Thứ hai 25/05/2026 15:12
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện quy trình xây dựng án lệ ở Việt Nam hiện nay

Ở các quốc gia trong hệ thống pháp luật Common Law, án lệ cũng được hình thành thông qua con đường xét xử bởi thẩm phán, nhưng không chỉ dừng lại ở sự sáng tạo của thẩm phán khi giải thích các quy định của pháp luật thành văn mà còn là sự sáng tạo của thẩm phán đối với việc giải quyết các vụ việc mà chưa có quy định của cơ quan quyền lực nhà nước, các phán quyết đó có thể được đưa ra bởi các lập luận của thẩm phán dựa trên công lý, lẽ công bằng và lẽ phải nhằm bảo vệ tối đa quyền lợi của người dân.

1. Xây dựng án lệ và quy trình xây dựng án lệ ở Việt Nam hiện nay
1.1. Xây dựng án lệ
Xây dựng án lệ là hoạt động do chủ thể có thẩm quyền tiến hành theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định mà kết quả là tạo ra các án lệ. Với cách hiểu này, xây dựng án lệ có những đặc điểm như sau:
Một là, xây dựng án lệ là một hoạt động xây dựng pháp luật, bởi lẽ nó tạo ra các quyết định, bản án sẽ trở thành cơ sở, căn cứ để các tòa án dựa vào đó giải quyết các vụ việc có tình tiết tương tự về sau, bởi thế các án lệ được tạo ra cũng chính là một hình thức pháp luật, và hoạt động xây dựng án lệ cũng mang các đặc điểm của hoạt động xây dựng pháp luật.

Hai là, xây dựng án lệ được tiến hành bởi cơ quan có thẩm quyền do pháp luật qui định. Theo pháp luật Việt Nam hiện hành, ở Việt Nam, cơ quan có thẩm quyền xây dựng án lệ là cơ quan tư pháp. Án lệ được làm ra bởi các thẩm phán trong quá trình xét xử, giải quyết các vụ việc cụ thể chứ không phải thông qua việc đưa ra các quy định mang tính khái quát như văn bản qui phạm pháp luật do cơ quan lập pháp ban hành. Pháp luật thành văn thường mang tính khái quát cao, không thể bao quát hết tất cả các tình huống xảy ra trong thực tiễn, đặc biệt là với nhà nước mà trình độ lập pháp của các cơ quan quyền lực nhà nước còn khá hạn chế như Việt Nam. Bởi vậy, các thẩm phán trở thành những người đóng vai trò giải thích pháp luật bởi thông qua quá trình xét xử của mình, các thẩm phán phải chi tiết hóa các nguyên tắc, các quy định chung để áp dụng đối với những vụ việc cụ thể mà họ đang giải quyết.

Ở các quốc gia trong hệ thống pháp luật Common Law, án lệ cũng được hình thành thông qua con đường xét xử bởi thẩm phán, nhưng không chỉ dừng lại ở sự sáng tạo của thẩm phán khi giải thích các quy định của pháp luật thành văn mà còn là sự sáng tạo của thẩm phán đối với việc giải quyết các vụ việc mà chưa có quy định của cơ quan quyền lực nhà nước, các phán quyết đó có thể được đưa ra bởi các lập luận của thẩm phán dựa trên công lý, lẽ công bằng và lẽ phải nhằm bảo vệ tối đa quyền lợi của người dân. Những án lệ đó được gọi là “luật làm ra bởi thẩm phán”, là sự ủy quyền của cơ quan quyền lực cho các cơ quan tư pháp trong hoạt động lập pháp. Đây là điểm rất quan trọng trong lý luận về án lệ, và với sự thừa nhận việc sáng tạo ra pháp luật của thẩm phán thì giá trị của án lệ sẽ được phát huy hơn rất nhiều, đặc biệt là với vai trò là nguồn luật bổ khuyết cho luật thành văn. Tuy nhiên, ở Việt Nam, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay với trình độ chuyên môn, năng lực và phẩm chất đạo đức của thẩm phán cũng như chất lượng hoạt động xét xử ở Việt Nam thì chưa thể ứng dụng điều này khi bước đầu xây dựng mô hình và đưa án lệ vào sử dụng. Song nếu sau này, khi đã đáp ứng được những điều kiện nhất định thì việc xem xét công nhận việc thẩm phán sáng tạo pháp luật cũng là điều hoàn toàn khả thi.

Ba là, bởi án lệ được tạo ra bởi các thẩm phán trong quá trình xét xử nên nó phải được tồn tại dưới dạng bản án hoặc quyết định của Tòa án. Song, án lệ phải tất cả các phán quyết của Tòa án mà chỉ bao gồm những bản án, quyết định được mọi người thừa nhận mà chứa đựng trong đó sự lập luận nhằm giải thích, làm rõ các quy định của pháp luật còn có sự nhận thức chưa thống nhất, từ đó có giá trị là căn cứ để các thẩm phán giải quyết các vụ việc sau có tình tiết tương tự. Chỉ khi đó, án lệ mới trở nên thực sự cần thiết và phát huy đúng vai trò của nó là nguồn luật bổ trợ cho văn bản quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật.

Bốn là, án lệ phải được xây dựng theo một trình tự, thủ tục nhất định do pháp luật quy định. Đặc biệt là ở Việt Nam hiện nay, năng lực và trình độ của các thẩm phán còn chưa thực sự tốt và đồng đều, lại mới ở những bước đầu của việc đưa án lệ vào sử dụng chính thức thì cần thiết chúng ta phải có một hệ thống tiêu chí lựa chọn và quy trình xây dựng án lệ thật sự khoa học, chặt chẽ, hợp lý để hoạt động xây dựng án lệ đạt được hiệu quả tốt nhất.

Năm là, kết quả của hoạt động xây dựng án lệ là tạo ra được các án lệ có chất lượng, đáp ứng được đúng các tiêu chí và yêu cầu đối với án lệ ở nước ta hiện nay.

Xây dựng án lệ là hoạt động rất quan trọng cho sự thừa nhận và sử dụng án lệ ở Việt Nam hiện nay. Chỉ khi xây dựng được các án lệ tốt, đúng với bản chất án lệ, đúng với yêu cầu và đáp ứng được sự đòi hỏi cả về lý luận và thực tiễn thì việc áp dụng án lệ mới có thể đạt được kết quả cao. Bởi đây là hoạt động cần phải tiến hành thường xuyên, khoa học, liên tục, đảm bảo đáp ứng yêu cầu cũng như phát huy được tính năng động, kịp thời của án lệ.

1.2. Quy trình xây dựng án lệ ở Việt Nam hiện nay

Theo quy định của Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP ngày 28/10/2015 về “Quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ” thì quy trình xây dựng án lệ ở Việt Nam hiện nay cơ bản bao gồm những giai đoạn sau: (i) Rà soát, phát hiện bản án, quyết định đề xuất phát triển thành án lệ[1]; Lấy ý kiến đối với bản án, quyết định được đề xuất lựa chọn, phát triển thành án lệ[2]; (iii) Thông qua án lệ (Điều 6 của Nghị quyết số 03)[3]; (iv) Công bố án lệ[4] ; (v) Vấn đề huỷ bỏ, thay thế án lệ[5].

2. Đánh giá về quy trình xây dựng án lệ ở Việt Nam hiện nay

2.1. Những kết quả đạt được

Thứ nhất, các tiêu chí để lựa chọn án lệ đã được xác định rõ ràng

Những tiêu chí do Hội đồng thẩm phán Tòa án tối cao đưa ra đã phần nào phản ánh được đúng bản chất của án lệ, đó phải là những bản án, quyết định chứa đựng sự lập luận để giải thích các vấn đề, các quy định còn khó hiểu; và những phán quyết ấy phải là những phán quyết “có tính chuẩn mực”, nhận được sự đồng tình trong xã hội cũng như có giá trị hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật.

Thứ hai, quy trình lựa chọn và công bố án lệ tương đối đầy đủ, phù hợp với điều kiện của Việt Nam hiện nay cũng như phù hợp với thông lệ quốc tế

Theo quy định tại Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP ngày 28/10/2015 về “Quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ”, thì không phải tất cả các bản án, quyết định của các Tòa án đều đương nhiên trở thành án lệ mà phải trải qua quy trình lựa chọn với nhiều giai đoạn, trong đó quan trọng nhất là sự lựa chọn của các cơ quan xét xử. Thêm vào đó, chủ thể có quyền rà soát và trách nhiệm rà soát là rất rộng, điều này góp phần bảo đảm không có những bản án, quyết định của Tòa án đáp ứng các tiêu chí lựa chọn làm án lệ lại có thể bị bỏ sót. Với tình hình của Việt Nam hiện nay đang có sự thay đổi và biến động nhanh chóng của đời sống xã hội thì việc quy định định kỳ 06 tháng một lần tiến hành rà soát các bản án, quyết định của Tòa án là hợp lý, kịp thời đưa ra các án lệ để hướng dẫn áp dụng pháp luật một cách thống nhất, phát huy vai trò linh hoạt và là nguồn luật bổ sung của pháp luật thành văn.

Thứ ba, việc hủy bỏ án lệ cũng đã được quy định

Cũng như bất kỳ một quy định nào khác của pháp luật, một án lệ cụ thể nào đó không thể tồn tại vĩnh viễn, ngược lại nó có thể mất hiệu lực khi bị bãi bỏ hoặc thay thế Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP về “Quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ”, ngày 06/04/2016 tại Điều 9 quy định cụ thể về các trường hợp hủy bỏ, thay thế án lệ. Theo đó, án lệ sẽ bị hủy bỏ trong hai trường hợp là do sự thay đổi của pháp luật thành văn mà án lệ không còn phù hợp thì đương nhiên bị hủy bỏ; do chuyển biến tình hình mà án lệ không còn phù hợp nhưng chưa có quy định mới thì trường hợp này Hội đồng thẩm phán Tòa án tối cao có trách nhiệm xem xét hủy bỏ án lệ. Những trường hợp bãi bỏ án lệ đã quy định ở nước ra hiện nay cũng hoàn toàn phù hợp với kinh nghiệm và thông lệ quốc tế.

Thứ tư, việc lựa chọn án lệ để áp dụng trong hoạt động xét xử

Trên cơ sở Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP về “Quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ” ngày 06/04/2016 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã lựa chọn được sáu án lệ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Quyết định số 220/QĐ-CA công bố sáu án lệ đó, bao gồm các án lệ trong các lĩnh vực hình sự, dân sự (kiện đòi tài sản), hôn nhân gia đình, đất đai, thừa kế (bao gồm cả thừa kế có yếu tố nước ngoài) và quy định các Tòa án trong hệ thống Tòa án phải có trách nhiệm nghiên cứu và áp dụng các bản án lệ trong xét xử kể từ ngày 01/6/2016.

2.2. Những tồn tại, hạn chế

Một là, về chủ thể xây dựng án lệ

Theo quy định của pháp luật thì hiện nay ở Việt Nam chỉ có Hội đồng thẩm phán Tòa án tối cao là chủ thể có thẩm quyền xây dựng án lệ. Tuy nhiên, án lệ là một loại nguồn rất đa dạng bởi nó xuất phát từ thực tiễn xét xử, từ các vụ việc thực tế và cũng dùng để giải quyết các vụ việc xảy ra trên thực tế. Vì thế, việc pháp luật qui định chỉ Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có thẩm quyền lựa chọn và công bố án lệ có thể dẫn tới sợ quá tải trong hoạt động của cơ quan này, từ đó có thể kéo theo tình trạng kém chất lượng của các án lệ, hoặc bỏ sót những bản án cũng có các nội dung cần thiết nhưng lại không được lựa chọn làm án lệ.

Cũng theo quy định của pháp luật, án lệ hình thành trong quá trình Tòa án áp dụng pháp luật, trong đó chứa đựng sự giải thích pháp luật. Tuy nhiên, theo quy định Hiến pháp năm 2013, Tòa án chỉ có chức năng xét xử, còn giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh thuộc thẩm quyền của Ủy ban thường vụ Quốc hội[6]. Do vậy, việc Tòa án có thẩm quyền xây dựng án lệ - sản phẩm của giải thích pháp luật, là không phù hợp các quy định của Hiến pháp. Đây chính là sự mâu thuẫn lớn cần giải quyết trong vấn đề quy định thẩm quyền xây dựng án lệ ở Việt Nam hiện nay.

Hai là, về tiêu chí lựa chọn án lệ

Trước hết, tiêu chí đầu tiên là án lệ được lựa chọn phải “chứa đựng lập luận để làm rõ các quy định của pháp luật còn nhiều cách hiểu khác nhau”[7]. Tuy nhiên ở Điều 1 Nghị quyết này lại quy định “án lệ là những lập luận, phán quyết trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật”. Như vậy, đã không có sự thống nhất về quan niệm án lệ được sử dụng ngay giữa những quy định của Hội đồng thẩm phán Tòa án tối cao.

Theo tiêu chí thứ nhất này thì chỉ có những lập luận mà hàm chứa trong đó sự giải thích pháp luật của tòa án về một quy định pháp luật còn nhiều cách hiểu khác nhau mới được lựa chọn để trở thành án lệ, tức là chỉ chấp nhận án lệ hình thành trong quá trình giải thích pháp luật. Điều này chưa thực sự phù hợp với lý luận về án lệ đó là án lệ được tạo ra để lấp đầy các “lỗ hổng” của pháp luật thành văn, nó không chỉ bao gồm các lập luận để giải thích các quy định của pháp luật mà còn là những lập luận để giải quyết những vấn đề mà pháp luật chưa có quy định. Vì thế, nếu đưa ra tiêu chí án lệ phải là những lập luận giải thích pháp luật thì vô hình chung đã bỏ qua một bộ phận lớn những án lệ quan trọng giải quyết các vấn đề pháp luật chưa có quy định. Nói cách khác, ở Việt Nam hiện chỉ chấp nhận loại án lệ giải thích pháp luật chứ không chấp nhận án lệ lấp lỗ hổng khi pháp luật thành văn chưa quy định. Điều này đồng nghĩa với việc pháp luật không trao quyền sáng tạo pháp luật cho các thẩm phán, tất nhiên sự sáng tạo ấy phải dựa trên những nguyên tắc và những giới hạn nhất định.

Tiêu chí thứ hai mà Hội đồng thẩm phán Tòa án tối cao đưa ra để một bản án được lựa chọn làm án lệ đó là, bản án phải “có tính chuẩn mực”. Song như thế nào là chuẩn mực, dựa vào tiêu chí nào để đánh giá một bản án là chuẩn mực hay không thì chưa được hướng dẫn và làm rõ trong Nghị quyết này cũng như chưa tìm thấy trong các văn bản pháp luật hoặc văn bản hướng dẫn khác.

Ba là, về trình tự, thủ tục xây dựng án lệ

Theo quy định của Nghị quyết số 03/2015-NQ-HĐTP về quy trình lựa chọn và công bố án lệ, để tạo ra được một án lệ cụ thể cần thiết phải thông qua quy trình, thủ tục gồm những bước rất chặt chẽ. Tuy nhiên, thực tế vẫn tồn tại một số hạn chế như: Thiếu các ràng buộc pháp lý đối với các chủ thể có trách nhiệm rà soát các bản án, quyết định của Tòa án; việc lấy ý kiến đối với bản án, quyết định được đề xuất lựa chọn làm án lệ còn nhiều hạn chế.

Bốn là, về bãi bỏ, thay thế án lệ

- Đối với trường hợp bãi bỏ án lệ, được quy định tại khoản 1 Điều 9 Nghị quyết số 03/2015-NQ/HĐTP: “Trường hợp do sự thay đổi của Luật, Nghị quyết của Quốc hội, Pháp lệnh, Nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Nghị định của Chính phủ mà án lệ không còn phù hợp thì án lệ đương nhiên bị hủy bỏ”. Tuy nhiên, một án lệ như thế nào thì bị coi là “không còn phù hợp” với các văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội hay Chính phủ ban hành? Tiêu chí nào để đánh giá sự phù hợp hoặc không phù hợp ấy? Chủ thể nào là chủ thể có thẩm quyền rà soát, đánh giá về tính phù hợp hay không của án lệ so với các văn bản quy phạm pháp luật, đặc biệt là các văn bản quy phạm pháp luật mới ban hành? Đây là những vấn đề cần thiết mà Tòa án tối cao phải làm rõ để việc áp dụng án lệ sau này không có những sai lầm không đáng có.

Hơn thế, mặc dù quy định các trường hợp án lệ bị hủy bỏ, tuy nhiên, Nghị quyết này lại không có quy định cụ thể nào về việc công bố việc án lệ bị hủy bỏ cũng như quy định về thời điểm không còn hiệu lực của án lệ bị hủy bỏ. Như vậy, nếu trong trường hợp có quy định của pháp luật mới ban hành làm quyết định trong án lệ không còn phù hợp và đương nhiên bị hủy bỏ thì thời điểm nào được xác là thời điểm án lệ không còn hiệu lực, là thời điểm quy định mới được ban hành hay thời điểm quy định mới đó phát sinh hiệu lực? Nếu một vụ việc xảy ra trong thời gian đã có quy định mới, nhưng quy định ấy chưa phát sinh hiệu lực thì còn có thể áp dụng án lệ để giải quyết hay không? Đây là một thiếu sót trong quy định về bãi bỏ án lệ ở nước ta hiện nay. Bên cạnh đó thì dù là án lệ đương nhiên bị “hủy bỏ” song Tòa án tối cao cũng nên công bố công khai, có thể là đối với từng án lệ hoặc theo danh sách những án lệ đương nhiên bị hủy bỏ theo định kỳ khi có các văn bản hay quy định mới ra đời làm mất hiệu lực của án lệ để người dân có thể dễ theo dõi và việc sử dụng cũng thuận lợi hơn.

- Với quy định về trường hợp xem xét hủy bỏ, thay thế án lệ do Hội đồng xét xử không áp dụng án lệ, Nghị quyết số 03/2015 của Hội đồng thẩm phán yêu cầu với những trường hợp này thì ngay sau khi tuyên án, hội đồng xét xử phải gửi kiến nghị thay thế án lệ về Tòa án nhân dân tối cao. Quy định có thể hiểu, Hội đồng thẩm phán muốn nói tới những trường hợp mà hội đồng xét xử phát hiện, nhận thấy những án lệ không còn phù hợp, không thể áp dụng và phát huy giá trị nữa nên không áp dụng thì cần kiến nghị ngay với Tòa án tối cao. Song để thể hiện được tinh thần ấy thì điều này cần được diễn đạt chi tiết, cụ thể hơn để tránh sự nhầm lẫn, hiểu sai.

3. Một số giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động xây dựng án lệ ở Việt Nam hiện nay.

3.1. Cần thống nhất nhận thức về án lệ

Trước hết, để xây dựng được hệ thống án lệ phát triển, có chất lượng và có giá trị sử dụng cao trên thực tế thì điều quan trọng hàng đầu là phải hoàn thiện các vấn đề nhận thức về lý luận. Chúng ta không chỉ cần nâng cao hiểu biết về chức năng, vai trò của án lệ trong khoa học pháp lý Việt Nam mà điều đặc biệt quan trọng hơn là cần có nhận thức đúng đắn về án lệ. Cần phải đưa ra một cách hiểu thống nhất và đúng đắn về bản chất án lệ bởi chỉ khi có nhận thức đúng về án lệ thì chúng ra mới có thể xây dựng những án lệ đúng nghĩa của nó.

Hiện nay, hầu hết các quan niệm về án lệ ở nước ta đều chỉ công nhận án lệ hình thành trong quá trình giải thích pháp luật, là những bản án chưa đựng các lập luận, phân tích để giải thích các quy định của pháp luật còn nhiều cách hiểu chưa thống nhất mà không thừa nhận vai trò sáng tạo pháp luật của thẩm phán. Bên cạnh đó, chúng ta cũng chưa có sự nhận thức rõ ràng khi tìm hiểu về án lệ và đặt nó trong mối quan hệ với các khái niệm tương đồng, vẫn còn có sự nhầm lẫn một số khái niệm.

Ngay trong Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, ở Điều 1 khi đưa ra khái niệm án lệ thì chỉ định nghĩa một cách chung chung là những lập luận, phán quyết trong bản án của Tòa án để giải quyết một vụ việc cụ thể, tức có thể bao gồm cả những lập luận giải thích pháp luật hoặc những lập luận dựa vào công lý, lẽ phải để giải quyết vụ việc đó (sự sáng tạo pháp luật của tòa án). Tuy nhiên đến Điều 2, khi quy định về tiêu chí lựa chọn án lệ thì tiêu chí đầu tiên mà Nghị quyết này đưa ra lại là: “phải chứa đựng các lập luận để làm rõ quy định của pháp luật còn nhiều cách hiểu khác nhau”, tức là chỉ thừa nhận những án lệ có chứa đựng sự giải thích pháp luật. Như thế, ngay trong văn bản pháp luật chính thức của chúng ta cũng chưa có sự thống nhất về án lệ.

Chính vì vậy, điều đầu tiên chúng ra cần làm hiện nay là phải thống nhất quan điểm về án lệ và hiểu án lệ đúng bản chất của nó để lựa chọn đúng bản án là án lệ có chất lượng. Thiết nghĩ, hiện nay với tình hình xã hội còn nhiều biến đổi, mới bước đầu chính thức công nhận và sử dụng án lệ trong xét xử, các điều kiện, đặc biệt là điều kiện về nhân lực mà cụ thể là các thẩm phán còn chưa bảo đảm thì có thể chỉ thừa nhận án lệ chứa đựng sự giải thích pháp luật. Trong thời gian tới, khi quan niệm về án lệ cũng như hệ thống án lệ đã phát triển, trình độ của các thẩm phán cũng như các điều kiện khác có thể đáp ứng thì cần phải mở rộng quan niệm án lệ không chỉ là những sự giải thích pháp luật mà còn là những sáng kiến pháp luật mới hình thành trong quá trình xét xử, đưa án lệ về đúng với bản chất của nó.

Để làm được điều này thì nghiên cứu và đào tạo luật chính là giải pháp để hình thành kiến thức pháp lý nền tảng cho đội ngũ thẩm phán, hội thẩm, luật gia và chuyên gia pháp lý. Cần phải xây dựng các chương trình đào tạo, các buổi hội thảo, tọa đàm liên quan đến án lệ để tuyên truyền cũng như thống nhất và mở rộng quan niệm án lệ ở nhiều góc độ tiếp cận khác nhau. Các cơ sở đào tạo luật cần cải cách chương trình và phương thức đào tạo, bổ sung các nội dung liên quan đến lý luận về án lệ, phân tích liên hệ các vụ án, án lệ trong thực tiễn.

3.2. Hoàn thiện các quy định của pháp luật về án lệ

Thừa nhận và chính thức áp dụng án lệ ở Việt Nam đặt ra yêu cầu phải sửa đổi các quy định của Hiến pháp năm 2013 và các văn bản khác có liên quan đến án lệ:

Thứ nhất, cần sửa đổi quy định về thẩm quyền giải thích pháp luật trong Hiến pháp năm 2013. Theo đó Điều 102 Hiến pháp năm 2013 cần sửa đổi theo hướng ghi nhận thẩm quyền giải thích pháp luật cho Tòa án nhân dân tối cao. Có như vậy mới đảm bảo vai trò của Tòa án trong việc tạo lập án lệ, vì án lệ luôn hàm chứa việc giải thích pháp luật. Đồng thời, việc quy định thẩm quyền này cho Tòa án nhân dân tối cao sẽ giúp tăng thêm tính độc lập và nâng cao chất lượng xét xử của Tòa án.

Thứ hai, cần hoàn thiện quy định pháp luật về quy trình lựa chọn và công bố án lệ. Như đã phân tích ở trên, Nghị quyết 03/2015/NQ-HĐTP dù đã đưa ra những quy định chi tiết về quy trình lựa chọn và công bố án lệ song vẫn còn có những điểm chưa thực sự rõ ràng cần khắc phục, bao gồm:

(i) Quy định chi tiết hơn đối với các tiêu chí lựa chọn án lệ theo hướng mở rộng đối tượng là các phán quyết của Tòa án áp dụng các nguồn khác ngoài văn bản quy phạm pháp luật để lựa chọn làm án lệ. Đặc biệt là với tiêu chí bản án, quyết định phải “mang tính chuẩn mực”, Tòa án tối cao cần có sự giải thích và hướng dẫn rõ ràng dựa trên những tiêu chí nào, mức độ ra sao thì một bản án, quyết định được coi là có tính chuẩn mực? Về nội dung, hình thức của bản án, quyết định của Tòa án phải đáp ứng được các yêu cầu gì? Chỉ khi có những tiêu chí và sự quy định rõ ràng như vậy thì các Tòa án cũng như các cá nhân, tổ chức trong xã hội mới có thể xem xét để lựa chọn và đề xuất những bản án, quyết định có đáp ứng các tiêu chí này làm án lệ và khi đó, sự lựa chọn của Hội đồng thẩm phán Tòa án tối cao cũng mang tính thuyết phục hơn.

(ii) Pháp luật cần có các quy định về trách nhiệm pháp lý đối với những người có thẩm quyền trong việc đề xuất và lựa chọn án lệ. Có như vậy mới nâng cao được tinh thần và trách nhiệm của những người có thẩm quyền lựa chọn và đề xuất những bản án, quyết định của Tòa án để lựa chọn làm án lệ. Đồng thời, thông qua những quy định này, năng lực và chất lượng xét xử sẽ được nâng cao, qua đó mới có được những bản án, quyết định đạt tiêu chuẩn để đề xuất lựa chọn làm án lệ.

(iii) Quy định cụ thể hơn về trách nhiệm tiếp thu ý kiến và trách nhiệm giải trình việc tiếp thu ý kiến của các chủ thể trong khâu lấy ý kiến đối với bản án, quyết định được đề xuất lựa chọn thành án lệ. Chỉ khi có sự công khai đối với quá trình tiếp thu ý kiến thì mới tránh được tình trạng áp đặt ý kiến chủ quan của các chủ thể có thẩm quyền trong lựa chọn và nâng cao chất lượng các án lệ.

3.3. Nâng cao chất lượng xét xử của Tòa án các cấp

Án lệ được tạo ra bởi các Tòa án trong quá trình xét xử các vụ việc thực tế, bởi vậy, để tạo ra các án lệ có chất lượng thì ngay từ khi xét xử, các thẩm phán cần phải đảm bảo việc xét xử phải đúng pháp luật, bảo đảm được công bằng, mang tính thuyết phục, đặc biệt là đối với những vụ việc được nhiều người quan tâm. Để nâng cao chất lượng xét xử của Tòa án đòi hỏi phải thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ, trong đó cần hết sức chú ý nâng cao năng lực, phẩm chất của thẩm phán, sự kết hợp của các cơ quan hữu quan trong quá trình điều tra, truy tố xét xử cũng như việc tăng cường chất lượng tranh tụng tại tòa án. Tòa án phải tạo điều kiện để bảo đảm yếu tố tranh tụng tại tòa cũng như việc khuyến khích các thẩm phán đưa ra được quan điểm, lập luận của riêng mình, tất cả các lập luận của các thẩm phán đều cần thiết phải được ghi lại trong bản án, tránh tình trạng các thẩm phán trong hội đồng xét xử không đưa ra lý lẽ của riêng mình mà phụ thuộc vào người khác để có được sự đồng thuận cao.

Bên cạnh đó, để có một án lệ có chất lượng thì cũng cần thiết phải xem xét đến tiêu chuẩn hình thức và nội dung của các bản án, quyết định của Tòa án. Hiện nay, nước ta không có một tiêu chuẩn chung thống nhất cho các bản án của hệ thống Tòa án, kể cả Tòa án nhân dân tối cao. Trong khi đó, các bản án muốn được lựa chọn là án lệ cần chứa đựng trong đó các thông tin về tình tiết vụ án và các lập luận của Tòa án giải thích rõ lý do cho việc áp dụng pháp luật, mà thực tế với cách viết bản án như hiện nay ở nước ta thì nội dung của các phần lập luận hầu như không rõ ràng. Bởi thế, các Tòa án cần thiết phải có sự nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm của nước ngoài đê đi đến sự thống nhất về thay đổi đối với cách viết bản án, quyết định của mình. Một bản án thuyết phục được tuyên bởi Tòa án để có thể lựa chọn làm án lệ không chỉ dựa trên các cơ sở pháp lý mà về hình thức phải rõ ràng, tỉ mỉ, ghi rõ các lập luận của thẩm phán về lý do vì sao các quy định pháp luật lại được áp dụng đối với vụ án đó; về nội dung, cần phải mở rộng các nguồn tài liệu để đưa ra lập luận pháp lý của thẩm phán, bao gồm cả tập quán, nguyên tắc pháp luật, lẽ phải, lẽ công bằng,… chứ không chỉ đơn thuần là phụ thuộc vào văn bản quy phạm pháp luật.

3.4. Đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ chuyên môn cũng như tập huấn về án lệ đối với thẩm phán, hội thẩm, luật sư và các chức danh tư pháp khác

Án lệ là sản phẩm của sự sáng tạo của các thẩm phán trong quá trình áp dụng pháp luật, bởi thế để có được các án lệ chất lượng thì vai trò của thẩm phán là vô cùng quan trọng. Trong tiến trình xây dựng hệ thống án lệ ở Việt Nam hiện nay, vấn đề đặc biệt quan trọng và cần thiết chính là nâng cao năng lực của thẩm phán, hội thẩm nhân dân, luật sư cũng như các chức danh tư pháp khác. Để làm được điều này cần:

Một là, mở các khóa tập huấn, bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn của thẩm phán, hội thẩm nhân dân, luật sư cũng như các chức danh tư pháp khác. Trong đó xây dựng chương trình đi sâu vào phổ biến, đào tạo về án lệ, bao gồm cả các vấn đề lý luận và thực tiễn về án lệ để các thẩm phán có được nhận thức đúng đắn về vai trò, vị trí và giá trị của án lệ;

Hai là, đào tạo thẩm phán, hội thẩm nhân dân, luật sư cũng như các chức danh tư pháp khác, nâng cao trình độ chuyên môn để tăng cường khả năng lập luận cũng như xét xử, viết các bản án đáp ứng được các tiêu chí để lựa chọn làm án lệ;

Ba là, tổ chức các buổi tập huấn, tọa đàm, trao đổi kinh nghiệm để các thẩm phán, hội thẩm nhân dân, luật sư cũng như các chức danh tư pháp khác ở Việt Nam có thể học hỏi và tiếp thu kinh nghiệm của nước ngoài, bao gồm cả các nước trong hệ thống pháp luật Common Law và Civil Law.

Bốn là, tăng cường sự trao đổi, kết nối giữa hoạt động thực tiễn và hoạt động nghiên cứu khoa học pháp lý của các thẩm phán hội thẩm nhân dân, luật sư cũng như các chức danh tư pháp khác để họ không chỉ có được kinh nghiệm thực tế và còn có khả năng tự hoàn thiện các vấn đề lý luận đối với bản thân mình.

ThS. Phí Thị Thanh Tuyền

Trường Đại học Luật Hà Nội


[1]Xem: Điều 3 Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP ngày 28/10/2015 về “Quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ”.

[2]Xem: Điều 4 Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP ngày 28/10/2015 về “Quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ”.

[3]Xem: Điều 6 Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP ngày 28/10/2015 về “Quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ”.

[4]Xem: Điều 7 Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP ngày 28/10/2015 về “Quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ”.

[5]Xem: Điều 3 Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP ngày 28/10/2015 về “Quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ”.

[6] Xem khoản 2 Điều 74 Hiến pháp 2013.

[7] Xem Điều 2 Nghị quyết 03/2015/NQ-HĐTP về quy trình lựa chọn và công bố án lệ.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: