Thứ ba 03/03/2026 13:28
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện quy định về áp dụng các biện pháp cưỡng chế trong điều tra hình sự

Hoàn thiện quy định về áp dụng các biện pháp cưỡng chế trong điều tra hình sự

Tóm tắt: Bài viết tập trung phân tích, làm rõ những khó khăn, vướng mắc trong quy định pháp luật về các biện pháp cưỡng chế trong điều tra hình sự, từ đó, đưa ra những kiến nghị hoàn thiện.

Abstract: The article focuses on analyzing and clarifying the difficulties and obstacles in the legal regulations on coercive measures in criminal investigation, thereby, making recommendations for improvement.

1. Khái quát về các biện pháp cưỡng chế trong điều tra hình sự

Trong quá trình điều tra hình sự, các biện pháp cưỡng chế có vị trí, vai trò hết sức quan trọng đối với các cơ quan có thẩm quyền điều tra. Việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế của cơ quan có thẩm quyền điều tra không chỉ hỗ trợ cho các hoạt động điều tra được thực hiện thuận lợi mà còn góp phần quan trọng đối với việc giải quyết yêu cầu, nhiệm vụ thu hồi tài sản trong giai đoạn điều tra hình sự. Điều 126 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021 (Bộ luật Tố tụng hình sự) quy định: Để bảo đảm hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, trong phạm vi thẩm quyền của mình, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có thể áp dụng biện pháp áp giải, dẫn giải, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản. Theo đó, trong giai đoạn điều tra hình sự, các cơ quan có thẩm quyền điều tra có thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế gồm áp giải, dẫn giải, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản. Khi áp dụng các biện pháp cưỡng chế này, các cơ quan có thẩm quyền điều tra phải tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về chủ thể áp dụng, đối tượng áp dụng, căn cứ, trình tự, thủ tục tiến hành. Cụ thể:

- Đối với biện pháp áp giải, dẫn giải: Theo quy định tại khoản 3 Điều 127 Bộ luật Tố tụng hình sự, chủ thể áp dụng biện pháp áp giải, dẫn giải trong điều tra hình sự bao gồm điều tra viên, cấp trưởng của cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, kiểm sát viên. Đối tượng bị áp dụng biện pháp áp giải trong giai đoạn điều tra hình sự bao gồm người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội. Đối tượng bị áp dụng biện pháp dẫn giải là người làm chứng, người bị hại, người bị tố giác về tội phạm thuộc các trường hợp được quy định tại khoản 2 Điều 127 Bộ luật Tố tụng hình sự. Về trình tự, thủ tục thực hiện biện pháp áp giải, dẫn giải, cơ quan, người có thẩm quyền điều tra tuân thủ theo quy định tại các khoản 4, 5, 6 Điều 127 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 466 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định về xử lý người có hành vi cản trở hoạt động tố tụng của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

- Đối với biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản: Theo quy định tại khoản 2 Điều 128, khoản 2 Điều 129 và khoản 1 Điều 113 Bộ luật Tố tụng hình sự, chủ thể có thẩm quyền áp dụng các biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản trong giai đoạn điều tra hình sự gồm Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp. Đối tượng bị áp dụng kê biên tài sản trong giai đoạn điều tra hình sự là bị can thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 128 Bộ luật Tố tụng hình sự. Theo khoản 1 Điều 129 Bộ luật Tố tụng hình sự, đối tượng bị áp dụng biện pháp phong tỏa tài khoản là “người bị buộc tội về tội mà Bộ luật Hình sự quy định hình phạt tiền, bị tịch thu tài sản hoặc để bảo đảm bồi thường thiệt hại khi có căn cứ xác định người đó có tài khoản tại tổ chức tín dụng hoặc Kho bạc Nhà nước” hoặc “đối với tài khoản của người khác nếu có căn cứ cho rằng số tiền trong tài khoản đó liên quan đến hành vi phạm tội của người bị buộc tội”. Trình tự, thủ tục kê biên tài sản được quy định tại khoản 3, khoản 4 Điều 128 Bộ luật Tố tụng hình sự; trình tự, thủ tục phong tỏa tài khoản được quy định tại khoản 3, khoản 4 Điều 129 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 130 Bộ luật Tố tụng hình sự cũng quy định về trường hợp, trình tự, thủ tục thực hiện hủy bỏ các biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản.

Ngoài ra, Bộ luật Tố tụng hình sự đã có quy định về trình tự, thủ tục áp dụng các biện pháp cưỡng chế đối với người dưới 18 tuổi tại Điều 419; đối với pháp nhân tại Điều 436, Điều 437, Điều 438 và trình tự, thủ tục hợp tác quốc tế trong thực hiện các biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản tại Điều 507.

Nhìn chung, Bộ luật Tố tụng hình sự đã quy định cụ thể về căn cứ, trường hợp, trình tự, thủ tục thực hiện các biện pháp cưỡng chế. Đây chính là cơ sở pháp lý quan trọng để các cơ quan có thẩm quyền điều tra áp dụng vào quá trình giải quyết nguồn tin về tội phạm cũng như quá trình điều tra vụ án hình sự. Thực tiễn cho thấy, trong thời gian qua, các cơ quan có thẩm quyền điều tra đã tích cực áp dụng các biện pháp cưỡng chế. Kết quả thực hiện các biện pháp cưỡng chế trong quá trình điều tra hình sự đã giúp các cơ quan có thẩm quyền điều tra nhanh chóng tổ chức thực hiện được các hoạt động thu thập chứng cứ như hỏi cung bị can, lấy lời khai người làm chứng…; đồng thời, kịp thời tịch thu được tài sản của đối tượng do phạm tội mà có, thu hồi tài sản bảo đảm bồi thường thiệt hại, qua đó giải quyết được các yêu cầu điều tra đặt ra.

2. Một số khó khăn, vướng mắc khi áp dụng các biện pháp cưỡng chế trong điều tra hình sự

Bên cạnh những quy định cụ thể về căn cứ, trình tự, thủ tục thực hiện các biện pháp cưỡng chế, pháp luật tố tụng hình sự còn có những bất cập dẫn đến khó khăn, vướng mắc cho các cơ quan có thẩm quyền điều tra khi áp dụng các biện pháp cưỡng chế trong quá trình điều tra hình sự. Cụ thể:

Thứ nhất, quy định pháp luật về các trường hợp áp dụng biện pháp áp giải còn chưa cụ thể.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 127 Bộ luật Tố tụng hình sự, các cơ quan có thẩm quyền điều tra có thể áp dụng biện pháp áp giải đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can. Tuy nhiên, Bộ luật Tố tụng hình sự chỉ có quy định về trường hợp áp dụng biện pháp áp giải đối với bị can theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 60 và khoản 3 Điều 182. Theo đó, đối với trường hợp vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan hoặc có biểu hiện trốn tránh thì bị can có thể bị áp giải. Đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, Bộ luật Tố tụng hình sự chưa có quy định về trường hợp áp dụng biện pháp áp giải. Thực tiễn cho thấy, quá trình điều tra hình sự, các cơ quan có thẩm quyền điều tra thường áp dụng biện pháp áp giải đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ và với bị can đang bị tạm giam khi trích xuất phục vụ cho các hoạt động điều tra, giám định pháp y tâm thần.

Ngoài ra, khoản 1 Điều 419 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định: “Chỉ áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp áp giải đối với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi trong trường hợp thật cần thiết”. Tuy nhiên, “trường hợp thật cần thiết” là những trường hợp nào thì Bộ luật Tố tụng hình sự chưa quy định rõ cũng như chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể. Điều này đã gây ra những khó khăn nhất định đối với các cơ quan có thẩm quyền điều tra trong xác định các trường hợp áp dụng biện pháp áp giải đối với những người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi.

Thứ hai, phạm vi đối tượng áp dụng biện pháp dẫn giải còn hẹp, trường hợp áp dụng biện pháp dẫn giải khó xác định trong quá trình điều tra hình sự.

Hiện nay, đối tượng có thể bị áp dụng biện pháp dẫn giải bao gồm người làm chứng, người bị hại, người bị tố giác và người bị kiến nghị khởi tố thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 127 Bộ luật Tố tụng hình sự và đối với người đại diện theo pháp luật của pháp nhân theo quy định tại khoản 3 Điều 440 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, trong quá trình điều tra vụ án hình sự, ngoài những người tham gia tố tụng nói trên, các cơ quan có thẩm quyền điều tra thường triệu tập, lấy lời khai đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, song nhiều trường hợp những người này không đến làm việc theo giấy triệu tập, đồng thời không đưa ra lý do về việc vắng mặt. Trong các trường hợp này, các cơ quan có thẩm quyền điều tra không thể áp dụng biện pháp dẫn giải nhằm cưỡng chế, buộc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt để lấy lời khai.

Bên cạnh đó, điểm c khoản 2 Điều 127 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định: “Người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố mà qua kiểm tra, xác minh có đủ căn cứ xác định người đó liên quan đến hành vi phạm tội được khởi tố vụ án, đã được triệu tập mà vẫn vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan”. Theo đó, các cơ quan có thẩm quyền điều tra không thể áp dụng biện pháp dẫn giải đối với người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố trong mọi trường hợp họ vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan. Để áp dụng được biện pháp dẫn giải đối với những người này, ngoài việc thu thập căn cứ xác định vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan, các cơ quan có thẩm quyền điều tra còn phải thu thập căn cứ xác định họ liên quan đến hành vi phạm tội được khởi tố vụ án. Tuy nhiên, việc xác định này thường chỉ thực hiện được khi kết thúc quá trình kiểm tra, xác minh tố giác về tội phạm, kiến nghị khởi tố.

Thứ ba, đối tượng áp dụng biện pháp kê biên tài sản còn hẹp, phạm vi kê biên tài sản còn chưa cụ thể.

Khoản 1 Điều 128 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định: “Kê biên tài sản chỉ áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội mà Bộ luật Hình sự quy định hình phạt tiền hoặc có thể bị tịch thu tài sản hoặc để bảo đảm bồi thường thiệt hại”. Theo đó, cơ quan điều tra chỉ áp dụng biện pháp kê biên tài sản đối với bị can; còn đối với những người tham gia tố tụng khác, cơ quan điều tra không được áp dụng. Với quy định này, việc áp dụng biện pháp kê biên tài sản chưa phát huy được hiệu quả cao nhất trong việc thu hồi tài sản của đối tượng phạm tội. Các đối tượng phạm tội có thể lợi dụng việc chưa bị khởi tố bị can để chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản cho người khác khi bị tố giác, kiến nghị khởi tố nhằm che giấu tài sản do phạm tội mà có. Đặc biệt là khi Bộ luật Tố tụng hình sự không có quy định về việc áp dụng biện pháp kê biên tài sản với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án cũng như chưa có biện pháp tạm ngưng giao dịch tài sản đối với những người chưa bị khởi tố bị can.

Ngoài ra, theo quy định tại khoản 3 Điều 128 Bộ luật Tố tụng hình sự, các cơ quan có thẩm quyền điều tra chỉ kê biên phần tài sản tương ứng với mức có thể bị phạt tiền, bị tịch thu hoặc phải bồi thường thiệt hại. Việc xác định mức có thể bị phạt tiền, bị tịch thu hoặc phải bồi thường thiệt hại của bị can là việc làm rất khó khăn đối với các cơ quan có thẩm quyền điều tra. Bởi lẽ, các cơ quan có thẩm quyền điều tra có đủ căn cứ xác định chính xác mức bồi thường thiệt hại, mức tài sản cần tịch thu thường vào giai đoạn kết thúc điều tra. Mặt khác, các cơ quan có thẩm quyền điều tra cũng khó xác định được phần tài sản kê biên tương ứng có thể bị phạt tiền, bị tịch thu hoặc phải bồi thường thiệt hại, nhất là trong trường hợp bị can chỉ có một tài sản, tài sản đó có giá trị lớn hơn so với mức giá trị cần kê biên; hoặc tài sản cần kê biên có thêm người khác cùng có quyền sở hữu, quyền sử dụng.

Thứ tư, phạm vi đối tượng áp dụng biện pháp phong tỏa tài khoản còn hẹp.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 129 Bộ luật Tố tụng hình sự, cơ quan điều tra chỉ áp dụng biện pháp phong tỏa tài khoản đối với người bị buộc tội hoặc người khác nếu thuộc các trường hợp luật định. Theo đó, cơ quan điều tra không thể áp dụng biện pháp phong tỏa tài khoản đối với người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố. Điều này dẫn đến việc các đối tượng phạm tội lợi dụng để tấu tán tài sản trong tài khoản ngay từ giai đoạn bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố, từ đó làm giảm hiệu quả thu hồi tài sản do phạm tội mà có, hoặc để bảo đảm quá trình thi hành án của các đối tượng này sau khi bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử.

3. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về các biện pháp cưỡng chế trong điều tra hình sự

Một là, nghiên cứu sửa đổi khoản 1 Điều 127 Bộ luật Tố tụng hình sự theo hướng bổ sung quy định về trường hợp áp dụng biện pháp áp giải. Các cơ quan có thẩm quyền nghiên cứu, bổ sung quy định trường hợp áp dụng biện pháp áp giải đối với từng đối tượng cụ thể. Theo đó, đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can bị tạm giam có thể bị áp dụng biện pháp áp giải trong trường hợp phục vụ cho việc các hoạt động điều tra, khám bệnh, chữa bệnh, thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự… Với trường hợp bị can không bị tạm giam, đã triệu tập nhưng vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan thì có thể bị áp giải. Việc sửa đổi khoản 1 Điều 127 Bộ luật Tố tụng hình sự theo hướng trên sẽ bảo đảm sự phù hợp với quy định tại Điều 60, Điều 182 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 20 Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015.

Hai là, nghiên cứu sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 127 Bộ luật Tố tụng hình sự theo hướng bổ sung diện đối tượng áp dụng biện pháp dẫn giải bao gồm người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đã được triệu tập mà vẫn vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan. Đồng thời, sửa đổi điểm c khoản 2 Điều 127 Bộ luật Tố tụng hình sự theo hướng bỏ cụm từ “mà qua kiểm tra, xác minh có đủ căn cứ xác định người đó liên quan đến hành vi phạm tội được khởi tố vụ án” để tạo thuận lợi cho các cơ quan có thẩm quyền điều tra buộc người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố phải có mặt theo giấy triệu tập, trong trường hợp không có mặt theo giấy triệu tập mà không có lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan thì bị dẫn giải; bảo đảm sự phù hợp với quy định tại Điều 466 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định về xử lý người có hành vi cản trở hoạt động tố tụng của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Ba là, sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 128 Bộ luật Tố tụng hình sự theo hướng bổ sung diện đối tượng áp dụng biện pháp kê biên tài sản bao gồm người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án khi có căn cứ xác định tài sản của người này đứng tên quản lý, sử dụng có liên quan đến hoạt động phạm tội của người bị buộc tội. Việc sửa đổi, bổ sung diện đối tượng áp dụng biện pháp kê biên tài sản theo hướng này sẽ đáp ứng được thực tiễn công tác điều tra, góp phần khắc phục việc các đối tượng tẩu tán tài sản do phạm tội mà có sau khi bị phát hiện, khởi tố, điều tra, qua đó nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản trong điều tra vụ án hình sự.

Bốn là, xây dựng, ban hành văn bản hướng dẫn thi hành thực hiện các biện pháp cưỡng chế trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong thời gian tới, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân cần nghiên cứu tổng kết thực trạng việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó các cơ quan phối hợp nghiên cứu, xây dựng thông tư hướng dẫn áp dụng các biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự. Nội dung thông tư xây dựng không chỉ quy định về trình tự, thủ tục thực hiện từng biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự cụ thể mà còn giải thích các thuật ngữ được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự về các biện pháp cưỡng chế. Cụ thể:

- Xác định rõ trường hợp “vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan” trong quy định về việc triệu tập bị can, triệu tập người làm chứng, bị hại... Để xác định được các trường hợp này, các cơ quan có thẩm quyền có thể nghiên cứu, kế thừa quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 và thực tiễn điều tra hình sự nói riêng, thực tiễn thực hiện các hoạt động tố tụng hình sự nói chung. Theo đó, các trường hợp xác định có lý do bất khả kháng có thể do thiên tai, hỏa hoạn, địch họa, dịch bệnh; các trường hợp do trở ngại khách quan có thể là trường hợp người bị triệu tập không nhận được giấy triệu tập mà không phải do lỗi của họ, hoặc người bị triệu tập đang đi công tác ở vùng biên giới, hải đảo mà không thể có mặt theo thời gian triệu tập, hoặc người bị triệu tập bị tai nạn, ốm đau đến mức mất khả năng nhận thức...

- Xác định cụ thể mức tương ứng trong quy định “chỉ kê biên phần tài sản tương ứng với mức có thể bị phạt tiền, bị tịch thu hoặc phải bồi thường thiệt hại” tại khoản 3 Điều 128 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Xác định rõ các “trường hợp thật cần thiết” quy định tại khoản 1 Điều 419 Bộ luật Tố tụng hình sự về áp dụng biện pháp cưỡng chế với người bị buộc tội dưới 18 tuổi.

Ngoài ra, để bảo đảm cho quá trình thi hành án, các cơ quan có thẩm quyền nghiên cứu tính toán bổ sung trường hợp các biện pháp: Tạm ngưng giao dịch tài sản đối với những người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố trước khi áp dụng biện pháp kê biên tài sản; tạm ngưng giao dịch tài khoản của người bị tố giác, kiến nghị khởi tố hoặc người có liên quan đúng bằng giá trị tài sản bị tố giác chiếm đoạt hoặc có liên quan trước khi áp dụng biện pháp phong tỏa tài khoản.

TS. Sái Ngọc Hưng

Học viện An ninh nhân dân

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 380), tháng 5/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: