Thứ ba 22/09/2026 13:19
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện quy trình xây dựng án lệ ở Việt Nam hiện nay

Ở các quốc gia trong hệ thống pháp luật Common Law, án lệ cũng được hình thành thông qua con đường xét xử bởi thẩm phán, nhưng không chỉ dừng lại ở sự sáng tạo của thẩm phán khi giải thích các quy định của pháp luật thành văn mà còn là sự sáng tạo của thẩm phán đối với việc giải quyết các vụ việc mà chưa có quy định của cơ quan quyền lực nhà nước, các phán quyết đó có thể được đưa ra bởi các lập luận của thẩm phán dựa trên công lý, lẽ công bằng và lẽ phải nhằm bảo vệ tối đa quyền lợi của người dân.

1. Xây dựng án lệ và quy trình xây dựng án lệ ở Việt Nam hiện nay
1.1. Xây dựng án lệ
Xây dựng án lệ là hoạt động do chủ thể có thẩm quyền tiến hành theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định mà kết quả là tạo ra các án lệ. Với cách hiểu này, xây dựng án lệ có những đặc điểm như sau:
Một là, xây dựng án lệ là một hoạt động xây dựng pháp luật, bởi lẽ nó tạo ra các quyết định, bản án sẽ trở thành cơ sở, căn cứ để các tòa án dựa vào đó giải quyết các vụ việc có tình tiết tương tự về sau, bởi thế các án lệ được tạo ra cũng chính là một hình thức pháp luật, và hoạt động xây dựng án lệ cũng mang các đặc điểm của hoạt động xây dựng pháp luật.

Hai là, xây dựng án lệ được tiến hành bởi cơ quan có thẩm quyền do pháp luật qui định. Theo pháp luật Việt Nam hiện hành, ở Việt Nam, cơ quan có thẩm quyền xây dựng án lệ là cơ quan tư pháp. Án lệ được làm ra bởi các thẩm phán trong quá trình xét xử, giải quyết các vụ việc cụ thể chứ không phải thông qua việc đưa ra các quy định mang tính khái quát như văn bản qui phạm pháp luật do cơ quan lập pháp ban hành. Pháp luật thành văn thường mang tính khái quát cao, không thể bao quát hết tất cả các tình huống xảy ra trong thực tiễn, đặc biệt là với nhà nước mà trình độ lập pháp của các cơ quan quyền lực nhà nước còn khá hạn chế như Việt Nam. Bởi vậy, các thẩm phán trở thành những người đóng vai trò giải thích pháp luật bởi thông qua quá trình xét xử của mình, các thẩm phán phải chi tiết hóa các nguyên tắc, các quy định chung để áp dụng đối với những vụ việc cụ thể mà họ đang giải quyết.

Ở các quốc gia trong hệ thống pháp luật Common Law, án lệ cũng được hình thành thông qua con đường xét xử bởi thẩm phán, nhưng không chỉ dừng lại ở sự sáng tạo của thẩm phán khi giải thích các quy định của pháp luật thành văn mà còn là sự sáng tạo của thẩm phán đối với việc giải quyết các vụ việc mà chưa có quy định của cơ quan quyền lực nhà nước, các phán quyết đó có thể được đưa ra bởi các lập luận của thẩm phán dựa trên công lý, lẽ công bằng và lẽ phải nhằm bảo vệ tối đa quyền lợi của người dân. Những án lệ đó được gọi là “luật làm ra bởi thẩm phán”, là sự ủy quyền của cơ quan quyền lực cho các cơ quan tư pháp trong hoạt động lập pháp. Đây là điểm rất quan trọng trong lý luận về án lệ, và với sự thừa nhận việc sáng tạo ra pháp luật của thẩm phán thì giá trị của án lệ sẽ được phát huy hơn rất nhiều, đặc biệt là với vai trò là nguồn luật bổ khuyết cho luật thành văn. Tuy nhiên, ở Việt Nam, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay với trình độ chuyên môn, năng lực và phẩm chất đạo đức của thẩm phán cũng như chất lượng hoạt động xét xử ở Việt Nam thì chưa thể ứng dụng điều này khi bước đầu xây dựng mô hình và đưa án lệ vào sử dụng. Song nếu sau này, khi đã đáp ứng được những điều kiện nhất định thì việc xem xét công nhận việc thẩm phán sáng tạo pháp luật cũng là điều hoàn toàn khả thi.

Ba là, bởi án lệ được tạo ra bởi các thẩm phán trong quá trình xét xử nên nó phải được tồn tại dưới dạng bản án hoặc quyết định của Tòa án. Song, án lệ phải tất cả các phán quyết của Tòa án mà chỉ bao gồm những bản án, quyết định được mọi người thừa nhận mà chứa đựng trong đó sự lập luận nhằm giải thích, làm rõ các quy định của pháp luật còn có sự nhận thức chưa thống nhất, từ đó có giá trị là căn cứ để các thẩm phán giải quyết các vụ việc sau có tình tiết tương tự. Chỉ khi đó, án lệ mới trở nên thực sự cần thiết và phát huy đúng vai trò của nó là nguồn luật bổ trợ cho văn bản quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật.

Bốn là, án lệ phải được xây dựng theo một trình tự, thủ tục nhất định do pháp luật quy định. Đặc biệt là ở Việt Nam hiện nay, năng lực và trình độ của các thẩm phán còn chưa thực sự tốt và đồng đều, lại mới ở những bước đầu của việc đưa án lệ vào sử dụng chính thức thì cần thiết chúng ta phải có một hệ thống tiêu chí lựa chọn và quy trình xây dựng án lệ thật sự khoa học, chặt chẽ, hợp lý để hoạt động xây dựng án lệ đạt được hiệu quả tốt nhất.

Năm là, kết quả của hoạt động xây dựng án lệ là tạo ra được các án lệ có chất lượng, đáp ứng được đúng các tiêu chí và yêu cầu đối với án lệ ở nước ta hiện nay.

Xây dựng án lệ là hoạt động rất quan trọng cho sự thừa nhận và sử dụng án lệ ở Việt Nam hiện nay. Chỉ khi xây dựng được các án lệ tốt, đúng với bản chất án lệ, đúng với yêu cầu và đáp ứng được sự đòi hỏi cả về lý luận và thực tiễn thì việc áp dụng án lệ mới có thể đạt được kết quả cao. Bởi đây là hoạt động cần phải tiến hành thường xuyên, khoa học, liên tục, đảm bảo đáp ứng yêu cầu cũng như phát huy được tính năng động, kịp thời của án lệ.

1.2. Quy trình xây dựng án lệ ở Việt Nam hiện nay

Theo quy định của Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP ngày 28/10/2015 về “Quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ” thì quy trình xây dựng án lệ ở Việt Nam hiện nay cơ bản bao gồm những giai đoạn sau: (i) Rà soát, phát hiện bản án, quyết định đề xuất phát triển thành án lệ[1]; Lấy ý kiến đối với bản án, quyết định được đề xuất lựa chọn, phát triển thành án lệ[2]; (iii) Thông qua án lệ (Điều 6 của Nghị quyết số 03)[3]; (iv) Công bố án lệ[4] ; (v) Vấn đề huỷ bỏ, thay thế án lệ[5].

2. Đánh giá về quy trình xây dựng án lệ ở Việt Nam hiện nay

2.1. Những kết quả đạt được

Thứ nhất, các tiêu chí để lựa chọn án lệ đã được xác định rõ ràng

Những tiêu chí do Hội đồng thẩm phán Tòa án tối cao đưa ra đã phần nào phản ánh được đúng bản chất của án lệ, đó phải là những bản án, quyết định chứa đựng sự lập luận để giải thích các vấn đề, các quy định còn khó hiểu; và những phán quyết ấy phải là những phán quyết “có tính chuẩn mực”, nhận được sự đồng tình trong xã hội cũng như có giá trị hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật.

Thứ hai, quy trình lựa chọn và công bố án lệ tương đối đầy đủ, phù hợp với điều kiện của Việt Nam hiện nay cũng như phù hợp với thông lệ quốc tế

Theo quy định tại Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP ngày 28/10/2015 về “Quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ”, thì không phải tất cả các bản án, quyết định của các Tòa án đều đương nhiên trở thành án lệ mà phải trải qua quy trình lựa chọn với nhiều giai đoạn, trong đó quan trọng nhất là sự lựa chọn của các cơ quan xét xử. Thêm vào đó, chủ thể có quyền rà soát và trách nhiệm rà soát là rất rộng, điều này góp phần bảo đảm không có những bản án, quyết định của Tòa án đáp ứng các tiêu chí lựa chọn làm án lệ lại có thể bị bỏ sót. Với tình hình của Việt Nam hiện nay đang có sự thay đổi và biến động nhanh chóng của đời sống xã hội thì việc quy định định kỳ 06 tháng một lần tiến hành rà soát các bản án, quyết định của Tòa án là hợp lý, kịp thời đưa ra các án lệ để hướng dẫn áp dụng pháp luật một cách thống nhất, phát huy vai trò linh hoạt và là nguồn luật bổ sung của pháp luật thành văn.

Thứ ba, việc hủy bỏ án lệ cũng đã được quy định

Cũng như bất kỳ một quy định nào khác của pháp luật, một án lệ cụ thể nào đó không thể tồn tại vĩnh viễn, ngược lại nó có thể mất hiệu lực khi bị bãi bỏ hoặc thay thế Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP về “Quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ”, ngày 06/04/2016 tại Điều 9 quy định cụ thể về các trường hợp hủy bỏ, thay thế án lệ. Theo đó, án lệ sẽ bị hủy bỏ trong hai trường hợp là do sự thay đổi của pháp luật thành văn mà án lệ không còn phù hợp thì đương nhiên bị hủy bỏ; do chuyển biến tình hình mà án lệ không còn phù hợp nhưng chưa có quy định mới thì trường hợp này Hội đồng thẩm phán Tòa án tối cao có trách nhiệm xem xét hủy bỏ án lệ. Những trường hợp bãi bỏ án lệ đã quy định ở nước ra hiện nay cũng hoàn toàn phù hợp với kinh nghiệm và thông lệ quốc tế.

Thứ tư, việc lựa chọn án lệ để áp dụng trong hoạt động xét xử

Trên cơ sở Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP về “Quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ” ngày 06/04/2016 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã lựa chọn được sáu án lệ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Quyết định số 220/QĐ-CA công bố sáu án lệ đó, bao gồm các án lệ trong các lĩnh vực hình sự, dân sự (kiện đòi tài sản), hôn nhân gia đình, đất đai, thừa kế (bao gồm cả thừa kế có yếu tố nước ngoài) và quy định các Tòa án trong hệ thống Tòa án phải có trách nhiệm nghiên cứu và áp dụng các bản án lệ trong xét xử kể từ ngày 01/6/2016.

2.2. Những tồn tại, hạn chế

Một là, về chủ thể xây dựng án lệ

Theo quy định của pháp luật thì hiện nay ở Việt Nam chỉ có Hội đồng thẩm phán Tòa án tối cao là chủ thể có thẩm quyền xây dựng án lệ. Tuy nhiên, án lệ là một loại nguồn rất đa dạng bởi nó xuất phát từ thực tiễn xét xử, từ các vụ việc thực tế và cũng dùng để giải quyết các vụ việc xảy ra trên thực tế. Vì thế, việc pháp luật qui định chỉ Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có thẩm quyền lựa chọn và công bố án lệ có thể dẫn tới sợ quá tải trong hoạt động của cơ quan này, từ đó có thể kéo theo tình trạng kém chất lượng của các án lệ, hoặc bỏ sót những bản án cũng có các nội dung cần thiết nhưng lại không được lựa chọn làm án lệ.

Cũng theo quy định của pháp luật, án lệ hình thành trong quá trình Tòa án áp dụng pháp luật, trong đó chứa đựng sự giải thích pháp luật. Tuy nhiên, theo quy định Hiến pháp năm 2013, Tòa án chỉ có chức năng xét xử, còn giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh thuộc thẩm quyền của Ủy ban thường vụ Quốc hội[6]. Do vậy, việc Tòa án có thẩm quyền xây dựng án lệ - sản phẩm của giải thích pháp luật, là không phù hợp các quy định của Hiến pháp. Đây chính là sự mâu thuẫn lớn cần giải quyết trong vấn đề quy định thẩm quyền xây dựng án lệ ở Việt Nam hiện nay.

Hai là, về tiêu chí lựa chọn án lệ

Trước hết, tiêu chí đầu tiên là án lệ được lựa chọn phải “chứa đựng lập luận để làm rõ các quy định của pháp luật còn nhiều cách hiểu khác nhau”[7]. Tuy nhiên ở Điều 1 Nghị quyết này lại quy định “án lệ là những lập luận, phán quyết trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật”. Như vậy, đã không có sự thống nhất về quan niệm án lệ được sử dụng ngay giữa những quy định của Hội đồng thẩm phán Tòa án tối cao.

Theo tiêu chí thứ nhất này thì chỉ có những lập luận mà hàm chứa trong đó sự giải thích pháp luật của tòa án về một quy định pháp luật còn nhiều cách hiểu khác nhau mới được lựa chọn để trở thành án lệ, tức là chỉ chấp nhận án lệ hình thành trong quá trình giải thích pháp luật. Điều này chưa thực sự phù hợp với lý luận về án lệ đó là án lệ được tạo ra để lấp đầy các “lỗ hổng” của pháp luật thành văn, nó không chỉ bao gồm các lập luận để giải thích các quy định của pháp luật mà còn là những lập luận để giải quyết những vấn đề mà pháp luật chưa có quy định. Vì thế, nếu đưa ra tiêu chí án lệ phải là những lập luận giải thích pháp luật thì vô hình chung đã bỏ qua một bộ phận lớn những án lệ quan trọng giải quyết các vấn đề pháp luật chưa có quy định. Nói cách khác, ở Việt Nam hiện chỉ chấp nhận loại án lệ giải thích pháp luật chứ không chấp nhận án lệ lấp lỗ hổng khi pháp luật thành văn chưa quy định. Điều này đồng nghĩa với việc pháp luật không trao quyền sáng tạo pháp luật cho các thẩm phán, tất nhiên sự sáng tạo ấy phải dựa trên những nguyên tắc và những giới hạn nhất định.

Tiêu chí thứ hai mà Hội đồng thẩm phán Tòa án tối cao đưa ra để một bản án được lựa chọn làm án lệ đó là, bản án phải “có tính chuẩn mực”. Song như thế nào là chuẩn mực, dựa vào tiêu chí nào để đánh giá một bản án là chuẩn mực hay không thì chưa được hướng dẫn và làm rõ trong Nghị quyết này cũng như chưa tìm thấy trong các văn bản pháp luật hoặc văn bản hướng dẫn khác.

Ba là, về trình tự, thủ tục xây dựng án lệ

Theo quy định của Nghị quyết số 03/2015-NQ-HĐTP về quy trình lựa chọn và công bố án lệ, để tạo ra được một án lệ cụ thể cần thiết phải thông qua quy trình, thủ tục gồm những bước rất chặt chẽ. Tuy nhiên, thực tế vẫn tồn tại một số hạn chế như: Thiếu các ràng buộc pháp lý đối với các chủ thể có trách nhiệm rà soát các bản án, quyết định của Tòa án; việc lấy ý kiến đối với bản án, quyết định được đề xuất lựa chọn làm án lệ còn nhiều hạn chế.

Bốn là, về bãi bỏ, thay thế án lệ

- Đối với trường hợp bãi bỏ án lệ, được quy định tại khoản 1 Điều 9 Nghị quyết số 03/2015-NQ/HĐTP: “Trường hợp do sự thay đổi của Luật, Nghị quyết của Quốc hội, Pháp lệnh, Nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Nghị định của Chính phủ mà án lệ không còn phù hợp thì án lệ đương nhiên bị hủy bỏ”. Tuy nhiên, một án lệ như thế nào thì bị coi là “không còn phù hợp” với các văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội hay Chính phủ ban hành? Tiêu chí nào để đánh giá sự phù hợp hoặc không phù hợp ấy? Chủ thể nào là chủ thể có thẩm quyền rà soát, đánh giá về tính phù hợp hay không của án lệ so với các văn bản quy phạm pháp luật, đặc biệt là các văn bản quy phạm pháp luật mới ban hành? Đây là những vấn đề cần thiết mà Tòa án tối cao phải làm rõ để việc áp dụng án lệ sau này không có những sai lầm không đáng có.

Hơn thế, mặc dù quy định các trường hợp án lệ bị hủy bỏ, tuy nhiên, Nghị quyết này lại không có quy định cụ thể nào về việc công bố việc án lệ bị hủy bỏ cũng như quy định về thời điểm không còn hiệu lực của án lệ bị hủy bỏ. Như vậy, nếu trong trường hợp có quy định của pháp luật mới ban hành làm quyết định trong án lệ không còn phù hợp và đương nhiên bị hủy bỏ thì thời điểm nào được xác là thời điểm án lệ không còn hiệu lực, là thời điểm quy định mới được ban hành hay thời điểm quy định mới đó phát sinh hiệu lực? Nếu một vụ việc xảy ra trong thời gian đã có quy định mới, nhưng quy định ấy chưa phát sinh hiệu lực thì còn có thể áp dụng án lệ để giải quyết hay không? Đây là một thiếu sót trong quy định về bãi bỏ án lệ ở nước ta hiện nay. Bên cạnh đó thì dù là án lệ đương nhiên bị “hủy bỏ” song Tòa án tối cao cũng nên công bố công khai, có thể là đối với từng án lệ hoặc theo danh sách những án lệ đương nhiên bị hủy bỏ theo định kỳ khi có các văn bản hay quy định mới ra đời làm mất hiệu lực của án lệ để người dân có thể dễ theo dõi và việc sử dụng cũng thuận lợi hơn.

- Với quy định về trường hợp xem xét hủy bỏ, thay thế án lệ do Hội đồng xét xử không áp dụng án lệ, Nghị quyết số 03/2015 của Hội đồng thẩm phán yêu cầu với những trường hợp này thì ngay sau khi tuyên án, hội đồng xét xử phải gửi kiến nghị thay thế án lệ về Tòa án nhân dân tối cao. Quy định có thể hiểu, Hội đồng thẩm phán muốn nói tới những trường hợp mà hội đồng xét xử phát hiện, nhận thấy những án lệ không còn phù hợp, không thể áp dụng và phát huy giá trị nữa nên không áp dụng thì cần kiến nghị ngay với Tòa án tối cao. Song để thể hiện được tinh thần ấy thì điều này cần được diễn đạt chi tiết, cụ thể hơn để tránh sự nhầm lẫn, hiểu sai.

3. Một số giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động xây dựng án lệ ở Việt Nam hiện nay.

3.1. Cần thống nhất nhận thức về án lệ

Trước hết, để xây dựng được hệ thống án lệ phát triển, có chất lượng và có giá trị sử dụng cao trên thực tế thì điều quan trọng hàng đầu là phải hoàn thiện các vấn đề nhận thức về lý luận. Chúng ta không chỉ cần nâng cao hiểu biết về chức năng, vai trò của án lệ trong khoa học pháp lý Việt Nam mà điều đặc biệt quan trọng hơn là cần có nhận thức đúng đắn về án lệ. Cần phải đưa ra một cách hiểu thống nhất và đúng đắn về bản chất án lệ bởi chỉ khi có nhận thức đúng về án lệ thì chúng ra mới có thể xây dựng những án lệ đúng nghĩa của nó.

Hiện nay, hầu hết các quan niệm về án lệ ở nước ta đều chỉ công nhận án lệ hình thành trong quá trình giải thích pháp luật, là những bản án chưa đựng các lập luận, phân tích để giải thích các quy định của pháp luật còn nhiều cách hiểu chưa thống nhất mà không thừa nhận vai trò sáng tạo pháp luật của thẩm phán. Bên cạnh đó, chúng ta cũng chưa có sự nhận thức rõ ràng khi tìm hiểu về án lệ và đặt nó trong mối quan hệ với các khái niệm tương đồng, vẫn còn có sự nhầm lẫn một số khái niệm.

Ngay trong Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, ở Điều 1 khi đưa ra khái niệm án lệ thì chỉ định nghĩa một cách chung chung là những lập luận, phán quyết trong bản án của Tòa án để giải quyết một vụ việc cụ thể, tức có thể bao gồm cả những lập luận giải thích pháp luật hoặc những lập luận dựa vào công lý, lẽ phải để giải quyết vụ việc đó (sự sáng tạo pháp luật của tòa án). Tuy nhiên đến Điều 2, khi quy định về tiêu chí lựa chọn án lệ thì tiêu chí đầu tiên mà Nghị quyết này đưa ra lại là: “phải chứa đựng các lập luận để làm rõ quy định của pháp luật còn nhiều cách hiểu khác nhau”, tức là chỉ thừa nhận những án lệ có chứa đựng sự giải thích pháp luật. Như thế, ngay trong văn bản pháp luật chính thức của chúng ta cũng chưa có sự thống nhất về án lệ.

Chính vì vậy, điều đầu tiên chúng ra cần làm hiện nay là phải thống nhất quan điểm về án lệ và hiểu án lệ đúng bản chất của nó để lựa chọn đúng bản án là án lệ có chất lượng. Thiết nghĩ, hiện nay với tình hình xã hội còn nhiều biến đổi, mới bước đầu chính thức công nhận và sử dụng án lệ trong xét xử, các điều kiện, đặc biệt là điều kiện về nhân lực mà cụ thể là các thẩm phán còn chưa bảo đảm thì có thể chỉ thừa nhận án lệ chứa đựng sự giải thích pháp luật. Trong thời gian tới, khi quan niệm về án lệ cũng như hệ thống án lệ đã phát triển, trình độ của các thẩm phán cũng như các điều kiện khác có thể đáp ứng thì cần phải mở rộng quan niệm án lệ không chỉ là những sự giải thích pháp luật mà còn là những sáng kiến pháp luật mới hình thành trong quá trình xét xử, đưa án lệ về đúng với bản chất của nó.

Để làm được điều này thì nghiên cứu và đào tạo luật chính là giải pháp để hình thành kiến thức pháp lý nền tảng cho đội ngũ thẩm phán, hội thẩm, luật gia và chuyên gia pháp lý. Cần phải xây dựng các chương trình đào tạo, các buổi hội thảo, tọa đàm liên quan đến án lệ để tuyên truyền cũng như thống nhất và mở rộng quan niệm án lệ ở nhiều góc độ tiếp cận khác nhau. Các cơ sở đào tạo luật cần cải cách chương trình và phương thức đào tạo, bổ sung các nội dung liên quan đến lý luận về án lệ, phân tích liên hệ các vụ án, án lệ trong thực tiễn.

3.2. Hoàn thiện các quy định của pháp luật về án lệ

Thừa nhận và chính thức áp dụng án lệ ở Việt Nam đặt ra yêu cầu phải sửa đổi các quy định của Hiến pháp năm 2013 và các văn bản khác có liên quan đến án lệ:

Thứ nhất, cần sửa đổi quy định về thẩm quyền giải thích pháp luật trong Hiến pháp năm 2013. Theo đó Điều 102 Hiến pháp năm 2013 cần sửa đổi theo hướng ghi nhận thẩm quyền giải thích pháp luật cho Tòa án nhân dân tối cao. Có như vậy mới đảm bảo vai trò của Tòa án trong việc tạo lập án lệ, vì án lệ luôn hàm chứa việc giải thích pháp luật. Đồng thời, việc quy định thẩm quyền này cho Tòa án nhân dân tối cao sẽ giúp tăng thêm tính độc lập và nâng cao chất lượng xét xử của Tòa án.

Thứ hai, cần hoàn thiện quy định pháp luật về quy trình lựa chọn và công bố án lệ. Như đã phân tích ở trên, Nghị quyết 03/2015/NQ-HĐTP dù đã đưa ra những quy định chi tiết về quy trình lựa chọn và công bố án lệ song vẫn còn có những điểm chưa thực sự rõ ràng cần khắc phục, bao gồm:

(i) Quy định chi tiết hơn đối với các tiêu chí lựa chọn án lệ theo hướng mở rộng đối tượng là các phán quyết của Tòa án áp dụng các nguồn khác ngoài văn bản quy phạm pháp luật để lựa chọn làm án lệ. Đặc biệt là với tiêu chí bản án, quyết định phải “mang tính chuẩn mực”, Tòa án tối cao cần có sự giải thích và hướng dẫn rõ ràng dựa trên những tiêu chí nào, mức độ ra sao thì một bản án, quyết định được coi là có tính chuẩn mực? Về nội dung, hình thức của bản án, quyết định của Tòa án phải đáp ứng được các yêu cầu gì? Chỉ khi có những tiêu chí và sự quy định rõ ràng như vậy thì các Tòa án cũng như các cá nhân, tổ chức trong xã hội mới có thể xem xét để lựa chọn và đề xuất những bản án, quyết định có đáp ứng các tiêu chí này làm án lệ và khi đó, sự lựa chọn của Hội đồng thẩm phán Tòa án tối cao cũng mang tính thuyết phục hơn.

(ii) Pháp luật cần có các quy định về trách nhiệm pháp lý đối với những người có thẩm quyền trong việc đề xuất và lựa chọn án lệ. Có như vậy mới nâng cao được tinh thần và trách nhiệm của những người có thẩm quyền lựa chọn và đề xuất những bản án, quyết định của Tòa án để lựa chọn làm án lệ. Đồng thời, thông qua những quy định này, năng lực và chất lượng xét xử sẽ được nâng cao, qua đó mới có được những bản án, quyết định đạt tiêu chuẩn để đề xuất lựa chọn làm án lệ.

(iii) Quy định cụ thể hơn về trách nhiệm tiếp thu ý kiến và trách nhiệm giải trình việc tiếp thu ý kiến của các chủ thể trong khâu lấy ý kiến đối với bản án, quyết định được đề xuất lựa chọn thành án lệ. Chỉ khi có sự công khai đối với quá trình tiếp thu ý kiến thì mới tránh được tình trạng áp đặt ý kiến chủ quan của các chủ thể có thẩm quyền trong lựa chọn và nâng cao chất lượng các án lệ.

3.3. Nâng cao chất lượng xét xử của Tòa án các cấp

Án lệ được tạo ra bởi các Tòa án trong quá trình xét xử các vụ việc thực tế, bởi vậy, để tạo ra các án lệ có chất lượng thì ngay từ khi xét xử, các thẩm phán cần phải đảm bảo việc xét xử phải đúng pháp luật, bảo đảm được công bằng, mang tính thuyết phục, đặc biệt là đối với những vụ việc được nhiều người quan tâm. Để nâng cao chất lượng xét xử của Tòa án đòi hỏi phải thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ, trong đó cần hết sức chú ý nâng cao năng lực, phẩm chất của thẩm phán, sự kết hợp của các cơ quan hữu quan trong quá trình điều tra, truy tố xét xử cũng như việc tăng cường chất lượng tranh tụng tại tòa án. Tòa án phải tạo điều kiện để bảo đảm yếu tố tranh tụng tại tòa cũng như việc khuyến khích các thẩm phán đưa ra được quan điểm, lập luận của riêng mình, tất cả các lập luận của các thẩm phán đều cần thiết phải được ghi lại trong bản án, tránh tình trạng các thẩm phán trong hội đồng xét xử không đưa ra lý lẽ của riêng mình mà phụ thuộc vào người khác để có được sự đồng thuận cao.

Bên cạnh đó, để có một án lệ có chất lượng thì cũng cần thiết phải xem xét đến tiêu chuẩn hình thức và nội dung của các bản án, quyết định của Tòa án. Hiện nay, nước ta không có một tiêu chuẩn chung thống nhất cho các bản án của hệ thống Tòa án, kể cả Tòa án nhân dân tối cao. Trong khi đó, các bản án muốn được lựa chọn là án lệ cần chứa đựng trong đó các thông tin về tình tiết vụ án và các lập luận của Tòa án giải thích rõ lý do cho việc áp dụng pháp luật, mà thực tế với cách viết bản án như hiện nay ở nước ta thì nội dung của các phần lập luận hầu như không rõ ràng. Bởi thế, các Tòa án cần thiết phải có sự nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm của nước ngoài đê đi đến sự thống nhất về thay đổi đối với cách viết bản án, quyết định của mình. Một bản án thuyết phục được tuyên bởi Tòa án để có thể lựa chọn làm án lệ không chỉ dựa trên các cơ sở pháp lý mà về hình thức phải rõ ràng, tỉ mỉ, ghi rõ các lập luận của thẩm phán về lý do vì sao các quy định pháp luật lại được áp dụng đối với vụ án đó; về nội dung, cần phải mở rộng các nguồn tài liệu để đưa ra lập luận pháp lý của thẩm phán, bao gồm cả tập quán, nguyên tắc pháp luật, lẽ phải, lẽ công bằng,… chứ không chỉ đơn thuần là phụ thuộc vào văn bản quy phạm pháp luật.

3.4. Đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ chuyên môn cũng như tập huấn về án lệ đối với thẩm phán, hội thẩm, luật sư và các chức danh tư pháp khác

Án lệ là sản phẩm của sự sáng tạo của các thẩm phán trong quá trình áp dụng pháp luật, bởi thế để có được các án lệ chất lượng thì vai trò của thẩm phán là vô cùng quan trọng. Trong tiến trình xây dựng hệ thống án lệ ở Việt Nam hiện nay, vấn đề đặc biệt quan trọng và cần thiết chính là nâng cao năng lực của thẩm phán, hội thẩm nhân dân, luật sư cũng như các chức danh tư pháp khác. Để làm được điều này cần:

Một là, mở các khóa tập huấn, bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn của thẩm phán, hội thẩm nhân dân, luật sư cũng như các chức danh tư pháp khác. Trong đó xây dựng chương trình đi sâu vào phổ biến, đào tạo về án lệ, bao gồm cả các vấn đề lý luận và thực tiễn về án lệ để các thẩm phán có được nhận thức đúng đắn về vai trò, vị trí và giá trị của án lệ;

Hai là, đào tạo thẩm phán, hội thẩm nhân dân, luật sư cũng như các chức danh tư pháp khác, nâng cao trình độ chuyên môn để tăng cường khả năng lập luận cũng như xét xử, viết các bản án đáp ứng được các tiêu chí để lựa chọn làm án lệ;

Ba là, tổ chức các buổi tập huấn, tọa đàm, trao đổi kinh nghiệm để các thẩm phán, hội thẩm nhân dân, luật sư cũng như các chức danh tư pháp khác ở Việt Nam có thể học hỏi và tiếp thu kinh nghiệm của nước ngoài, bao gồm cả các nước trong hệ thống pháp luật Common Law và Civil Law.

Bốn là, tăng cường sự trao đổi, kết nối giữa hoạt động thực tiễn và hoạt động nghiên cứu khoa học pháp lý của các thẩm phán hội thẩm nhân dân, luật sư cũng như các chức danh tư pháp khác để họ không chỉ có được kinh nghiệm thực tế và còn có khả năng tự hoàn thiện các vấn đề lý luận đối với bản thân mình.

ThS. Phí Thị Thanh Tuyền

Trường Đại học Luật Hà Nội


[1]Xem: Điều 3 Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP ngày 28/10/2015 về “Quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ”.

[2]Xem: Điều 4 Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP ngày 28/10/2015 về “Quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ”.

[3]Xem: Điều 6 Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP ngày 28/10/2015 về “Quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ”.

[4]Xem: Điều 7 Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP ngày 28/10/2015 về “Quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ”.

[5]Xem: Điều 3 Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP ngày 28/10/2015 về “Quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ”.

[6] Xem khoản 2 Điều 74 Hiến pháp 2013.

[7] Xem Điều 2 Nghị quyết 03/2015/NQ-HĐTP về quy trình lựa chọn và công bố án lệ.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.

Theo dõi chúng tôi trên: