Thứ năm 11/12/2025 01:23
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện quy định về tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, so sánh lỗi của người phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ với một số tội phạm khác, từ đó, đề xuất hướng hoàn thiện quy định của Bộ luật Hình sự về tội danh này.

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, so sánh lỗi của người phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ với một số tội phạm khác, từ đó, đề xuất hướng hoàn thiện quy định của Bộ luật Hình sự về tội danh này.

Abstract: The paper studies, compares fault of a criminal causing injury or health damages to other people during public service implementation with some other crimes, and thence, proposes completion orientation of legal provisions of the Criminal Code with respect to this crime.

Trong Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi chung là Bộ luật Hình sự năm 2015), tội giết người được quy định tại Điều 123; tội làm chết người trong khi thi hành công vụ được quy định tại Điều 127; tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ được quy định tại Điều 137; tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính được quy định tại Điều 129.

Trên cơ sở so sánh lỗi của người phạm 04 tội này, chúng tôi đề xuất hướng hoàn thiện quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015[1] về tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ, bảo đảm thống nhất giữa lý luận và kỹ thuật lập pháp trong Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào quy định tại các điều 10, 11, 123, 127, 129, 137 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì lỗi của người phạm tội làm chết người trong khi thi hành công vụ chỉ là lỗi cố ý gián tiếp. Lỗi cố ý gián tiếp làm chết người trong khi thi hành công vụ là lỗi “trong trường hợp người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, có thể làm nạn nhân chết, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc hoặc chấp nhận hậu quả nạn nhân chết”[2].

Nếu người trong khi thi hành công vụ dùng vũ lực ngoài những trường hợp pháp luật cho phép, cố ý trực tiếp gây ra cái chết cho người khác một cách trái pháp luật thì họ phải bị xét xử về tội giết người (Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015), tình tiết phạm tội trong khi thi hành công vụ chỉ có thể được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015[3].

Nếu người trong khi thi hành công vụ dùng vũ lực ngoài những trường hợp pháp luật cho phép, chỉ cố ý với hành vi dùng vũ lực, vô ý gây ra cái chết cho người khác một cách trái pháp luật (không thấy trước hậu quả chết người hoặc tuy thấy trước hậu quả chết người, nhưng có ý thức loại trừ hậu quả này xảy ra) thì họ không phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ. Tuy nhiên, nếu không phạm tội này thì hiện nay, Bộ luật Hình sự năm 2015 chưa quy định tội phạm tương ứng, cũng chưa quy định tình tiết tăng nặng định khung“gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ dẫn đến chết người”.

Để không bỏ lọt hành vi phạm tội này, chúng tôi đề nghị bổ sung tình tiết tăng nặng định khung “dẫn đến chết người” vào điểm b khoản 2 Điều này, theo đó, Điều 137 mới cần được quy định như sau:

Điều 137. Tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ (đề nghị bổ sung)



b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc dẫn đến chết 01 người;

Thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử cho thấy, nếu xác định không đúng lỗi của người phạm tội đối với hậu quả chết người là cố ý hay vô ý sẽ dẫn đến nhiều hậu quả tiêu cực như: Định không đúng tội, không đảm bảo được tính công minh, có căn cứ và đúng pháp luật của hình phạt được quyết định, làm giảm hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm[4]...

Muốn xác định đúng lỗi của người phạm tội đối với cái chết của nạn nhân là cố ý hay vô ý, chúng tôi hoàn toàn đồng ý với quan điểm của GS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa là phải làm sáng tỏ hai vấn đề[5,6]: (i) Người phạm tội có thấy trước hậu quả chết người không? (ii) Nếu thấy trước thì họ mong muốn, chấp nhận hay loại trừ khả năng hậu quả này xảy ra? Nếu vấn đề thứ nhất đã được xác định là không thì có thể loại trừ ngay khả năng lỗi cố ý xâm phạm tính mạng của con người.

Để xác định người phạm tội có thấy trước hậu quả chết người hay không phải xuất phát từ năng lực nhận thức của họ cũng như từ những điều kiện nhận thức cụ thể về những dấu hiệu thuộc mặt khách quan như: Tính chất của công cụ, phương tiện cũng như cách thức sử dụng; vị trí thân thể bị tấn công; tình trạng sức khoẻ cũng như khả năng chống đỡ của nạn nhân...

Để xác định người phạm tội mong muốn, chấp nhận hay loại trừ khả năng hậu quả chết người xảy ra có thể dựa vào những tình tiết như: Sự lựa chọn công cụ, phương tiện, phương pháp phạm tội cũng như cách thức sử dụng; diễn biến tâm lý của người phạm tội trong quá trình thực hiện tội phạm; tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội; động cơ, mục đích chính cũng như nhân cách của người phạm tội... Trong trường hợp mong muốn hậu quả chết người xảy ra, người phạm tội không những lựa chọn công cụ, phương tiện mà còn lựa chọn cả cách thức sử dụng công cụ, phương tiện phạm tội đó. Trong số những công cụ, phương tiện hay phương pháp phạm tội có khả năng giúp đạt được mục đích, người phạm tội thường chọn phương tiện hay phương pháp có tính nguy hiểm cao. Khi sử dụng, người phạm tội thường nhằm vào những vị trí nguy hiểm trên cơ thể nạn nhân... Ngược lại, nếu (chỉ) có ý thức để mặc, chấp nhận hậu quả chết người xảy ra, người phạm tội không quan tâm đến công cụ, phương tiện, phương pháp phạm tội cũng như cách thức sử dụng có nguy hiểm hay không mà chỉ quan tâm những thứ đó có khả năng giúp đạt được mục đích hay không. Cho nên, người phạm tội trong trường hợp này có thể dùng bất cứ phương tiện hay phương pháp phạm tội nào, không phụ thuộc vào tính nguy hiểm của nó, đồng thời chấp nhận mọi cách thức sử dụng công cụ, phương tiện hay phương pháp phạm tội.

Khác hẳn với hai trường hợp trên, nếu có ý thức loại trừ khả năng hậu quả chết người xảy ra, người phạm tội sẽ lựa chọn công cụ, phương tiện, phương pháp cũng như cách thức sử dụng để làm sao vừa có thể đạt được mục đích lại vừa tránh được ở mức cao nhất hậu quả chết người. Trong số những công cụ, phương tiện hay phương pháp phạm tội có khả năng giúp đạt được mục đích, người phạm tội thường chọn công cụ, phương tiện hay phương pháp phạm tội ít nguy hiểm nhất và có thể còn có những biện pháp nhất định nhằm giảm bớt tính chất nguy hiểm của công cụ, phương tiện. Khi sử dụng, người phạm tội có thể tránh những vị trí nguy hiểm cũng như tránh sử dụng quá mức...

Ngoài ý nghĩa trong việc định tội danh, xác định đúng hình thức lỗi còn có ý nghĩa quan trọng trong việc quyết định hình phạt. Bởi lẽ, trong trường hợp làm chết người trong khi thi hành công vụ với lỗi cố ý gián tiếp, sự quan tâm của người phạm tội không hướng vào hậu quả chết người mà hướng vào mục đích khác. Do đó, tất cả những gì xảy ra đối với nạn nhân do hành vi phạm tội đưa lại đều có thể không có tác động gì đến người phạm tội. Ngược lại, trong trường hợp làm chết người trong khi thi hành công vụ với lỗi cố ý trực tiếp, người phạm tội không những hướng tất cả sự chú ý vào việc gây ra hậu quả chết người mà còn cố gắng và quyết tâm gây ra hậu quả đó. Họ sẽ tiếp tục hành động thậm chí còn hành động cương quyết và mạnh mẽ hơn chừng nào còn có biểu hiện là nạn nhân chưa chết hoặc chưa thể chết được. Cho nên, nếu các tình tiết khác tương đương, người phạm tội làm chết người trong khi thi hành công vụ với lỗi cố ý trực tiếp phải bị xử phạt nặng hơn người phạm tội làm chết người trong khi thi hành công vụ với lỗi cố ý gián tiếp (và phải xử họ về tội giết người).

Từ lý luận trên cho thấy, trường hợp (i) Người phạm tội cố ý với hành vi dùng vũ lực ngoài những trường hợp pháp luật cho phép và cố ý trực tiếp với hậu quả chết người (phải bị xét xử về tội giết người - Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015) nguy hiểm hơn trường hợp (ii) Người phạm tội cố ý với hành vi dùng vũ lực ngoài những trường hợp pháp luật cho phép nhưng chỉ cố ý gián tiếp với hậu quả chết người (phải bị xét xử về tội làm chết người trong khi thi hành công vụ - Điều 127 Bộ luật Hình sự năm 2015) và nguy hiểm hơn nhiều trường hợp (iii) Người phạm tội tuy cố ý với hành vi dùng vũ lực ngoài những trường hợp pháp luật cho phép nhưng lại vô ý với hậu quả chết người (phải bị xét xử về tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ dẫn đến chết người - Điều 137 Bộ luật Hình sự năm 2015) và nguy hiểm hơn rất nhiều trường hợp (iv) Người phạm tội vừa vô ý với hành vi (vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính, dùng vũ lực ngoài những trường hợp pháp luật cho phép) lại vừa vô ý với hậu quả chết người (được xét xử về tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính - Điều 129 Bộ luật Hình sự năm 2015).

Trên cơ sở lý luận và so sánh tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của 04 tội phạm này, chúng tôi thấy, hình phạt đối với tội giết người phải nặng hơn tội làm chết người trong khi thi hành công vụ và càng nặng hơn tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ dẫn đến chết người và càng phải nặng hơn nhiều tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính. Tuy nhiên, Bộ luật Hình sự năm 2015 đang quy định mức hình phạt cao nhất của tội giết người là tử hình; mức hình phạt cao nhất của tội làm chết người trong khi thi hành công vụ là 15 năm tù; mức hình phạt cao nhất của tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ chỉ là 07 năm tù; trong khi mức hình phạt cao nhất của tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính lại đến 12 năm tù. Quy định mức hình phạt cao nhất của tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính cao hơn nhiều mức hình phạt cao nhất của tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ (nhất là trong trường hợp cùng dẫn đến chết 02 người trở lên) rõ ràng không phù hợp với lý luận và không tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của 02 tội phạm này.

Để khắc phục hạn chế, bất cập nêu trên, cùng với việc bổ sung tình tiết tăng nặng định khung “dẫn đến chết người” trong tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ, chúng tôi đề nghị nâng mức hình phạt cao nhất của tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ (dẫn đến chết 02 người trở lên) lên 13 năm tù (cao hơn mức hình phạt cao nhất của tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính và thấp hơn mức hình phạt cao nhất của tội làm chết người trong khi thi hành công vụ) và bổ sung thêm 01 khung hình phạt tăng nặng trong tội này (khoản 3); và khoản 3 điều luật hiện hành sẽ chuyển thành khoản 4, cụ thể như sau:

Điều 137. Tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ (điều luật hiện hành)

1. Người nào trong khi thi hành công vụ dùng vũ lực ngoài những trường hợp pháp luật cho phép gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Đối với 02 người trở lên, mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 31% trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Điều 137. Tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ (đề nghị bổ sung mới)

1. Người nào trong khi thi hành công vụ dùng vũ lực ngoài những trường hợp pháp luật cho phép gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Đối với 02 người trở lên, mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 31 % trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc dẫn đến chết 01 người;

c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ.

3. Phạm tội thuộc trong trường hợp dẫn đến chết 02 người trở lên, thì bị phạt tù từ 06 năm đến 13 năm.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

ThS. Nguyễn Thị Thu Trang

Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa

ThS. Lò Thị Việt Hà

Trường Trung cấp Luật Tây Bắc



[1]. Văn phòng Quốc hội (2017), Văn bản hợp nhất số 01/VBHN-VPQH ngày 10/07/2017 về Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Điều 10. Cố ý phạm tội; Điều 123. Tội giết người; Điều 127. Tội làm chết người trong khi thi hành công vụ; Điều 129. Tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính; Điều 137. Tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ.

[2]. Văn phòng Quốc hội (2017), Văn bản hợp nhất số 01/VBHN-VPQH ngày 10/7/2017 về Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[3]. Văn phòng Quốc hội (2017), Văn bản hợp nhất số 01/VBHN-VPQH ngày 10/7/2017 về Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Điều 51. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; Điều 10. Cố ý phạm tội.

[4]. Lê Cảm (2000), Các nghiên cứu chuyên khảo về Phần chung Luật hình sự, Tập 1, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, tr. 7 - 8.

[5]. Nguyễn Ngọc Hòa chủ biên (1997), Luật hình sự Việt Nam - Những vấn đề lí luận và thực tiễn, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, tr. 107 - 116.

[6]. Nguyễn Ngọc Hòa (1994), Lỗi và việc xác định lỗi ở các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, Tạp chí Luật học, số 1, tr. 5 - 9.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích những bất cập trong quy định của pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con, từ đó, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy quyền được giáo dục của con trong gia đình được thực hiện hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển của trẻ em và xã hội trong bối cảnh hiện nay.
Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu một số học thuyết và phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật, chỉ ra những bất cập tồn tại trong quy định pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam chưa phù hợp với các học thuyết này. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng trong thời gian tới.
Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Tóm tắt: Cải cách thủ tục hành chính là yếu tố quan trọng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính, thúc đẩy cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đặc biệt là tạo động lực cho đổi mới sáng tạo. Nghiên cứu này phân tích sự cần thiết của cải cách thủ tục hành chính và thực trạng cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam trong việc khơi thông động lực đổi mới sáng tạo, từ đó, đề xuất giải pháp cải cách.
Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích quá trình phát triển tư tưởng về mối quan hệ giữa luật pháp và kinh tế học, tập trung vào trường phái kinh tế học pháp luật với phương pháp phân tích chi phí - lợi ích làm nổi bật vai trò quan trọng của việc cân nhắc các tác động hành vi cùng hiệu quả phân bổ nguồn lực trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật. Trên cơ sở đó, đề xuất áp dụng phương pháp kinh tế học pháp luật vào quy trình lập pháp tại Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả, tính minh bạch, sự công bằng xã hội và góp phần thúc đẩy cải cách pháp luật bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chuyển đổi số.
Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Tranh chấp lao động cá nhân là tranh chấp phổ biến nhất trong quan hệ lao động và ngày càng diễn biến phức tạp, cùng với đó, nhu cầu về cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả, linh hoạt và bảo đảm quyền lợi cho các bên cũng ngày càng tăng trong lĩnh vực lao động. Trọng tài lao động với tính chất độc lập và được thiết kế theo cơ chế ba bên, có tiềm năng trở thành phương thức giải quyết tranh chấp lao động cá nhân hiệu quả. Bài viết phân tích thực trạng pháp luật hiện hành về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.
Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích các dấu hiệu nhận diện đặc trưng của tài sản số, những khó khăn, bất cập khi thiếu khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số, kinh nghiệm của Hoa Kỳ và giá trị tham khảo cho Việt Nam. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng khung pháp lý vững chắc giúp Việt Nam có cơ hội phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực công nghệ, bảo vệ quyền lợi của người sở hữu tài sản số, tận dụng tối đa tiềm năng từ tài sản số và tiếp tục vững bước trên con đường phát triển kinh tế số.
Trách nhiệm pháp lý của người có ảnh hưởng trong hoạt động quảng cáo nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Trách nhiệm pháp lý của người có ảnh hưởng trong hoạt động quảng cáo nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Tóm tắt: Bài viết phân tích, làm rõ khái niệm người có ảnh hưởng, tình hình thực tiễn về mô hình quảng cáo thông qua người có ảnh hưởng và các hành vi quảng cáo gây ảnh hưởng đến quyền lợi của người tiêu dùng. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của người có ảnh hưởng trong hoạt động quảng cáo nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Phát huy vai trò và trách nhiệm của thanh niên trong việc hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự trong kỷ nguyên mới

Phát huy vai trò và trách nhiệm của thanh niên trong việc hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên mới với những yêu cầu đặt ra về xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng như yêu cầu tháo gỡ những “điểm nghẽn”, “nút thắt” có nguyên nhân từ quy định của pháp luật hiện nay, việc hoàn thiện pháp luật nói chung và pháp luật về thi hành án dân sự nói riêng là cấp thiết, đặc biệt, dự án Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi) dự kiến được Quốc hội khóa XV thông qua tại kỳ họp thứ 10 vào tháng 10/2025. Trước bối cảnh đó, với vai trò là trụ cột, là nguồn lực chủ yếu để xây dựng và phát triển lực lượng sản xuất mới, đồng thời là đội ngũ tiên phong tham gia các lĩnh vực mới, thanh niên ngành thi hành án dân sự cần tiếp tục phát huy vai trò và trách nhiệm trong việc tham gia vào công tác hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự.
Hoạt động giám sát của Quốc hội trong thực hiện điều ước quốc tế - Một số tồn tại, hạn chế và kiến nghị, đề xuất hoàn thiện

Hoạt động giám sát của Quốc hội trong thực hiện điều ước quốc tế - Một số tồn tại, hạn chế và kiến nghị, đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá một số tồn tại, hạn chế trong hoạt động giám sát của Quốc hội Việt Nam đối với việc thực hiện điều ước quốc tế, từ đó, đưa ra một số kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp luật, bảo đảm công tác giám sát thực hiện điều ước quốc tế ngày càng đi vào thực chất, hiệu quả.

Theo dõi chúng tôi trên: