Thứ sáu 23/01/2026 11:50
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện quy định về quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ vận chuyển hàng hóa qua đường bưu chính

Bài viết hướng đến mục tiêu nghiên cứu để hoàn thiện một số quy định về quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ vận chuyển hàng hóa qua đường bưu chính, nhằm phát huy vai trò của dịch vụ này, đáp ứng nhu cầu của khách hàng và xã hội.


1. Quy định về quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ vận chuyển hàng hóa qua đường bưu chính

Cùng với sự phát triển của thương mại điện tử và sự tác động của đại dịch Covid -19 đã làm thay đổi thói quen mua sắm của khách hàng. Thay vì theo các cách thức truyền thống, việc trao đổi, mua bán hàng hóa trực tuyến là lựa chọn hiện nay của nhiều khách hàng. Điều này đã làm gia tăng nhu cầu sử dụng dịch vụ vận chuyển hàng hóa trung gian từ người bán tới người mua. Với đặc tính, nhanh, an toàn, chi phí hợp lý, dịch vụ vận chuyển hàng hóa qua đường bưu chính là lựa chọn ưu tiên hiện nay của khách hàng. Tuy nhiên, không ít những hành vi kinh doanh bất chính đã và đang diễn ra, như lợi dụng phương tiện gắn nhãn mác bưu chính để vận chuyển hàng lậu, hàng cấm, vũ khí, truyền đơn chống phá Nhà nước; kinh doanh không có giấy phép; tráo đổi hàng hóa của khách hàng,… đã làm tổn hại đến uy tín, hình ảnh của ngành dịch vụ vận chuyển bưu chính, làm mất lòng tin của khách hàng, gây mất an ninh xã hội.

Nhằm phát huy hết vai trò và lợi thế của một dịch vụ vận chuyển, ngăn chặn hiệu quả các hành vi trái pháp luật, pháp luật đã có những quy định làm rõ quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ vận chuyển hàng hóa qua đường bưu chính. Phân tích các quy định nhận thấy, để kiểm soát hiệu quả hoạt động vận chuyển hàng hóa của doanh nghiệp bưu chính, Nhà nước đã ban hành ba nhóm quy định cơ bản sau đây:

(i) Quy định về điều kiện thành lập doanh nghiệp bưu chính: Phòng ngừa, giáo dục luôn là nguyên tắc ưu tiên đầu tiên trong kiểm soát hành vi vi phạm nói chung, hoạt động vận chuyển hàng hóa qua đường bưu chính nói riêng để tránh những hậu quả xảy ra. Vì lẽ đó, doanh nghiệp muốn thực hiện dịch vụ vận chuyển hàng hóa qua đường bưu chính phải có giấy phép kinh doanh dịch vụ bưu chính. Để được cấp giấy phép này, doanh nghiệp cần đáp ứng các điều kiện như: Có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoạt động bưu chính hoặc giấy chứng nhận đầu tư trong lĩnh vực bưu chính; có khả năng tài chính, nhân sự phù hợp; có phương án kinh doanh khả thi phù hợp với quy định về giá cước, chất lượng dịch vụ bưu chính; có biện pháp bảo đảm an ninh thông tin và an toàn đối với con người, bưu gửi, mạng bưu chính[1].

(ii) Quy định về quá trình hoạt động của doanh nghiệp bưu chính: Để bảo đảm lợi ích hợp pháp, đồng thời ngăn chặn, tiến tới loại bỏ những hành vi vận chuyển hàng hóa qua đường bưu chính trái pháp luật, nhằm xây dựng môi trường cạnh trạnh lành mạnh, Nhà nước đã có những quy định nhằm xác định quyền và ràng buộc nghĩa vụ của doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ bưu chính trong quá trình vận chuyển hàng hóa, cụ thể: Bảo đảm an toàn, an ninh trong cung ứng và sử dụng dịch vụ bưu chính; chịu trách nhiệm trước pháp luật khi cố ý chấp nhận bưu gửi vi phạm; không được tiết lộ thông tin về sử dụng dịch vụ bưu chính của tổ chức, cá nhân; không được cung ứng dịch vụ bưu chính vi phạm quy định về phạm vi dịch vụ bưu chính dành riêng dưới mọi hình thức; hưởng thù lao, chi phí hợp lý[2],…

(iii) Quy định về trách nhiệm pháp lý do hành vi vi phạm gây ra: Trách nhiệm pháp lý luôn được biểu thị bởi các chế tài mang tính chất răn đe, nghiêm khắc, bảo đảm cho hoạt động vận chuyển hàng hóa của doanh nghiệp bưu chính đúng quy định, đồng thời xử lý nghiêm các hành vi vi phạm. Tùy theo mức độ và tính chất nguy hiểm của từng hành vi vi phạm trong hoạt động vận chuyển hàng hóa, doanh nghiệp bưu chính có thể bị áp dụng các chế tài hình sự với hành vi “tàng trữ, vận chuyển hàng cấm”[3]; bị xử lý hành chính theo Nghị định số 15/2020/NĐ-CP ngày 03/02/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viên thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử (Nghị định số 15/2020/NĐ-CP); nếu gây thiệt hại phải bồi thường theo quy định[4].

Như vậy, pháp luật đã có những quy định trao quyền và ràng buộc nghĩa vụ đối với doanh nghiệp bưu chính trong vận chuyển hàng hóa, nhằm phát huy tối đa vai trò của dịch vụ này, đáp ứng nhu cầu của khách hàng và xã hội. Tuy vậy, quan sát và phân tích nhận thấy, các quy định này vẫn còn bất cập, dẫn đến những hành vi vi phạm trong thực tiễn, vì vậy, cần thiết phải phân tích để hoàn thiện.

2. Thực trạng quy định về quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ vận chuyển hàng hóa qua đường bưu chính

Hiện nay, nước ta có khoảng 550 doanh nghiệp bưu chính hoạt động[5], các quy định nêu trên đã tạo hành lang pháp lý, giúp kiểm soát ngay từ đầu và trong suốt quá trình hoạt động đối với các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ vận chuyển hàng hóa bằng đường bưu chính. Đồng thời, nâng cao nhận thức của doanh nghiệp bưu chính trong việc cam kết, tuân thủ các quy định của pháp luật trong quá trình vận chuyển hàng hóa. Điển hình là Tổng Công ty Bưu điện Việt Nam, Bưu chính Viettel, Tổng Công ty Chuyển phát nhanh Bưu điện, Công ty Cổ phần Giao hàng Tiết kiệm, Công ty Cổ phần Thương mại và chuyển phát nhanh Nội Bài, Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Dịch vụ Song Bình đã cùng nhau cam kết thực hiện những nội dung tuân thủ nghiêm các quy định của pháp luật về vật phẩm, hàng hóa không được gửi, chấp nhận, vận chuyển qua mạng bưu chính; từ chối, không chấp nhận, vận chuyển, phát hàng lậu, hàng cấm qua đường bưu chính hoặc không tiếp tay cho các đối tượng lợi dụng dịch vụ bưu chính để kinh doanh, sử dụng hàng lậu, hàng cấm[6],… Hoặc, để nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, phát hiện và xử lý vi phạm, tại một số địa phương, giữa cơ quan quản lý thị trường và doanh nghiệp bưu chính cũng đã ký quy chế phối hợp trong kiểm tra và xử lý tình huống đối với hàng hóa kinh doanh gửi qua đường bưu chính[7].

Với chi phí hợp lý, thời gian giao nhận nhanh, tính an toàn cao, bảo mật được thông tin hàng hóa, đặc biệt, với sự phát triển của thương mại điện tử, sự tác động của dịch bệnh Covid-19 kéo dài, phải giãn cách xã hội đã làm tăng nhu cầu trao đổi hàng hóa trực tuyến, vì vậy, dịch vụ chuyển phát hàng hóa qua dịch vụ bưu chính được ưu tiên sử dụng, giúp hàng hóa được vận chuyển nhanh chóng, tận tay người nhận, phòng tránh được dịch bệnh theo yêu cầu của Chính phủ. Tuy nhiên, đây cũng là cơ hội để một số doanh nghiệp bưu chính và các đối tượng gửi, nhận hàng hóa lợi dụng nhằm thông đồng vận chuyển hàng cấm, hàng giả, thậm chí là ma túy, vũ khí trái phép, truyền đơn chống phá Nhà nước. Theo thống kê của cơ quan chức năng, đã phát hiện xử phạt 7.270 bưu phẩm, bưu kiện phát tán qua dịch vụ bưu chính chứa 8.022 loại vũ khí, linh kiện vũ khí, công cụ hỗ trợ; ngăn chặn, gỡ bỏ 102 đường dẫn tài khoản facebook, 6000 đường dẫn video youtube, 41 trang thông tin điện tử có dấu hiệu vi phạm pháp luật về vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ[8]. Đặc biệt, vào ngày 07/7/2020, cơ quan chức năng phát hiện, xử lý kho hàng cất trữ hàng lậu rộng hơn 10.000 m2 tại thanh phố Lào Cai, trong đó có một số doanh nghiệp bưu chính tham gia công đoạn vận chuyển[9]. Nguyên nhân cơ bản của tồn tại trên xuất phát từ bất cập của pháp luật, cụ thể:

Một là, khó xử lý doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ vận chuyển hàng hóa qua đường bưu chính về tội “tàng trữ, vận chuyển hàng cấm” theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về tội “tàng trữ, vận chuyển hàng cấm”, theo đó, người nào tàng trữ, vận chuyển hàng cấm sẽ bị phạt tiền hoặc phạt tù[10]. Vấn đề đặt ra, nếu doanh nghiệp bưu chính thực hiện hành vi vận chuyển hàng cấm thì có vận dụng Điều 191 để xử lý được không. Câu trả lời là rất khó, vì phải chứng minh có hành vi cố ý vận chuyển hàng cấm của doanh nghiệp bưu chính. Trong khi đó, việc chứng minh là không dễ đối với cơ quan chức năng, bởi lẽ:

(i) Theo khoản 6 Điều 7 Luật Bưu chính năm 2010 quy định, khi tiến hành chấp nhận, vận chuyển hàng hóa cho khách hàng, doanh nghiệp bưu chính không được bóc mở, đánh tráo hàng hóa của khách hàng[11]. Quy định này nhằm bảo mật thông tin hàng hóa cho khách hàng khi gửi. Nhưng vấn đề đặt ra, nếu không được bóc, mở để kiểm tra hàng hóa khi chấp nhận để vận chuyển thì doanh nghiệp bưu chính rất khó để xác minh rằng, đó có phải là hàng cấm hay không và cơ quan chức năng cũng không có đủ cơ sở để kết luận rằng, liệu doanh nghiệp bưu chính có cố ý vận chuyển hàng cấm hay không, trừ khi đủ chứng cứ để chứng minh rằng, doanh nghiệp bưu chính biết hoặc phải biết hàng cấm nhưng vẫn chấp nhận để vận chuyển.

(ii) Xuất phát từ phương thức, thủ đoạn tinh vi của các đối tượng gửi, nhận hàng hóa bất hợp pháp qua đường bưu chính, các đối tượng không ngại sử dụng các phương thức, thủ đoạn trái pháp luật như khai khống chủng loại hàng hóa, ghi sai địa chỉ người gửi và người nhận, để khi cơ quan chức năng phát hiện sẽ không truy được nguồn gốc cũng như người gửi hàng và người nhận hàng, sẵn sàng vứt bỏ hàng hóa khi bị cơ quan chức năng phát hiện. Trong trường hợp này, vì không truy gốc được người gửi và người nhận nên rất khó chứng minh có hành vi cố ý vận chuyển hàng cấm của doanh nghiệp bưu chính hay không, vì không thể lấy được lời khai từ người gửi hay người nhận. Cụ thể, ngày 14 tháng 10 năm 2020, lực lượng chức năng đã kiểm tra đột xuất Cảng ICD Mỹ Đình, là kho hàng của doanh nghiệp dịch vụ bưu chính Thuận Phong - J&T Express. Qua kiểm tra, có tới hơn 100.000 các sản phẩm hàng tiêu dùng đang được chờ chuyển phát không rõ nguồn gốc, xuất xử. Tiếp tục kiểm tra cả 5 đơn vị ký kết với doanh nghiệp Thuận Phong để giao vận hàng hóa (tức chủ hàng), đều là địa chỉ không xác định được. Điều này cũng đồng nghĩa với việc không thể xử lý được chủ hàng mà chỉ có thể tịch thu được hàng hóa tại các kho hàng của Doanh nghiệp Thuận Phong[12]. Một vụ việc khác, Cục quản lý Thị trường tỉnh Lạng Sơn đã chủ trì phối hợp tiến hành kiểm tra Bưu cục Tân Thanh tỉnh Lạng Sơn. Qua kiểm tra, lực lượng chức năng phát hiện có 50 bao tải và 96 thùng bìa cát tông bên trong có đựng hàng hóa đều do Trung Quốc sản xuất, có tổng trọng lượng khoảng 2.000kg, nhưng không có chủ sở hữu[13].

Hai là, thiếu quy định ràng buộc trách nhiệm của doanh nghiệp bưu chính trong trang bị phương tiện, công cụ kiểm tra hàng hóa trước khi chấp nhận vận chuyển. Kiểm tra hàng hóa trước khi chấp nhận vận chuyển là cách tốt nhất để phát hiện, từ chối vận chuyển đối với các loại hàng hóa bị cấm. Tuy vậy, với đủ các chiêu trò, mánh khóe để đối tượng gửi hàng cấm “qua mặt” các giao dịch viên và cơ quan chức năng, như đóng lẫn hàng hóa có giá trị nhỏ, gọn trong các hành lý thông thường hoặc cất giấu trong các vách, ngăn, hầm kín tự chế[14], hoặc ma túy đá được ngụy trang cho vào các hộp kim loại bên ngoài dán nhãn hiệu là Gà hầm xí muội, Bò sốt tiêu Tuyền Ký, Gà hấp gừng Tuyền Ký, Sườn nấu đậu hay súng ngắn quân dụng hiệu PX4 storm, code PZ 46162 được tháo rời dấu trong các đầu DVD để trốn tránh sự kiểm tra, kiểm soát của cơ quan hải quan[15].

Với những thủ đoạn tinh vi này, việc kiểm tra hàng hóa ngay từ đầu của giao dịch viên tiếp nhận bưu gửi thường bị “qua mặt”. Trong khi đó, pháp luật quy định rất chung chung những điều kiện về tài chính, nhân sự mà không bắt buộc trách nhiệm của doanh nghiệp phải trang bị phương tiện, công cụ để hỗ trợ kiểm tra, phát hiện ngay từ đầu các loại hàng hóa cấm vận chuyển[16]. Vì luật không bắt buộc, trong khi đó, chi phí để trang bị các loại máy chiếu, soi hiện đại lại khá tốn kém, đồng thời việc trang bị máy soi, chiếu hiện đại cần thiết phải có nhân lực đủ trình độ để sử dụng. Với những rào cản như vậy, nên thực tế các doanh nghiệp bưu chính sẽ không chủ động trong việc trang bị các công cụ, phương tiện để hỗ trợ cho việc kiểm tra, phát hiện hàng hóa cấm vận chuyển.

Ba là, thiếu các quy định cụ thể về tiêu chuẩn, trình độ của giao dịch viên tiếp nhận hàng tại các doanh nghiệp bưu chính. Tại các doanh nghiệp bưu chính hiện nay, việc tiếp nhận hàng hóa cho khách hàng đều được giao cho các giao dịch viên. Trong khi đó, Luật Bưu chính năm 2010 và Nghị định số 47/2011/NĐ-CP ngày 17/6/2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số nội dung của Luật Bưu chính lại không có bất kỳ quy định cụ thể nào về điều kiện, trình độ của giao dịch viên. Dẫn đến thực tế, yêu cầu về điều kiện, trình độ để tuyển dụng các giao dịch viên làm việc tại các doanh nghiệp bưu chính không giống nhau, đối tượng được tuyển dụng chủ yếu tốt nghiệp trung cấp trở lên (không bắt buộc phải đúng chuyên ngành). Ví dụ, tại Chi nhánh Bưu chính Viettel Nghệ An, tuyển nhân viên giao dịch yêu cầu trình độ tốt nghiệp trung cấp trở lên, có ngoại hình khá, cao từ 1m58[17]. Hoặc, Chi nhánh Bưu điện thành phố Hà Nội thuộc Tổng công ty Bưu điện Việt Nam, tuyển giao dịch viên yêu cầu có trình độ tốt nghiệp từ trung cấp trở lên, có trình độ A tin học văn phòng trở lên, có kỹ năng phản ứng tốt trước các yêu cầu, thắc mắc của khách hàng về sản phẩm, dịch vụ, có thái độ niềm nở, thân thiện, lịch sự với khách hàng[18].

Là chủ thể trực tiếp kiểm tra, tiếp nhận hàng hóa, đối diện trực tiếp với các thủ đoạn tinh vi của các đối tượng buôn bán hàng giả, hàng cấm, với trình độ tốt nghiệp trung cấp, không bắt buộc phải được đào tạo đúng chuyên ngành, và yêu cầu trình độ A tin học văn phòng thì không thể đòi hỏi hiệu quả ở các giao dịch viên trong việc kiểm tra, phát hiện các loại hàng cấm, hàng giả. Minh chứng, ngày 15 tháng 4 năm 2020, cơ quan chức năng của huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn, tiến hành kiểm tra, bưu cục Tân Thanh, phát hiện có tổng số có 109 loại hàng là đồ dùng gia đình, đồ điện gia dụng, v.v, trị giá hàng hóa xuất bán trên hóa đơn là 35.850.000 đồng, được xuất bán cho 23 khách hàng tại các tỉnh, thành phố trên toàn quốc. Ngoài ra, có 71 loại hàng hóa là đồ điện gia dụng, hàng may mặc sẵn, đồ chơi trẻ em, thuốc tân dược, hóa chất tẩy rửa, v.v, do Trung Quốc sản xuất, không có hóa đơn, chứng từ chứng minh nguồn gốc nhập khẩu hợp pháp. Trưởng bưu cục Tân Thanh cho biết, khi khách hàng mang hàng hóa đến Bưu cục để thực hiện giao dịch nhận gửi, bà phân công nhiệm vụ cho giao dịch viên và có trách nhiệm yêu cầu khách hàng xuất trình hóa đơn, chứng từ của hàng hóa, đồng thời cùng khách hàng kiểm đếm số lượng, đối chiếu hóa đơn, cân đo, in vận đơn và thu tiền cước của khách hàng. Mặc dù có một số hàng hóa đã được kiểm đếm, in vận đơn, nhưng một số mặt hàng khách hàng mang đến bưu cục nhưng chưa thực hiện việc giao nhận, gửi hàng nên bà, và nhân viên không nắm được số lượng cụ thể[19].

3. Một vài đề xuất

Luật Bưu chính năm 2010 cũng như các văn bản hướng dẫn đã có những quy định về quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ bưu chính, điều này giúp kiểm soát ngay từ đầu các hành vi trái pháp luật có thể được thực hiện. Tuy vậy, các quy định vẫn còn những điểm bất cập, là nguyên nhân cơ bản dẫn đến các hành vi kinh doanh trái pháp luật vẫn đang diễn ra. Để kiểm soát hiệu quả các hành vi của doanh nghiệp bưu chính trong hoạt động hoạt vận chuyển hàng hóa, cần phải có các giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật theo hướng sau:

Một là, quy định trao quyền và gắn nghĩa vụ cho doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ vận chuyển hàng hóa qua đường bưu chính trong kiểm tra hàng hóa trước khi chấp nhận, vận chuyển cho khách hàng. Hiện nay, Luật Bưu chính năm 2010 quy định trách nhiệm của doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ vận chuyển hàng hóa qua đường bưu chính không được bóc mở, đánh tráo hàng hóa của khách hàng[20]. Đây là quy định phù hợp, bảo đảm quyền bí mật thông tin về hàng hóa cho khách hàng. Tuy nhiên, đây cũng chính là “khe hở” để các đối tượng “lách luật” nhằm thực hiện các hành vi gửi hàng lậu, hàng giả, ma túy,… Để kiểm soát hiệu quả ngay từ đầu đối với các hành vi nói trên, thời gian tới cần sửa đổi Luật Bưu chính năm 2010 theo hướng bổ sung các quy định sau đây:

(i) Giữ nguyên khoản 6 Điều 7 Luật Bưu chính năm 2010 về cấm tiết lộ thông tin về sử dụng dịch vụ bưu chính, bóc mở, huỷ bưu gửi trái pháp luật. Đồng thời, quy định bổ sung trao quyền cho doanh nghiệp bưu chính được kiểm tra bằng hình thức soi, chiếu hàng hóa trong các trường hợp cần thiết. Trường hợp cần thiết cần được tiếp tục giải thích rõ tại văn bản hướng dẫn thực hiện.

(ii) Buộc doanh nghiệp bưu chính thực hiện dịch vụ vận chuyển hàng hóa phải có nghĩa vụ trang bị các phương tiện, công cụ soi, chiếu phù hợp với từng giai đoạn, nhằm hỗ trợ cho các giao dịch viên trong hoạt động kiểm tra, phát hiện các loại hàng giả, hàng cấm.

(iii) Quy định trách nhiệm của doanh nghiệp bưu chính trong hoạt động soi, chiếu nếu để xảy ra hư hỏng hàng hóa, thông tin hàng hóa bị tiết lộ. Đồng thời, tại Nghị định số 15/2020/NĐ-CP cần quy định bổ sung chế tài xử phạt đối với hành vi này.

(iv) Quy định bổ sung quyền của khách hàng trong việc chụp, ghi hình, quay phim…, đối với hoạt động soi, chiếu hàng hóa của doanh nghiệp bưu chính.

Hai là, quy định về tiêu chuẩn, trình độ của giao dịch viên tiếp nhận hàng hóa trong các doanh nghiệp bưu chính. Như đã phân tích, pháp luật hiện hành chưa có bất kỳ quy định nào về điều kiện, tiêu chuẩn của giao dịch viên làm việc tiếp nhận hàng hóa tại các doanh nghiệp bưu chính. Để dễ dàng tìm nguồn, trả chi phí lao động thấp nên nhiều doanh nghiệp bưu chính sẵn sàng tuyển dụng các giao dịch viên có trình độ từ trung cấp trở lên mà không buộc phải đúng chuyên ngành, không yêu cầu về kinh nghiệm. Điều này đã làm hạn chế đến nhận thức, kinh nghiệm của các giao dịch viên trong việc kiểm tra, phát hiện các bưu kiện chứa đựng hàng hóa cấm, hàng giả, hàng không rõ nguồn gốc xuất xứ,… Nguy hiểm hơn, vì thiếu hiểu biết mà có thể tiếp tay cho các đối tượng thực hiện hành vi phạm tội. Vì thế, việc nâng cao trình độ, kinh nghiệm của giao dịch viên thông qua đào tạo, phổ biết kiến thức về an ninh, an toàn hoạt động bưu chính là hết sức cần thiết. Bên cạnh đó, cần sửa Luật Bưu chính năm 2010 để bổ sung quy định ràng buộc nghĩa vụ doanh nghiệp bưu chính trong tuyển dụng đội ngũ giao dịch viên tiếp nhận hàng hóa như sau: (i) Có trình độ từ đại học đúng chuyên ngành trở lên; (ii) Có kinh nghiệm trong hoạt động kiểm tra, phát hiện hàng hóa hoặc thử việc 06 tháng trước khi ký hợp đồng. Ngoài ra, phụ thuộc điều kiện, nhu cầu cụ thể của mỗi đơn vị mà yêu cầu về kỹ năng giao tiếp, trình độ ngoại ngữ, tin học, hình thức,…

Mai Xuân Hợi
Trường Đại học Luật Huế


[1] Điều 21 Luật Bưu chính năm 2010.

[2] Điều 21 Luật Bưu chính năm 2010.

[3] Nếu hành vi vận chuyển hàng cấm xuyên biên giới được xử lý theo Điều 189 với tội “Tội vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới, nếu vận chuyển hàng cấm trong nước sẽ áp dụng Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xử lý về “tàng trữ, vận chuyển hàng cấm”.

[4] Khoản 14 Điều 29 Luật Bưu chính năm 2010.

[5] Báo Tuổi trẻ và Pháp luật (2021), “Siết” kiểm soát hàng lậu, hàng cấm qua đường bưu chính”,

[6] VNPost.vn (2021), “Sáu doanh nghiệp bưu chính - chuyển phát đã ký cam kết với Bộ Thông tin và Truyền thông không chấp nhận, vận chuyển hàng lậu, hàng cấm”
[7] Đông Hiếu (2021), “Ngăn chặn hàng lậu qua đường bưu chính”

[8] Thông tin và Truyền thông (2020) “Tăng cường biện pháp số để kiểm tra chuyển phát hàng hoá trên toàn quốc”

[9] Tạp chí Điện tử VeCoNoMic (2021), “Lo hàng cấm tuồn qua đường bưu chính”

[10] Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015 và được sửa đổi tại Điều 1 Bộ luật Hình sự sửa đổi năm 2017.

[11] Điều 7 Luật Bưu chính năm 2010.
[12] An Dương (2020), “Vận chuyển hàng lậu qua đường chuyển phát nhanh ngày càng biến tướng

[13] An Dương (2020), “Nhức nhối nạn vận chuyển hàng lậu, hàng cấm qua đường bưu chính”,

[14] Trần Hằng - Xuân Mai (2016), “Điểm mặt những chiêu trò, thủ đoạn vận chuyển hàng lậu ở Quảng Ninh”

[15] Hải Quan Thành phố Hồ Chí Minh (2013), “Độc chiêu buôn lậu qua chuyển phát nhanh

[16] Điều 21 Luật Bưu chính năm 2010.

[17] http://www.viettelpost.com.vn/.

[18] Bưu điện Hà Hội (2021), “Thông báo tuyển dụng
[19] Thu Phương (2020), “Lạng Sơn: Xử lý 6 cơ sở kinh doanh gửi hàng lậu qua đường bưu cục”

[20] Điều 7 Luật Bưu chính năm 2010.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích những bất cập trong quy định của pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con, từ đó, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy quyền được giáo dục của con trong gia đình được thực hiện hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển của trẻ em và xã hội trong bối cảnh hiện nay.
Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu một số học thuyết và phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật, chỉ ra những bất cập tồn tại trong quy định pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam chưa phù hợp với các học thuyết này. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng trong thời gian tới.
Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Tóm tắt: Cải cách thủ tục hành chính là yếu tố quan trọng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính, thúc đẩy cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đặc biệt là tạo động lực cho đổi mới sáng tạo. Nghiên cứu này phân tích sự cần thiết của cải cách thủ tục hành chính và thực trạng cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam trong việc khơi thông động lực đổi mới sáng tạo, từ đó, đề xuất giải pháp cải cách.
Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích quá trình phát triển tư tưởng về mối quan hệ giữa luật pháp và kinh tế học, tập trung vào trường phái kinh tế học pháp luật với phương pháp phân tích chi phí - lợi ích làm nổi bật vai trò quan trọng của việc cân nhắc các tác động hành vi cùng hiệu quả phân bổ nguồn lực trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật. Trên cơ sở đó, đề xuất áp dụng phương pháp kinh tế học pháp luật vào quy trình lập pháp tại Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả, tính minh bạch, sự công bằng xã hội và góp phần thúc đẩy cải cách pháp luật bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chuyển đổi số.
Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Tranh chấp lao động cá nhân là tranh chấp phổ biến nhất trong quan hệ lao động và ngày càng diễn biến phức tạp, cùng với đó, nhu cầu về cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả, linh hoạt và bảo đảm quyền lợi cho các bên cũng ngày càng tăng trong lĩnh vực lao động. Trọng tài lao động với tính chất độc lập và được thiết kế theo cơ chế ba bên, có tiềm năng trở thành phương thức giải quyết tranh chấp lao động cá nhân hiệu quả. Bài viết phân tích thực trạng pháp luật hiện hành về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.
Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích các dấu hiệu nhận diện đặc trưng của tài sản số, những khó khăn, bất cập khi thiếu khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số, kinh nghiệm của Hoa Kỳ và giá trị tham khảo cho Việt Nam. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng khung pháp lý vững chắc giúp Việt Nam có cơ hội phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực công nghệ, bảo vệ quyền lợi của người sở hữu tài sản số, tận dụng tối đa tiềm năng từ tài sản số và tiếp tục vững bước trên con đường phát triển kinh tế số.

Theo dõi chúng tôi trên: