điều tra tuân thủ theo quy định tại các khoản 4, 5, 6 Điều 127 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 466 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định về xử lý người có hành vi cản trở hoạt động tố tụng của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

- Đối với biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản: Theo quy định tại khoản 2 Điều 128, khoản 2 Điều 129 và khoản 1 Điều 113 Bộ luật Tố tụng hình sự, chủ thể có thẩm quyền áp dụng các biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản trong giai đoạn điều tra hình sự gồm Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp. Đối tượng bị áp dụng kê biên tài sản trong giai đoạn điều tra hình sự là bị can thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 128 Bộ luật Tố tụng hình sự. Theo khoản 1 Điều 129 Bộ luật Tố tụng hình sự, đối tượng bị áp dụng biện pháp phong tỏa tài khoản là “người bị buộc tội về tội mà Bộ luật Hình sự quy định hình phạt tiền, bị tịch thu tài sản hoặc để bảo đảm bồi thường thiệt hại khi có căn cứ xác định người đó có tài khoản tại tổ chức tín dụng hoặc Kho bạc Nhà nước” hoặc “đối với tài khoản của người khác nếu có căn cứ cho rằng số tiền trong tài khoản đó liên quan đến hành vi phạm tội của người bị buộc tội”. Trình tự, thủ tục kê biên tài sản được quy định tại khoản 3, khoản 4 Điều 128 Bộ luật Tố tụng hình sự; trình tự, thủ tục phong tỏa tài khoản được quy định tại khoản 3, khoản 4 Điều 129 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 130 Bộ luật Tố tụng hình sự cũng quy định về trường hợp, trình tự, thủ tục thực hiện hủy bỏ các biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản.

Ngoài ra, Bộ luật Tố tụng hình sự đã có quy định về trình tự, thủ tục áp dụng các biện pháp cưỡng chế đối với người dưới 18 tuổi tại Điều 419; đối với pháp nhân tại Điều 436, Điều 437, Điều 438 và trình tự, thủ tục hợp tác quốc tế trong thực hiện các biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản tại Điều 507.

Nhìn chung, Bộ luật Tố tụng hình sự đã quy định cụ thể về căn cứ, trường hợp, trình tự, thủ tục thực hiện các biện pháp cưỡng chế. Đây chính là cơ sở pháp lý quan trọng để các cơ quan có thẩm quyền điều tra áp dụng vào quá trình giải quyết nguồn tin về tội phạm cũng như quá trình điều tra vụ án hình sự. Thực tiễn cho thấy, trong thời gian qua, các cơ quan có thẩm quyền điều tra đã tích cực áp dụng các biện pháp cưỡng chế. Kết quả thực hiện các biện pháp cưỡng chế trong quá trình điều tra hình sự đã giúp các cơ quan có thẩm quyền điều tra nhanh chóng tổ chức thực hiện được các hoạt động thu thập chứng cứ như hỏi cung bị can, lấy lời khai người làm chứng…; đồng thời, kịp thời tịch thu được tài sản của đối tượng do phạm tội mà có, thu hồi tài sản bảo đảm bồi thường thiệt hại, qua đó giải quyết được các yêu cầu điều tra đặt ra.

2. Một số khó khăn, vướng mắc khi áp dụng các biện pháp cưỡng chế trong điều tra hình sự

Bên cạnh những quy định cụ thể về căn cứ, trình tự, thủ tục thực hiện các biện pháp cưỡng chế, pháp luật tố tụng hình sự còn có những bất cập dẫn đến khó khăn, vướng mắc cho các cơ quan có thẩm quyền điều tra khi áp dụng các biện pháp cưỡng chế trong quá trình điều tra hình sự. Cụ thể:

Thứ nhất, quy định pháp luật về các trường hợp áp dụng biện pháp áp giải còn chưa cụ thể.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 127 Bộ luật Tố tụng hình sự, các cơ quan có thẩm quyền điều tra có thể áp dụng biện pháp áp giải đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can. Tuy nhiên, Bộ luật Tố tụng hình sự chỉ có quy định về trường hợp áp dụng biện pháp áp giải đối với bị can theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 60 và khoản 3 Điều 182. Theo đó, đối với trường hợp vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan hoặc có biểu hiện trốn tránh thì bị can có thể bị áp giải. Đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, Bộ luật Tố tụng hình sự chưa có quy định về trường hợp áp dụng biện pháp áp giải. Thực tiễn cho thấy, quá trình điều tra hình sự, các cơ quan có thẩm quyền điều tra thường áp dụng biện pháp áp giải đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ và với bị can đang bị tạm giam khi trích xuất phục vụ cho các hoạt động điều tra, giám định pháp y tâm thần.

Ngoài ra, khoản 1 Điều 419 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định: “Chỉ áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp áp giải đối với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi trong trường hợp thật cần thiết”. Tuy nhiên, “trường hợp thật cần thiết” là những trường hợp nào thì Bộ luật Tố tụng hình sự chưa quy định rõ cũng như chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể. Điều này đã gây ra những khó khăn nhất định đối với các cơ quan có thẩm quyền điều tra trong xác định các trường hợp áp dụng biện pháp áp giải đối với những người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi.

Thứ hai, phạm vi đối tượng áp dụng biện pháp dẫn giải còn hẹp, trường hợp áp dụng biện pháp dẫn giải khó xác định trong quá trình điều tra hình sự.

Hiện nay, đối tượng có thể bị áp dụng biện pháp dẫn giải bao gồm người làm chứng, người bị hại, người bị tố giác và người bị kiến nghị khởi tố thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 127 Bộ luật Tố tụng hình sự và đối với người đại diện theo pháp luật của pháp nhân theo quy định tại khoản 3 Điều 440 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, trong quá trình điều tra vụ án hình sự, ngoài những người tham gia tố tụng nói trên, các cơ quan có thẩm quyền điều tra thường triệu tập, lấy lời khai đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, song nhiều trường hợp những người này không đến làm việc theo giấy triệu tập, đồng thời không đưa ra lý do về việc vắng mặt. Trong các trường hợp này, các cơ quan có thẩm quyền điều tra không thể áp dụng biện pháp dẫn giải nhằm cưỡng chế, buộc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt để lấy lời khai.

Bên cạnh đó, điểm c khoản 2 Điều 127 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định: “Người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố mà qua kiểm tra, xác minh có đủ căn cứ xác định người đó liên quan đến hành vi phạm tội được khởi tố vụ án, đã được triệu tập mà vẫn vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan”. Theo đó, các cơ quan có thẩm quyền điều tra không thể áp dụng biện pháp dẫn giải đối với người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố trong mọi trường hợp họ vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan. Để áp dụng được biện pháp dẫn giải đối với những người này, ngoài việc thu thập căn cứ xác định vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan, các cơ quan có thẩm quyền điều tra còn phải thu thập căn cứ xác định họ liên quan đến hành vi phạm tội được khởi tố vụ án. Tuy nhiên, việc xác định này thường chỉ thực hiện được khi kết thúc quá trình kiểm tra, xác minh tố giác về tội phạm, kiến nghị khởi tố.

Thứ ba, đối tượng áp dụng biện pháp kê biên tài sản còn hẹp, phạm vi kê biên tài sản còn chưa cụ thể.

Khoản 1 Điều 128 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định: “Kê biên tài sản chỉ áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội mà Bộ luật Hình sự quy định hình phạt tiền hoặc có thể bị tịch thu tài sản hoặc để bảo đảm bồi thường thiệt hại”. Theo đó, cơ quan điều tra chỉ áp dụng biện pháp kê biên tài sản đối với bị can; còn đối với những người tham gia tố tụng khác, cơ quan điều tra không được áp dụng. Với quy định này, việc áp dụng biện pháp kê biên tài sản chưa phát huy được hiệu quả cao nhất trong việc thu hồi tài sản của đối tượng phạm tội. Các đối tượng phạm tội có thể lợi dụng việc chưa bị khởi tố bị can để chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản cho người khác khi bị tố giác, kiến nghị khởi tố nhằm che giấu tài sản do phạm tội mà có. Đặc biệt là khi Bộ luật Tố tụng hình sự không có quy định về việc áp dụng biện pháp kê biên tài sản với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án cũng như chưa có biện pháp tạm ngưng giao dịch tài sản đối với những người chưa bị khởi tố bị can.

Ngoài ra, theo quy định tại khoản 3 Điều 128 Bộ luật Tố tụng hình sự, các cơ quan có thẩm quyền điều tra chỉ kê biên phần tài sản tương ứng với mức có thể bị phạt tiền, bị tịch thu hoặc phải bồi thường thiệt hại. Việc xác định mức có thể bị phạt tiền, bị tịch thu hoặc phải bồi thường thiệt hại của bị can là việc làm rất khó khăn đối với các cơ quan có thẩm quyền điều tra. Bởi lẽ, các cơ quan có thẩm quyền điều tra có đủ căn cứ xác định chính xác mức bồi thường thiệt hại, mức tài sản cần tịch thu thường vào giai đoạn kết thúc điều tra. Mặt khác, các cơ quan có thẩm quyền điều tra cũng khó xác định được phần tài sản kê biên tương ứng có thể bị phạt tiền, bị tịch thu hoặc phải bồi thường thiệt hại, nhất là trong trường hợp bị can chỉ có một tài sản, tài sản đó có giá trị lớn hơn so với mức giá trị cần kê biên; hoặc tài sản cần kê biên có thêm người khác cùng có quyền sở hữu, quyền sử dụng.

Thứ tư, phạm vi đối tượng áp dụng biện pháp phong tỏa tài khoản còn hẹp.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 129 Bộ luật Tố tụng hình sự, cơ quan điều tra chỉ áp dụng biện pháp phong tỏa tài khoản đối với người bị buộc tội hoặc người khác nếu thuộc các trường hợp luật định. Theo đó, cơ quan điều tra không thể áp dụng biện pháp phong tỏa tài khoản đối với người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố. Điều này dẫn đến việc các đối tượng phạm tội lợi dụng để tấu tán tài sản trong tài khoản ngay từ giai đoạn bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố, từ đó làm giảm hiệu quả thu hồi tài sản do phạm tội mà có, hoặc để bảo đảm quá trình thi hành án của các đối tượng này sau khi bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử.

3. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về các biện pháp cưỡng chế trong điều tra hình sự

Một là, nghiên cứu sửa đổi khoản 1 Điều 127 Bộ luật Tố tụng hình sự theo hướng bổ sung quy định về trường hợp áp dụng biện pháp áp giải. Các cơ quan có thẩm quyền nghiên cứu, bổ sung quy định trường hợp áp dụng biện pháp áp giải đối với từng đối tượng cụ thể. Theo đó, đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can bị tạm giam có thể bị áp dụng biện pháp áp giải trong trường hợp phục vụ cho việc các hoạt động điều tra, khám bệnh, chữa bệnh, thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự… Với trường hợp bị can không bị tạm giam, đã triệu tập nhưng vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan thì có thể bị áp giải. Việc sửa đổi khoản 1 Điều 127 Bộ luật Tố tụng hình sự theo hướng trên sẽ bảo đảm sự phù hợp với quy định tại Điều 60, Điều 182 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 20 Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015.

Hai là, nghiên cứu sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 127 Bộ luật Tố tụng hình sự theo hướng bổ sung diện đối tượng áp dụng biện pháp dẫn giải bao gồm người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đã được triệu tập mà vẫn vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan. Đồng thời, sửa đổi điểm c khoản 2 Điều 127 Bộ luật Tố tụng hình sự theo hướng bỏ cụm từ “mà qua kiểm tra, xác minh có đủ căn cứ xác định người đó liên quan đến hành vi phạm tội được khởi tố vụ án” để tạo thuận lợi cho các cơ quan có thẩm quyền điều tra buộc người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố phải có mặt theo giấy triệu tập, trong trường hợp không có mặt theo giấy triệu tập mà không có lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan thì bị dẫn giải; bảo đảm sự phù hợp với quy định tại Điều 466 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định về xử lý người có hành vi cản trở hoạt động tố tụng của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Ba là, sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 128 Bộ luật Tố tụng hình sự theo hướng bổ sung diện đối tượng áp dụng biện pháp kê biên tài sản bao gồm người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án khi có căn cứ xác định tài sản của người này đứng tên quản lý, sử dụng có liên quan đến hoạt động phạm tội của người bị buộc tội. Việc sửa đổi, bổ sung diện đối tượng áp dụng biện pháp kê biên tài sản theo hướng này sẽ đáp ứng được thực tiễn công tác điều tra, góp phần khắc phục việc các đối tượng tẩu tán tài sản do phạm tội mà có sau khi bị phát hiện, khởi tố, điều tra, qua đó nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản trong điều tra vụ án hình sự.

Bốn là, xây dựng, ban hành văn bản hướng dẫn thi hành thực hiện các biện pháp cưỡng chế trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong thời gian tới, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân cần nghiên cứu tổng kết thực trạng việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó các cơ quan phối hợp nghiên cứu, xây dựng thông tư hướng dẫn áp dụng các biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự. Nội dung thông tư xây dựng không chỉ quy định về trình tự, thủ tục thực hiện từng biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự cụ thể mà còn giải thích các thuật ngữ được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự về các biện pháp cưỡng chế. Cụ thể:

- Xác định rõ trường hợp “vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan” trong quy định về việc triệu tập bị can, triệu tập người làm chứng, bị hại... Để xác định được các trường hợp này, các cơ quan có thẩm quyền có thể nghiên cứu, kế thừa quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 và thực tiễn điều tra hình sự nói riêng, thực tiễn thực hiện các hoạt động tố tụng hình sự nói chung. Theo đó, các trường hợp xác định có lý do bất khả kháng có thể do thiên tai, hỏa hoạn, địch họa, dịch bệnh; các trường hợp do trở ngại khách quan có thể là trường hợp người bị triệu tập không nhận được giấy triệu tập mà không phải do lỗi của họ, hoặc người bị triệu tập đang đi công tác ở vùng biên giới, hải đảo mà không thể có mặt theo thời gian triệu tập, hoặc người bị triệu tập bị tai nạn, ốm đau đến mức mất khả năng nhận thức...

- Xác định cụ thể mức tương ứng trong quy định “chỉ kê biên phần tài sản tương ứng với mức có thể bị phạt tiền, bị tịch thu hoặc phải bồi thường thiệt hại” tại khoản 3 Điều 128 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Xác định rõ các “trường hợp thật cần thiết” quy định tại khoản 1 Điều 419 Bộ luật Tố tụng hình sự về áp dụng biện pháp cưỡng chế với người bị buộc tội dưới 18 tuổi.

Ngoài ra, để bảo đảm cho quá trình thi hành án, các cơ quan có thẩm quyền nghiên cứu tính toán bổ sung trường hợp các biện pháp: Tạm ngưng giao dịch tài sản đối với những người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố trước khi áp dụng biện pháp kê biên tài sản; tạm ngưng giao dịch tài khoản của người bị tố giác, kiến nghị khởi tố hoặc người có liên quan đúng bằng giá trị tài sản bị tố giác chiếm đoạt hoặc có liên quan trước khi áp dụng biện pháp phong tỏa tài khoản.

TS. Sái Ngọc Hưng

Học viện An ninh nhân dân

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 380), tháng 5/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: