Thứ năm 11/12/2025 00:29
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện quy định về tranh tụng của bị hại trong tố tụng hình sự Việt Nam

Bài viết này bàn về những quy định tranh tụng của bị hại trong tố tụng hình sự, chỉ ra những bất cập, hạn chế và đưa ra kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về tranh tụng của bị hại trong tố tụng hình sự ở Việt Nam.

1. Đặt vấn đề

Nâng cao chất lượng tranh tụng nói chung và tranh tụng của bị hại trong tố tụng hình sự (TTHS) nói riêng là tư tưởng tiến bộ nhằm phát huy tối đa nền dân chủ trong xã hội hiện đại. Khoản 1 Điều 14 Công ước của Liên Hợp quốc về quyền dân sự và chính trị năm 1966 (ICCPR) quy định: “Mọi người đều bình đẳng trước Tòa án và cơ quan tư pháp…”. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 cũng nêu rõ: “Nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp”. Khoản 5 Điều 103 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm”. Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới (Nghị quyết số 27-NQ/TW) cũng tiếp tục khẳng định: “Xây dựng chế định tố tụng tư pháp lấy xét xử là trung tâm, tranh tụng là đột phá…”.

Để tăng cường hiệu quả hoạt động tranh tụng của bị hại nhằm bảo đảm và bảo vệ tối đa quyền con người, quyền công dân, đồng thời giúp cơ quan tiến hành tố tụng (THTT) phát hiện, đấu tranh, phòng ngừa tội phạm kịp thời và có hiệu quả nên việc nghiên cứu và hoàn thiện quy định tranh tụng của bị hại trong TTHS là cần thiết.

2. Quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về tranh tụng của bị hại

Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2021 (Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015) quy định: “Bị hại là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc là cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra”.

Từ quy định trên, có thể hiểu, bị hại là người bị thiệt hại về vật chất, tinh thần hoặc tài sản do tội phạm gây ra. Bị hại là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc là cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra. Nếu bị hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần thì cha, mẹ, người giám hộ của họ tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện hợp pháp của bị hại. Trong trường hợp bị hại chết thì cha, mẹ, vợ, chồng, con của bị hại tham gia tố tụng với tư cách là đại diện hợp pháp của bị hại và có những quyền của bị hại. Nếu bị hại là cơ quan, tổ chức thì đại diện theo pháp luật của cơ quan, tổ chức tham gia với tư cách là đại diện hợp pháp của bị hại. Trường hợp người đại diện theo pháp luật của cơ quan, tổ chức không thể tham gia tố tụng được thì cơ quan, tổ chức phải cử người khác làm đại diện hợp pháp của bị hại và có những quyền của bị hại. Trường hợp cơ quan, tổ chức thay đổi người đại diện thì pháp nhân phải thông báo ngay cho cơ quan có thẩm quyền THTT.

Nội dung cơ bản thể hiện quyền tranh tụng của bị hại được quy định ở khoản 2 Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và được cụ thể hóa tại các điều luật liên quan trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, cụ thể như: (i) Được thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; (ii) Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật để chứng minh sự thiệt hại do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra, được yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền THTT thực hiện các hoạt động để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình; (iii) Được trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền THTT kiểm tra, đánh giá về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đó; (iv) Được đề nghị giám định, định giá tài sản theo quy định của pháp luật để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình; (v) Được thông báo kết quả điều tra, giải quyết vụ án theo các quy định cụ thể tại Điều 232, Điều 235, Điều 239 và Điều 240 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; (vi) Được đề nghị thay đổi người có thẩm THTT, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật nếu cho rằng họ có thể không vô tư khi thực hiện nhiệm vụ; (vii) Được đề nghị áp dụng các biện pháp xử lý hình sự, áp dụng loại và mức hình phạt đối với người bị buộc tội, mức bồi thường thiệt hại, biện pháp bảo đảm bồi thường; (viii) Được tham gia phiên tòa; trình bày ý kiến, đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi bị cáo và người khác tham gia phiên tòa; tranh luận tại phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; xem biên bản phiên tòa; (ix) Tự bảo vệ, nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình; (x) Tham gia các hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; (xi) Được yêu cầu cơ quan có thẩm quyền THTT bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp khác của mình, người thân thích của mình khi bị đe dọa theo các quy định từ Điều 484 đến Điều 490 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; (xii) Được kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án theo các quy định tại Điều 332, Điều 333 và Điều 335 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; (xiii) Được khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền THTT; (xiv) Được thực hiện các quyền khác theo quy định của pháp luật. Trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của bị hại thì bị hại hoặc người đại diện của họ trình bày lời buộc tội tại phiên tòa theo quy định tại Điều 320 và Điều 322 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Bên cạnh đó, trong quá trình TTHS, bị hại phải thực hiện các nghĩa vụ sau: Có mặt theo giấy triệu tập của người có thẩm quyền THTT; trường hợp cố ý vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan thì có thể bị dẫn giải; chấp hành quyết định, yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền THTT.

3. Một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện

3.1. Giai đoạn khởi tố

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 chưa quy định thời điểm cụ thể được công nhận là bị hại và cũng chưa có một điều luật nào thể hiện Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và bị hại là bên thực hiện chức năng buộc tội trong giai đoạn khởi tố. Do vậy, trên thực tế có nhiều trường hợp khi một chủ thể bị hành vi phạm tội xâm phạm trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình thì họ rất thụ động trong tham gia buộc tội để kịp thời xác định sự thật của vụ án. Chính vì địa vị pháp lý chưa rõ ràng nên trong giai đoạn này, bị hại thường chờ lệnh triệu tập của Cơ quan điều tra, về phía Cơ quan điều tra thì cũng chưa có ràng buộc về mặt pháp lý nên có không ít trường hợp xem nhẹ vai trò cung cấp chứng cứ, đồ vật của bị hại. Để giải quyết vấn đề này, theo tác giả, cần bổ sung khoản 1 Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 như sau: “Bị hại là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc là cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra và được Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát xác định từ khi khởi tố vụ án hình sự đến thời điểm kết thúc xét xử”.

Mặt khác, khi VAHS được khởi tố theo yêu cầu bị hại đối với các tội phạm quy định tại các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì việc phân biệt quyền tranh tụng của bị hại so với các VAHS thông thường khác đối với cơ quan THTT cũng gặp nhiều khó khăn. Tác giả kiến nghị bổ sung khoản 2 Điều 155, chuyển khoản 2 và khoản 3 Điều 155 hiện hành thành khoản 3 và khoản 4 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Khoản 2 Điều 155 được bổ sung như sau: “Khi yêu cầu khởi tố vụ án hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này, bị hại hoặc người đại diện của bị hại phải cung cấp đầy đủ chứng cứ, đồ vật, tài liệu và văn bản trình bày lời buộc tội cho Cơ quan điều tra”.

3.2. Giai đoạn điều tra

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 chưa có quy định cho phép bị hại có quyền thu thập chứng cứ để củng cố hồ sơ, đưa ra lời buộc tội của mình. Trên thực tế, có những trường hợp chứng cứ mà bị hại có được hoặc thu thập được bảo đảm tính nguyên vẹn, khách quan và liên quan đến VAHS nhưng Cơ quan điều tra không chấp nhận vì không đúng trình tự và chưa được Bộ luật Tố tụng hình sự cho phép. Chính điều này đã ảnh hưởng đến việc nâng cao chất lượng tranh tụng của bị hại, nhất là những VAHS khởi tố theo yêu cầu của bị hại. Do vậy, để tương thích với kiến nghị ở giai đoạn khởi tố cũng như quy định chung về thu thập chứng cứ, tác giả đề xuất bổ sung mới khoản 2 Điều 88 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định bị hại được quyền thu thập chứng cứ, chuyển khoản 2, khoản 3, khoản 4 và khoản 5 Điều 88 hiện hành theo thứ tự thành khoản 3, khoản 4, khoản 5 và khoản 6 Điều 88 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Nội dung khoản 2 Điều 88 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 nên được bổ sung như sau: “Bị hại hoặc người đại diện của bị hại có quyền gặp người làm chứng, bị hại khác và những người khác biết về vụ án để hỏi, nghe họ trình bày về những vấn đề liên quan đến vụ án; tự mình thu thập hoặc đề nghị tổ chức, cá nhân cung cấp đồ vật, thông tin, dữ liệu điện tử để phục vụ cho hoạt động tranh tụng của mình”.

Trong giai đoạn điều tra, quy định việc triệu tập lấy lời khai của bị hại tại Điều 188 được dẫn chiếu theo quy định của triệu tập lấy lời khai đối với người làm chứng từ Điều 185 đến Điều 187 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 là chưa hợp lý, nhất là đối với trường hợp bị hại yêu cầu khởi tố VAHS. Bởi vì, địa vị pháp lý, quyền năng, vai trò, mục đích tham gia tố tụng, quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại bị hành vi phạm tội xâm phạm cũng như đặc điểm, hoàn cảnh tâm lý của hai chủ thể này khác nhau. Theo tác giả, một trong những yếu tố làm tăng tính tranh tụng, nhất là chất lượng buộc tội của bị hại trong giai đoạn này đối với vụ án được khởi tố theo yêu cầu của bị hại là quy định thêm nghĩa vụ của bị hại. Do đó, tác giả kiến nghị sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 188 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 như sau: “Bị hại hoặc người đại diện của bị hại trực tiếp yêu cầu khởi tố vụ án hình sự phải có mặt theo lệnh triệu tập, lấy lời khai của Cơ quan điều tra; trường hợp cố ý vắng mặt, Cơ quan điều tra giải quyết theo quy định tại điểm d, khoản 1 Điều 229 của Bộ luật này”. Theo đó, kiến nghị bổ sung điểm d khoản 1 Điều 229, Bộ luật Tố tụng hình sự về trường hợp tạm đình chỉ điều tra như sau: “Bị hại hoặc người đại diện của bị hại cố ý vắng mặt theo lệnh triệu tập, lấy lời khai của Cơ quan điều tra, không vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan”.

Mặt khác, quy định về đối chất, trong trường hợp có bị hại tham gia thì thứ tự giữa các chủ thể tham gia đối chất lẫn nhau cũng chưa được quy định. Theo tác giả, việc bỏ ngỏ quy định này sẽ đánh đồng địa vị pháp lý và vai trò giữa người làm chứng, đương sự với bị hại. Để phân định rõ địa vị pháp lý, nâng cao vai trò tranh tụng của bị hại và làm cơ sở củng cố thông tin, chứng cứ, hoàn thiện cơ sở pháp lý ngay trong hoạt động đối chất, trong trường hợp những người tham gia đối chất với nhau có mặt bị hại thì bị hại phải được hỏi trước và không giới hạn số lần hỏi. Do vậy, kiến nghị bổ sung đoạn 2 thuộc khoản 3 Điều 189 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: “Trong quá trình đối chất, điều tra viên có thể đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật có liên quan; có thể để cho những người tham gia đối chất hỏi lẫn nhau; trường hợp có bị hại tham gia thì bị hại có quyền hỏi trước và không giới hạn số lần hỏi; câu hỏi và trả lời của những người này phải ghi vào biên bản”.

3.3. Giai đoạn truy tố

Qua nghiên cứu, tác giả thấy rằng, giai đoạn truy tố VAHS là giai đoạn ít được Bộ luật Tố tụng hình sự quy định về tranh tụng của bị hại nhất. Trong quá trình TTHS thì truy tố là giai đoạn mà Viện kiểm sát là cơ quan đại diện cho Nhà nước chính thức buộc tội, ban hành quyết định truy tố bị can trước Tòa án bằng bản cáo trạng. Do vậy, kể cả kiểm sát viên và bị hại đều có chung tâm lý rằng, truy tố là giai đoạn Nhà nước buộc tội người phạm tội trong quan hệ pháp luật hình sự nên không đề cao yếu tố tranh tụng của bị hại. Thực tiễn cũng cho thấy, trong giai đoạn truy tố giữa kiểm sát viên và người tham gia tố tụng rất ít gặp nhau; hầu như không có trường hợp nào bị hại được triệu tập, dẫn giải trong giai đoạn này. Theo đó, trong giai đoạn này, bị hại thường chỉ thụ động nhận các thông báo từ Viện kiểm sát theo quy định tại khoản 2 Điều 239, khoản 2 Điều 240 và khoản 3 Điều 249 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Để tăng cường hoạt động tranh tụng của bị hại trong giai đoạn truy tố, tác giả kiến nghị bổ sung khoản 2 Điều 243 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 như sau: “Trước khi ban hành quyết định truy tố bị can bằng bản cáo trạng trước Tòa án, Viện kiểm sát triệu tập bị hại, cho bị hại xem nội dung cáo trạng, hỏi ý kiến của bị hại về nội dung cáo trạng; nếu bị hại đồng ý hoặc không có ý kiến thì Viện kiểm sát ban hành cáo trạng; trường hợp bị hại không đồng ý với nội dung cáo trạng, Viện kiểm sát yêu cầu bị hại nêu rõ lý do, bổ sung đồ vật, tài liệu chứng cứ nếu có và ghi vào biên bản, bổ sung hồ sơ vụ án và ban hành quyết định truy tố bị can”.

3.4. Giai đoạn xét xử

Khi tiến hành thủ tục chuẩn bị xét xử, nếu bị hại hoặc người đại diện của họ vắng mặt thì Hội đồng xét xử có thể hoãn phiên tòa hoặc vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quy định này còn chung chung và có thể dẫn đến những quyết định cảm tính, chủ quan và tùy nghi của Hội đồng xét xử; hạn chế trực tiếp đến việc phát huy tính tranh tụng của bị hại tại phiên tòa, nhất là phiên tòa xét xử vụ án mà bị hại là người yêu cầu khởi tố. Để khắc phục hạn chế này, tác giả kiến nghị tách Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thành hai điều luật như sau:

“Điều 292a. Sự có mặt của bị hại hoặc người đại diện của họ

1. Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử khi bị hại vắng mặt trong trường hợp ở giai đoạn truy tố, bị hại đã đồng ý hoặc không có ý kiến với nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát hoặc ở giai đoạn truy tố, bị hại không đồng ý với nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhưng có căn cứ khẳng định sự vắng mặt của bị hại không làm ảnh hưởng đến sự thật khách quan của vụ án.

2. Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa khi bị hại vắng mặt trong trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của bị hại.

3. Trường hợp có nhiều bị hại trong vụ án được khởi tố theo yêu cầu bị hại, nếu một trong số bị hại không yêu khởi tố vụ án vắng mặt thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử”.

“Điều 292b. Sự có mặt của đương sự hoặc người đại diện của họ

Nếu đương sự hoặc người đại diện của họ vắng mặt thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử và tách phần bồi thường thiệt hại đối với đương sự để xét xử sau theo quy định của pháp luật”.

Đối với thủ tục xét hỏi, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cũng chưa quy định bị hại hoặc người đại diện của họ có quyền được trình bày lời buộc tội trước phiên tòa hay không. Có thể thấy, việc bỏ ngỏ quy định này là một thiếu sót không nhỏ khi cụ thể hóa nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm quy định tại Điều 26 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quan điểm của tác giả là, Bộ luật Tố tụng hình sự cần bổ sung quy định về thời điểm bị hại được quyền trình bày lời buộc tội trước phiên tòa theo hướng sửa đổi khoản 4 Điều 320 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 như sau: “Bị hại hoặc người đại diện của họ có quyền trình bày lời buộc tội tại phiên tòa sau khi kiểm sát viên trình bày luận tội”.

Ngoài ra, để bù đắp chi phí và chi tiêu cho sinh hoạt cá nhân trong thời gian tạm ngưng lao động để tham gia tố tụng cũng như khích lệ các bị hại về vật chất, tinh thần và nâng cao trách nhiệm trong quá trình tham gia tố tụng, tác giả kiến nghị sửa đổi điểm o khoản 2 Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 như sau: “Được thanh toán chi phí gấp hai lần so với quy định của pháp luật trong thời gian phải nghỉ lao động để tham gia hoạt động tố tụng”./.

Nguyễn Văn Quý

Trường Sĩ quan Lục quân 2

Tài liệu tham khảo:

1. Công ước của Liên Hợp quốc về quyền dân sự và chính trị năm 1966 (ICCPR).

2. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.

3. Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.

4. Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

5. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

6. Trần Tuấn Vũ (2020), “Tranh tụng của bị hại: Nghiên cứu so sánh luật tố tụng hình sự Liên bang Nga và Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh.

7. Nguyễn Phi Hùng (2023), “Quy định về tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự và một số kiến nghị hoàn thiện”, Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử, https://tapchitoaan.vn/quy-dinh-ve-tranh-tung-tai-phien-toa-so-tham-vu-an-hinh-su-va-mot-so-kien-nghi-hoan-thien9728.html, truy cập ngày 01/3/2024.

8. Lưu Thị Ngọc Lan (2022), “Về người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại trong tố tụng hình sự” Tạp chí Luật sư Việt Nam điện tử, https://lsvn.vn/ve-nguoi-bao-ve-quyen-va-loi-ich-hop-phap-cua-bi-hai-trong-to-tung-hinh-su1668447441.html, truy cập ngày 01/3/2024.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 400), tháng 3/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích những bất cập trong quy định của pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con, từ đó, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy quyền được giáo dục của con trong gia đình được thực hiện hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển của trẻ em và xã hội trong bối cảnh hiện nay.
Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu một số học thuyết và phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật, chỉ ra những bất cập tồn tại trong quy định pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam chưa phù hợp với các học thuyết này. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng trong thời gian tới.
Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Tóm tắt: Cải cách thủ tục hành chính là yếu tố quan trọng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính, thúc đẩy cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đặc biệt là tạo động lực cho đổi mới sáng tạo. Nghiên cứu này phân tích sự cần thiết của cải cách thủ tục hành chính và thực trạng cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam trong việc khơi thông động lực đổi mới sáng tạo, từ đó, đề xuất giải pháp cải cách.
Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích quá trình phát triển tư tưởng về mối quan hệ giữa luật pháp và kinh tế học, tập trung vào trường phái kinh tế học pháp luật với phương pháp phân tích chi phí - lợi ích làm nổi bật vai trò quan trọng của việc cân nhắc các tác động hành vi cùng hiệu quả phân bổ nguồn lực trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật. Trên cơ sở đó, đề xuất áp dụng phương pháp kinh tế học pháp luật vào quy trình lập pháp tại Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả, tính minh bạch, sự công bằng xã hội và góp phần thúc đẩy cải cách pháp luật bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chuyển đổi số.
Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Tranh chấp lao động cá nhân là tranh chấp phổ biến nhất trong quan hệ lao động và ngày càng diễn biến phức tạp, cùng với đó, nhu cầu về cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả, linh hoạt và bảo đảm quyền lợi cho các bên cũng ngày càng tăng trong lĩnh vực lao động. Trọng tài lao động với tính chất độc lập và được thiết kế theo cơ chế ba bên, có tiềm năng trở thành phương thức giải quyết tranh chấp lao động cá nhân hiệu quả. Bài viết phân tích thực trạng pháp luật hiện hành về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.
Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích các dấu hiệu nhận diện đặc trưng của tài sản số, những khó khăn, bất cập khi thiếu khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số, kinh nghiệm của Hoa Kỳ và giá trị tham khảo cho Việt Nam. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng khung pháp lý vững chắc giúp Việt Nam có cơ hội phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực công nghệ, bảo vệ quyền lợi của người sở hữu tài sản số, tận dụng tối đa tiềm năng từ tài sản số và tiếp tục vững bước trên con đường phát triển kinh tế số.
Trách nhiệm pháp lý của người có ảnh hưởng trong hoạt động quảng cáo nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Trách nhiệm pháp lý của người có ảnh hưởng trong hoạt động quảng cáo nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Tóm tắt: Bài viết phân tích, làm rõ khái niệm người có ảnh hưởng, tình hình thực tiễn về mô hình quảng cáo thông qua người có ảnh hưởng và các hành vi quảng cáo gây ảnh hưởng đến quyền lợi của người tiêu dùng. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của người có ảnh hưởng trong hoạt động quảng cáo nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Phát huy vai trò và trách nhiệm của thanh niên trong việc hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự trong kỷ nguyên mới

Phát huy vai trò và trách nhiệm của thanh niên trong việc hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên mới với những yêu cầu đặt ra về xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng như yêu cầu tháo gỡ những “điểm nghẽn”, “nút thắt” có nguyên nhân từ quy định của pháp luật hiện nay, việc hoàn thiện pháp luật nói chung và pháp luật về thi hành án dân sự nói riêng là cấp thiết, đặc biệt, dự án Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi) dự kiến được Quốc hội khóa XV thông qua tại kỳ họp thứ 10 vào tháng 10/2025. Trước bối cảnh đó, với vai trò là trụ cột, là nguồn lực chủ yếu để xây dựng và phát triển lực lượng sản xuất mới, đồng thời là đội ngũ tiên phong tham gia các lĩnh vực mới, thanh niên ngành thi hành án dân sự cần tiếp tục phát huy vai trò và trách nhiệm trong việc tham gia vào công tác hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự.
Hoạt động giám sát của Quốc hội trong thực hiện điều ước quốc tế - Một số tồn tại, hạn chế và kiến nghị, đề xuất hoàn thiện

Hoạt động giám sát của Quốc hội trong thực hiện điều ước quốc tế - Một số tồn tại, hạn chế và kiến nghị, đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá một số tồn tại, hạn chế trong hoạt động giám sát của Quốc hội Việt Nam đối với việc thực hiện điều ước quốc tế, từ đó, đưa ra một số kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp luật, bảo đảm công tác giám sát thực hiện điều ước quốc tế ngày càng đi vào thực chất, hiệu quả.

Theo dõi chúng tôi trên: