Thứ ba 10/03/2026 16:45
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện quy định về thẩm quyền của Tòa án nhân dân đối với việc thu thập tài liệu, chứng cứ trong hoạt động xét xử

Hiện nay, Quốc hội đang tiến thành quy trình sửa đổi Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, trong đó, thẩm quyền của Tòa án nhân dân đối với việc thu thập tài liệu, chứng cứ là một nội dung cần hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ theo hướng Tòa án nhân dân xét xử “án tại hồ sơ”. Để bảo đảm tính khả thi của quy định, trên cơ sở nguyên tắc trong mỗi quy trình tố tụng, bài viết đưa ra những giải pháp để hoàn thiện Dự thảo Luật Tổ chức Tòa án nhân dân (sửa đổi) để đáp ứng đòi hỏi nâng cao chất lượng hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân.

1. Quy định pháp luật hiện hành về thẩm quyền của Tòa án nhân dân trong việc thu thập tài liệu, chứng cứ

Trên cơ sở Hiến pháp, pháp luật hiện hành quy định Tòa án nhân dân trực tiếp thực hiện hoặc yêu cầu chủ thể tố tụng khác cung cấp, bổ sung chứng cứ, tài liệu phục vụ cho công tác xét xử, khởi tố vụ án vụ án hình sự.

Đối với quy trình tố tụng hình sự, Tòa án có quyền yêu cầu điều tra viên, kiểm sát viên và những người khác trình bày về các vấn đề có liên quan đến vụ án tại phiên tòa; khởi tố vụ án hình sự nếu phát hiện có việc bỏ lọt tội phạm; khi xét thấy cần thiết, trả hồ sơ yêu cầu Viện kiểm sát điều tra bổ sung; yêu cầu Viện kiểm sát bổ sung tài liệu, chứng cứ hoặc Tòa án kiểm tra, xác minh, thu thập, bổ sung chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự[1]. Có thể thấy, Tòa án nhân dân “trực tiếp” thực hiện (như khởi tố vụ án hình sự để chứng minh tội phạm[2], kiểm tra, xác minh, thu thập, bổ sung chứng cứ) hoặc “yêu cầu” cơ quan khác thực hiện (như yêu cầu Viện kiểm sát bổ sung tài liệu, chứng cứ...).

Đối với quy trình tố tụng dân sự và tố tụng hành chính, bên cạnh nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, chứng minh của đương sự thì khoản 4 Điều 2 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 quy định Tòa án trực tiếp thực hiện thu thập tài liệu, chứng cứ để giải quyết các vụ việc.

Qua thực hiện cho thấy, theo quy trình tố tụng hình sự, Tòa án khởi tố vụ án, trực tiếp thực hiện xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ cùng với việc thực hiện nhiệm vụ của chủ thể khác trong quan hệ tố tụng, ví dụ như khởi tố vụ án (của cơ quan điều tra). Theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2021 (Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015), nếu việc khởi tố của Tòa án không đúng thì Viện kiểm sát sẽ kháng nghị. Trên thực tế, không có quyết định khởi tố nào bị kháng nghị nhưng hầu như không được thực hiện[3]. Đối với các vụ án theo quy trình tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, khi Tòa án thực hiện thu thập tài liệu, chứng cứ chưa bảo đảm yếu tố “khách quan” trong hoạt động xét xử. Đây là một trong những nội dung cần sửa đổi trong Luật Tổ chức Tòa án nhân dân để khắc phục bất cập, đáp ứng các yêu cầu, thực hiện tốt hơn nhiệm vụ trong giai đoạn mới.

2. Quy định của Dự thảo Luật Tổ chức Tòa án nhân dân (sửa đổi)[4] đặt trong quan hệ với các nguyên tắc tố tụng hiện hành

Theo Điều 15 Dự thảo Luật Tổ chức Tòa án nhân dân (sửa đổi) (sau đây gọi tắt là Dự thảo), Tòa án căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được các bên thu thập, cung cấp, giao nộp, làm rõ tại phiên tòa theo quy định của pháp luật tố tụng và kết quả tranh tụng tại phiên tòa để xét xử; Tòa án không có nghĩa vụ thu thập chứng cứ; Tòa án hướng dẫn, yêu cầu đương sự thu thập chứng cứ và lập hồ sơ vụ việc dân sự, vụ án hành chính; Tòa án hỗ trợ đương sự là người yếu thế trong xã hội thu thập chứng cứ trong vụ việc dân sự, vụ án hành chính theo quy định của pháp luật; các cơ quan, tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ theo quy định của pháp luật cho đương sự khi có yêu cầu.

So sánh với quy định của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 cho thấy, Dự thảo có nhiều quy định mới, trong đó, điểm nổi bật là quy định Tòa án xét xử “án tại hồ sơ” (như căn cứ vào tài liệu, chứng cứ do các bên cung cấp); Tòa án không có nghĩa vụ thu thập chứng cứ; Tòa án không trực tiếp thực hiện thu thập tài liệu, chứng cứ mà chỉ hướng dẫn, yêu cầu, hỗ trợ đương sự. Đồng thời, Dự thảo không quy định thẩm quyền của Tòa án khởi tố vụ án hình sự. Tuy nhiên, trên thực tế, còn có những quan điểm khác nhau về vấn đề này.

Thứ nhất, ý kiến ở góc độ đồng thuận cho rằng, Dự thảo quy định như vậy xuất phát từ yêu cầu thực tiễn để khắc phục bất cập, đáp ứng tốt việc thực hiện nhiệm vụ của Tòa án. Ý kiến này được đưa ra dựa trên cơ sở khoa học, lịch sử, hệ thống pháp luật, cụ thể như sau:

- Về mặt khoa học: Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, quy định như Dự thảo là để bảo đảm cho hoạt động của Tòa án tập trung vào hoạt động xét xử, đáp ứng yêu cầu trong việc nâng cao chất lượng xét xử, thực hiện quyền tư pháp được hiến định tại Điều 102 Hiến pháp năm 2013 và các văn bản luật quy định.

- Về mặt lịch sử: Trong chế độ quân chủ phong kiến, nhà vua là người lập pháp (ban hành các đạo luật, sắc, chiếu chỉ…), hành pháp (thi tuyển, bổ nhiệm, điều động; thăng, giáng chức…), tư pháp (xét xử, áp dụng hình phạt…). Trong đời sống, người dân đến khiếu kiện thì cơ quan công quyền có trách nhiệm làm rõ nội dung khiếu kiện và phán quyết. Về lịch sử lập pháp, pháp luật các triều đại phong kiến Việt Nam chưa quy định tố tụng thành một văn bản luật riêng, nhưng bước đầu đã có quy trình tố tụng. Bộ luật Hồng Đức quy định: Xác định trách nhiệm và phân cấp xét xử ở các cấp trong khiếu kiện (Điều 672); tư cách của người làm chứng (Điều 714); cách thức lấy khẩu cung và lời phản cung (Điều 666)… Xét theo tiến trình lịch sử cho thấy, cùng với sự phát triển của xã hội, quyền tư pháp được tách ra thành một nhánh quyền lực. Hiến pháp năm 2013 quy định: Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp (khoản 3 Điều 2); Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử, thực hiện quyền tư pháp (khoản 1 Điều 102).

- Về hệ thống pháp luật: Pháp luật hiện hành có 03 quy trình tố tụng tại Tòa án[5], quy định trong 03 văn bản tố tụng (Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Luật Tố tụng hành chính năm 2015) điều chỉnh các quan hệ pháp luật tương ứng. Đối với quy trình tố tụng hình sự, pháp luật quy định nhiệm vụ, quyền hạn của các chủ thể trong từng giai đoạn tố tụng (khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án). Điều 15 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định về xác định sự thật của vụ án trong đó “trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng”, thì khoản 1 Điều 15 Dự thảo quy định “Tòa án không có nghĩa vụ thu thập chứng cứ” sẽ bảo đảm cho các chủ thể tiến hành tố tụng khác được thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ trong hoạt động.

Trong quan hệ pháp luật tố tụng dân sự và tố tụng hành chính, “quyền quyết định và tự định đoạt”[6] của đương sự là một nguyên tắc cơ bản trong quá trình tố tụng. Quyền này thể hiện ở việc đương sự khởi kiện, chứng minh, cung cấp chứng cứ chấm dứt, tiếp tục, thay đổi các quyền theo quy định pháp luật. Theo khoản 2 Điều 1 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án năm 2020, đương sự thể hiện quyền quyết định và tự định đoạt trước khi Tòa án thụ lý vụ án, đối với các vụ án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính theo quy trình đối thoại, hòa giải tại Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án năm 2020. Hòa giải theo Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án năm 2020 khác về tính chất, đối tượng và quan hệ pháp luật với hòa giải tại cộng đồng áp dụng cho đối tượng là người phạm tội dưới 18 tuổi theo Điều 94 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- Về tổ chức bộ máy: Khi xã hội phát triển, các tranh chấp liên quan đến pháp luật sẽ khác về quy mô, tính chất và số lượng, do vậy, việc sửa đổi luật liên quan đến thẩm quyền của Tòa án là định hướng thực hiện nhiệm vụ trong giai đoạn mới, cũng như tiết kiệm ngân sách, vì tăng biên chế là tăng chi ngân sách. Trong khi đời sống phát triển, dân trí cao, các tổ chức (dịch vụ pháp lý, đoàn thể bảo vệ quyền lợi cho hội viên...), đương sự có thể thực hiện việc thu thập tài liệu, chứng cứ theo quy định (trực tiếp hoặc thuê người bảo vệ quyền lợi trước pháp luật).

Thứ hai, ở góc độ khác, tiếp cận quy định Dự thảo theo các tiêu chí như tính thống nhất của hệ thống pháp luật, lĩnh vực chuyên môn, cơ sở khoa học, tính xã hội, tính nhân văn… có hai luồng ý kiến như sau:

- Ý kiến thứ nhất cho rằng, việc Dự thảo quy định “Tòa án không có nghĩa vụ thu thập chứng cứ” là cứng nhắc và chưa phù hợp với pháp luật tố tụng hiện hành.

Trong tố tụng hình sự, nguyên tắc “suy đoán vô tội”[7] chi phối trong quy trình tố tụng hình sự, khi phát hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm, có căn cứ khởi tố vụ án hình sự[8], thì trách nhiệm khởi tố và xử lý vụ án hình sự thuộc trách nhiệm cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng[9] . Đặt quy định Dự thảo trong mối quan hệ với quy trình tố tụng hình sự thì trách nhiệm của Tòa án trong việc làm sáng tỏ vụ án theo quy trình tố tụng hình sự còn chưa đủ mạnh, vì phụ thuộc vào cơ quan tố tụng khác trong thu thập tài liệu, chứng cứ. Theo các báo cáo giám sát tại kỳ họp của Quốc hội cho thấy[10], việc thực hiện chức năng của Tòa án không phát hiện các vụ án oan, sai. Đây là điều cần cân nhắc để phát huy tốt hơn kết quả đã đạt được trong công tác xét xử, bảo vệ tốt hơn lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể theo pháp luật, cũng như thể hiện sâu hơn bản chất của Nhà nước.

Quy định của Dự thảo đặt trong các quy trình tố tụng dân sự và tố tụng hành chính là hoàn toàn phù hợp với vị trí, chức năng của Tòa án trong tổ chức bộ máy cũng như tính chất của quan hệ pháp luật mà Tòa án đang thực hiện. Bởi vì, quy trình tố tụng dân sự và tố tụng hành chính phát sinh khi đương sự khởi kiện vụ án[11], nghĩa vụ chứng minh thuộc quyền của đương sự, người khởi kiện[12] và nguyên tắc “quyền quyết định và tự định đoạt” áp dụng trong toàn bộ quá trình tố tụng.

Trên cơ sở pháp luật tố tụng hiện hành và tính chất quan hệ pháp luật, ý kiến này đồng ý với một phần nội dung của quy định Dự thảo về thẩm quyền của Tòa án trong việc thu thập tài liệu, chứng cứ. Tuy nhiên, cần phân hóa thẩm quyền của Tòa án trên cơ sở các nguyên tắc pháp luật cho phù hợp trong mỗi quy trình tố tụng. Chẳng hạn, trong quy trình tố tụng hình sự, cần quy định thẩm quyền Tòa án trong việc thu thập tài liệu, chứng cứ để bảo đảm thực hiện tốt các nguyên tắc trong hoạt động tố tụng.

- Ý kiến thứ hai cho rằng, để Tòa án thực hiện nhiệm vụ trong điều kiện hiện nay, thì việc sửa đổi Luật Tổ chức Tòa án nhân dân là cần thiết. Dự thảo đề cập đến việc sửa đổi thẩm quyền, việc thu thập tài liệu, chứng cứ của Tòa án trong các văn bản tố tụng nhưng chưa đề cập đến việc sửa đổi quy định liên quan đến các chủ thể khác trong quan hệ tố tụng, như việc thực hiện quyền của đương sự tại Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Theo ý kiến này, khi Dự thảo được thông qua, những nhiệm vụ mà Tòa án nhân dân thực hiện theo quy định hiện hành sẽ được sửa đổi hoặc bãi bỏ, trong khi chưa quy định cho chủ thể khác trong quan hệ tố tụng thực hiện sẽ tạo ra “lỗ hổng” pháp luật. Quy trình thu thập tài liệu, chứng cứ của các chủ thể tố tụng khác chưa đồng bộ sẽ kéo theo chứng cứ yếu, có thể tác động đến phán quyết của Tòa án trong vụ án. Ví dụ: Khoản 7 Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định đương sự đề nghị Tòa án xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ của vụ việc mà tự mình không thể thực hiện được; đề nghị Tòa án yêu cầu đương sự khác xuất trình tài liệu, chứng cứ mà họ đang giữ; đề nghị Tòa án ra quyết định yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu giữ, quản lý tài liệu, chứng cứ cung cấp tài liệu, chứng cứ đó; đề nghị Tòa án triệu tập người làm chứng, trưng cầu giám định, quyết định việc định giá tài sản. Khi Dự thảo được thông qua, quyền của đương sự sẽ không còn cơ sở để thực hiện, vì quy định này không đề cập trong Dự thảo.

Để bảo đảm tính đồng bộ của hệ thống pháp luật, ý kiến này cho rằng, Dự thảo cần rà soát tổng thể các quy định liên quan đến tổ chức, hoạt động của Tòa án nhân dân và quy định liên quan đến các chủ thể khác trong quan hệ tố tụng để sửa đổi đồng bộ các văn bản liên quan đến việc thực hiện thu thập tài liệu, chứng cứ cho các chủ thể khác trong quy trình tố tụng. Điều này có thể dẫn đến sửa đổi các văn bản luật liên quan đến việc bảo vệ quyền lợi đương sự trong các văn bản luật quy định về dịch vụ pháp lý, tổ chức đoàn thể.

Từ góc nhìn của đương sự, Dự thảo quy định nhiệm vụ của Tòa án đối với việc thu thập chứng cứ, tài liệu ở dạng yêu cầu, hỗ trợ, hướng dẫn, nghĩa vụ các cơ quan… thu thập tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ án, nhưng chưa quy định cụ thể việc thực hiện. Trong thực tiễn, một số trường hợp yêu cầu của Tòa án nhân dân không được phúc đáp[13]. Bên cạnh đó, ở góc nhìn nhân văn, xuất phát từ bản chất Nhà nước (Điều 2 Hiến pháp năm 2013) và thực tế xã hội nước ta do tác động của lịch sử mà các đối tượng yếu thế trong xã hội tương đối đa dạng (đối tượng chính sách, người có công, đồng bào dân tộc thiểu số, các đối tượng xã hội, giới, độ tuổi…), nên Dự thảo cần quy định cơ chế ràng buộc trách nhiệm của Tòa án, cũng như các cơ quan trong việc “thu thập tài liệu, chứng cứ” để góp phần bảo vệ quyền lợi cho các đối tượng yếu thế.

Theo tác giả, việc sửa đổi Luật Tổ chức Tòa án nhân dân xuất phát từ thực tiễn để đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ của Tòa án trong giai đoạn mới. Tuy nhiên, cần bảo đảm các yếu tố của hệ thống pháp luật như tính thống nhất, tính đồng bộ, khả thi… và thể hiện rõ hơn bản chất Nhà nước, cũng như bảo đảm được các nguyên tắc hoạt động của Tòa án. Việc Dự thảo không quy định thẩm quyền Tòa án khởi tố vụ án hình sự cho thấy, công tác xây dựng luật đã tiếp thu các phản ánh từ thực tiễn để bảo đảm sự thống nhất trong thực hiện nhiệm vụ của các cơ quan trong tiến hành tố tụng.

3. Một số đề xuất hoàn thiện quy định về thẩm quyền của Tòa án nhân dân trong việc thu thập tài liệu, chứng cứ

Thứ nhất, để hoàn thiện quy định về thẩm quyền của Tòa án nhân dân trong việc thu thập tài liệu, chứng cứ, cần đặt quy định Dự thảo trong tổng thể quy trình tố tụng, trên cơ sở các nguyên tắc trong mỗi quy trình tố tụng, lấy Tòa án là chủ thể trung tâm, từ đó xác định phạm vi, mối quan hệ, quy định quyền và nghĩa vụ các chủ thể trong quan hệ tố tụng… sẽ cho một bức tranh tổng thể về quan hệ giữa Tòa án với các chủ thể khác trong các quá trình tố tụng.

Đối với quy trình tố tụng hình sự, quy định “suy đoán vô tội” là nguyên tắc cốt lõi, chi phối trong quá trình tố tụng, do vậy, Dự thảo cần bổ sung quy định thẩm quyền của Tòa án nhân dân đối với việc thu thập tài liệu, chứng cứ. Quy định này là cần thiết để Tòa án chủ động trong thực hiện hoạt động xét xử, thể hiện nguyên tắc “xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” theo khoản 2 Điều 103 Hiến pháp năm 2013, bảo đảm được các nguyên tắc trong tiến hành tố tụng và các yếu tố trong hoạt động xét xử.

Đối với quy trình tố tụng dân sự và quy trình tố tụng hành chính, quy định của Dự thảo là phù hợp với các yếu tố trong hoạt động xét xử của Tòa án. Đây là những quan hệ tố tụng hình thành trên cơ sở “quyền quyết định và tự định đoạt” của đương sự, là nguyên tắc xương sống trong quá trình thực hiện tố tụng. Tuy nhiên, cần quy định rõ hơn trách nhiệm của Tòa án, cũng như các cơ quan liên quan (ban hành văn bản hoặc văn bản liên tịch) trong việc thực hiện các quy định hướng dẫn, yêu cầu, hỗ trợ bằng các quy định cụ thể, như “Tòa án nhân dân tối cao… sẽ hướng dẫn đối với các quy định…”.

Thứ hai, về rà soát, sửa đổi các văn bản pháp luật: Để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật, cần rà soát các quy định liên quan đến chủ thể khác trong quan hệ tố tụng. Bên cạnh rà soát để sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ các quy định liên quan đến thẩm quyền của Tòa án trong các văn bản tố tụng thì cần rà soát, sửa đổi, bổ sung quy định cho các chủ thể khác trong quan hệ tố tụng, như quyền đương sự yêu cầu Tòa án quy định tại khoản 7 Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã nêu trên. Điều đó có thể dẫn tới việc phải sửa đổi các văn bản pháp luật liên quan đến các hoạt động dịch vụ pháp lý, luật tổ chức và hoạt động đoàn thể trong việc bảo vệ quyền lợi thành viên tại các văn bản như Luật Luật sư, Luật Trợ giúp pháp lý, Luật Công đoàn… để hệ thống pháp luật ngày càng thống nhất và hoàn thiện.

Thứ ba, cần tích cực đẩy mạnh việc tuyên truyền giúp các đối tượng hiểu rằng, việc sửa đổi Luật Tổ chức Tòa án nhân dân nhằm đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng xét xử, tiết kiệm ngân sách trong hoạt động của Tòa án[14]. Ở góc độ đương sự, việc Tòa án thực hiện xét xử theo hướng “án tại hồ sơ” trong các quy trình tố tụng dân sự và tố tụng hành chính sẽ thể hiện yếu tố “khách quan”, đồng nghĩa với việc đương sự không phụ thuộc vào Tòa án trong việc thu thập tài liệu, chứng cứ, mà sẽ chủ động và “rộng đường” hơn trong thực hiện chứng minh vụ án. Bên cạnh đó, việc sửa đổi Luật Tổ chức Tòa án nhân dân nhằm đáp ứng yêu cầu của việc hoàn thiện tổ chức bộ máy, bảo đảm thực hiện tốt nhiệm vụ của Tòa án nhân dân trong giai đoạn mới, góp phần bảo vệ quyền lợi các chủ thể, định hướng các quan hệ trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội./.

ThS. Trần Đức Thú

Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân tỉnh Gia Lai

[1]. Điểm c, điểm d khoản 3 Điều 2 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014.

[2]. Điều 14 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014.

[3]. Tờ trình số 191/TTr-TANDTC ngày 02/10/2023 của Tòa án nhân dân tối cao về Dự án Luật Tổ chức Tòa án nhân dân (sửa đổi), tr. 6.

[4]. Dự thảo Luật Tổ chức Tòa án nhân dân sửa đổi ngày 06/10/2023, tài liệu phục vụ Kỳ họp thứ sáu, Quốc hội khóa XV.

[5]. Pháp luật quy định quy trình giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án như: Tố tụng trọng tài (quy trình trọng tài thương mại theo quy định Luật Trọng tài thương mại năm 2010), quy trình hòa giải (theo Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án năm 2020)…

[6]. Điều 5 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Điều 7 Luật Tố tụng hành chính năm 2010.

[7]. Điều 13 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021).

[8]. Điều 143 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021).

[9]. Điều 18 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021).

[10]. Báo cáo số 110/BC-TA ngày 10/10/2023 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao về công tác của các Tòa án tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XV; Báo cáo số 136/BC-VKSTC ngày 10/10/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XV; Báo cáo số 551/BC-CP ngày 13/10/2023 của Chính phủ về công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật năm 2023.

[11]. Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Điều 103 Luật Tố tụng hành chính năm 2015.

[12]. Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Điều 72 Luật Tố tụng hành chính năm 2015.

[13]. Tòa án nhân dân tối cao, Báo cáo số 100/BC-TANDTC ngày 02/10/2023 về tổng kết thực tiễn thi hành Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, tr. 17.

[14]. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao Nguyễn Hòa Bình, tại kỳ họp thứ sáu, Quốc hội khóa XV, https://vietnamnet.vn/chanh-an-tand-toi-cao-nguoi-dau-de-thu-thap-chung-cu-cho-600-000-vu-an-moi-nam-2217964.html, truy cập ngày 02/01/2024.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 400), tháng 3/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.

Theo dõi chúng tôi trên: