Thứ tư 18/03/2026 14:40
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện quy trình xây dựng án lệ ở Việt Nam hiện nay

Ở các quốc gia trong hệ thống pháp luật Common Law, án lệ cũng được hình thành thông qua con đường xét xử bởi thẩm phán, nhưng không chỉ dừng lại ở sự sáng tạo của thẩm phán khi giải thích các quy định của pháp luật thành văn mà còn là sự sáng tạo của thẩm phán đối với việc giải quyết các vụ việc mà chưa có quy định của cơ quan quyền lực nhà nước, các phán quyết đó có thể được đưa ra bởi các lập luận của thẩm phán dựa trên công lý, lẽ công bằng và lẽ phải nhằm bảo vệ tối đa quyền lợi của người dân.

1. Xây dựng án lệ và quy trình xây dựng án lệ ở Việt Nam hiện nay
1.1. Xây dựng án lệ
Xây dựng án lệ là hoạt động do chủ thể có thẩm quyền tiến hành theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định mà kết quả là tạo ra các án lệ. Với cách hiểu này, xây dựng án lệ có những đặc điểm như sau:
Một là, xây dựng án lệ là một hoạt động xây dựng pháp luật, bởi lẽ nó tạo ra các quyết định, bản án sẽ trở thành cơ sở, căn cứ để các tòa án dựa vào đó giải quyết các vụ việc có tình tiết tương tự về sau, bởi thế các án lệ được tạo ra cũng chính là một hình thức pháp luật, và hoạt động xây dựng án lệ cũng mang các đặc điểm của hoạt động xây dựng pháp luật.

Hai là, xây dựng án lệ được tiến hành bởi cơ quan có thẩm quyền do pháp luật qui định. Theo pháp luật Việt Nam hiện hành, ở Việt Nam, cơ quan có thẩm quyền xây dựng án lệ là cơ quan tư pháp. Án lệ được làm ra bởi các thẩm phán trong quá trình xét xử, giải quyết các vụ việc cụ thể chứ không phải thông qua việc đưa ra các quy định mang tính khái quát như văn bản qui phạm pháp luật do cơ quan lập pháp ban hành. Pháp luật thành văn thường mang tính khái quát cao, không thể bao quát hết tất cả các tình huống xảy ra trong thực tiễn, đặc biệt là với nhà nước mà trình độ lập pháp của các cơ quan quyền lực nhà nước còn khá hạn chế như Việt Nam. Bởi vậy, các thẩm phán trở thành những người đóng vai trò giải thích pháp luật bởi thông qua quá trình xét xử của mình, các thẩm phán phải chi tiết hóa các nguyên tắc, các quy định chung để áp dụng đối với những vụ việc cụ thể mà họ đang giải quyết.

Ở các quốc gia trong hệ thống pháp luật Common Law, án lệ cũng được hình thành thông qua con đường xét xử bởi thẩm phán, nhưng không chỉ dừng lại ở sự sáng tạo của thẩm phán khi giải thích các quy định của pháp luật thành văn mà còn là sự sáng tạo của thẩm phán đối với việc giải quyết các vụ việc mà chưa có quy định của cơ quan quyền lực nhà nước, các phán quyết đó có thể được đưa ra bởi các lập luận của thẩm phán dựa trên công lý, lẽ công bằng và lẽ phải nhằm bảo vệ tối đa quyền lợi của người dân. Những án lệ đó được gọi là “luật làm ra bởi thẩm phán”, là sự ủy quyền của cơ quan quyền lực cho các cơ quan tư pháp trong hoạt động lập pháp. Đây là điểm rất quan trọng trong lý luận về án lệ, và với sự thừa nhận việc sáng tạo ra pháp luật của thẩm phán thì giá trị của án lệ sẽ được phát huy hơn rất nhiều, đặc biệt là với vai trò là nguồn luật bổ khuyết cho luật thành văn. Tuy nhiên, ở Việt Nam, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay với trình độ chuyên môn, năng lực và phẩm chất đạo đức của thẩm phán cũng như chất lượng hoạt động xét xử ở Việt Nam thì chưa thể ứng dụng điều này khi bước đầu xây dựng mô hình và đưa án lệ vào sử dụng. Song nếu sau này, khi đã đáp ứng được những điều kiện nhất định thì việc xem xét công nhận việc thẩm phán sáng tạo pháp luật cũng là điều hoàn toàn khả thi.

Ba là, bởi án lệ được tạo ra bởi các thẩm phán trong quá trình xét xử nên nó phải được tồn tại dưới dạng bản án hoặc quyết định của Tòa án. Song, án lệ phải tất cả các phán quyết của Tòa án mà chỉ bao gồm những bản án, quyết định được mọi người thừa nhận mà chứa đựng trong đó sự lập luận nhằm giải thích, làm rõ các quy định của pháp luật còn có sự nhận thức chưa thống nhất, từ đó có giá trị là căn cứ để các thẩm phán giải quyết các vụ việc sau có tình tiết tương tự. Chỉ khi đó, án lệ mới trở nên thực sự cần thiết và phát huy đúng vai trò của nó là nguồn luật bổ trợ cho văn bản quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật.

Bốn là, án lệ phải được xây dựng theo một trình tự, thủ tục nhất định do pháp luật quy định. Đặc biệt là ở Việt Nam hiện nay, năng lực và trình độ của các thẩm phán còn chưa thực sự tốt và đồng đều, lại mới ở những bước đầu của việc đưa án lệ vào sử dụng chính thức thì cần thiết chúng ta phải có một hệ thống tiêu chí lựa chọn và quy trình xây dựng án lệ thật sự khoa học, chặt chẽ, hợp lý để hoạt động xây dựng án lệ đạt được hiệu quả tốt nhất.

Năm là, kết quả của hoạt động xây dựng án lệ là tạo ra được các án lệ có chất lượng, đáp ứng được đúng các tiêu chí và yêu cầu đối với án lệ ở nước ta hiện nay.

Xây dựng án lệ là hoạt động rất quan trọng cho sự thừa nhận và sử dụng án lệ ở Việt Nam hiện nay. Chỉ khi xây dựng được các án lệ tốt, đúng với bản chất án lệ, đúng với yêu cầu và đáp ứng được sự đòi hỏi cả về lý luận và thực tiễn thì việc áp dụng án lệ mới có thể đạt được kết quả cao. Bởi đây là hoạt động cần phải tiến hành thường xuyên, khoa học, liên tục, đảm bảo đáp ứng yêu cầu cũng như phát huy được tính năng động, kịp thời của án lệ.

1.2. Quy trình xây dựng án lệ ở Việt Nam hiện nay

Theo quy định của Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP ngày 28/10/2015 về “Quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ” thì quy trình xây dựng án lệ ở Việt Nam hiện nay cơ bản bao gồm những giai đoạn sau: (i) Rà soát, phát hiện bản án, quyết định đề xuất phát triển thành án lệ[1]; Lấy ý kiến đối với bản án, quyết định được đề xuất lựa chọn, phát triển thành án lệ[2]; (iii) Thông qua án lệ (Điều 6 của Nghị quyết số 03)[3]; (iv) Công bố án lệ[4] ; (v) Vấn đề huỷ bỏ, thay thế án lệ[5].

2. Đánh giá về quy trình xây dựng án lệ ở Việt Nam hiện nay

2.1. Những kết quả đạt được

Thứ nhất, các tiêu chí để lựa chọn án lệ đã được xác định rõ ràng

Những tiêu chí do Hội đồng thẩm phán Tòa án tối cao đưa ra đã phần nào phản ánh được đúng bản chất của án lệ, đó phải là những bản án, quyết định chứa đựng sự lập luận để giải thích các vấn đề, các quy định còn khó hiểu; và những phán quyết ấy phải là những phán quyết “có tính chuẩn mực”, nhận được sự đồng tình trong xã hội cũng như có giá trị hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật.

Thứ hai, quy trình lựa chọn và công bố án lệ tương đối đầy đủ, phù hợp với điều kiện của Việt Nam hiện nay cũng như phù hợp với thông lệ quốc tế

Theo quy định tại Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP ngày 28/10/2015 về “Quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ”, thì không phải tất cả các bản án, quyết định của các Tòa án đều đương nhiên trở thành án lệ mà phải trải qua quy trình lựa chọn với nhiều giai đoạn, trong đó quan trọng nhất là sự lựa chọn của các cơ quan xét xử. Thêm vào đó, chủ thể có quyền rà soát và trách nhiệm rà soát là rất rộng, điều này góp phần bảo đảm không có những bản án, quyết định của Tòa án đáp ứng các tiêu chí lựa chọn làm án lệ lại có thể bị bỏ sót. Với tình hình của Việt Nam hiện nay đang có sự thay đổi và biến động nhanh chóng của đời sống xã hội thì việc quy định định kỳ 06 tháng một lần tiến hành rà soát các bản án, quyết định của Tòa án là hợp lý, kịp thời đưa ra các án lệ để hướng dẫn áp dụng pháp luật một cách thống nhất, phát huy vai trò linh hoạt và là nguồn luật bổ sung của pháp luật thành văn.

Thứ ba, việc hủy bỏ án lệ cũng đã được quy định

Cũng như bất kỳ một quy định nào khác của pháp luật, một án lệ cụ thể nào đó không thể tồn tại vĩnh viễn, ngược lại nó có thể mất hiệu lực khi bị bãi bỏ hoặc thay thế Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP về “Quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ”, ngày 06/04/2016 tại Điều 9 quy định cụ thể về các trường hợp hủy bỏ, thay thế án lệ. Theo đó, án lệ sẽ bị hủy bỏ trong hai trường hợp là do sự thay đổi của pháp luật thành văn mà án lệ không còn phù hợp thì đương nhiên bị hủy bỏ; do chuyển biến tình hình mà án lệ không còn phù hợp nhưng chưa có quy định mới thì trường hợp này Hội đồng thẩm phán Tòa án tối cao có trách nhiệm xem xét hủy bỏ án lệ. Những trường hợp bãi bỏ án lệ đã quy định ở nước ra hiện nay cũng hoàn toàn phù hợp với kinh nghiệm và thông lệ quốc tế.

Thứ tư, việc lựa chọn án lệ để áp dụng trong hoạt động xét xử

Trên cơ sở Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP về “Quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ” ngày 06/04/2016 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã lựa chọn được sáu án lệ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Quyết định số 220/QĐ-CA công bố sáu án lệ đó, bao gồm các án lệ trong các lĩnh vực hình sự, dân sự (kiện đòi tài sản), hôn nhân gia đình, đất đai, thừa kế (bao gồm cả thừa kế có yếu tố nước ngoài) và quy định các Tòa án trong hệ thống Tòa án phải có trách nhiệm nghiên cứu và áp dụng các bản án lệ trong xét xử kể từ ngày 01/6/2016.

2.2. Những tồn tại, hạn chế

Một là, về chủ thể xây dựng án lệ

Theo quy định của pháp luật thì hiện nay ở Việt Nam chỉ có Hội đồng thẩm phán Tòa án tối cao là chủ thể có thẩm quyền xây dựng án lệ. Tuy nhiên, án lệ là một loại nguồn rất đa dạng bởi nó xuất phát từ thực tiễn xét xử, từ các vụ việc thực tế và cũng dùng để giải quyết các vụ việc xảy ra trên thực tế. Vì thế, việc pháp luật qui định chỉ Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có thẩm quyền lựa chọn và công bố án lệ có thể dẫn tới sợ quá tải trong hoạt động của cơ quan này, từ đó có thể kéo theo tình trạng kém chất lượng của các án lệ, hoặc bỏ sót những bản án cũng có các nội dung cần thiết nhưng lại không được lựa chọn làm án lệ.

Cũng theo quy định của pháp luật, án lệ hình thành trong quá trình Tòa án áp dụng pháp luật, trong đó chứa đựng sự giải thích pháp luật. Tuy nhiên, theo quy định Hiến pháp năm 2013, Tòa án chỉ có chức năng xét xử, còn giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh thuộc thẩm quyền của Ủy ban thường vụ Quốc hội[6]. Do vậy, việc Tòa án có thẩm quyền xây dựng án lệ - sản phẩm của giải thích pháp luật, là không phù hợp các quy định của Hiến pháp. Đây chính là sự mâu thuẫn lớn cần giải quyết trong vấn đề quy định thẩm quyền xây dựng án lệ ở Việt Nam hiện nay.

Hai là, về tiêu chí lựa chọn án lệ

Trước hết, tiêu chí đầu tiên là án lệ được lựa chọn phải “chứa đựng lập luận để làm rõ các quy định của pháp luật còn nhiều cách hiểu khác nhau”[7]. Tuy nhiên ở Điều 1 Nghị quyết này lại quy định “án lệ là những lập luận, phán quyết trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật”. Như vậy, đã không có sự thống nhất về quan niệm án lệ được sử dụng ngay giữa những quy định của Hội đồng thẩm phán Tòa án tối cao.

Theo tiêu chí thứ nhất này thì chỉ có những lập luận mà hàm chứa trong đó sự giải thích pháp luật của tòa án về một quy định pháp luật còn nhiều cách hiểu khác nhau mới được lựa chọn để trở thành án lệ, tức là chỉ chấp nhận án lệ hình thành trong quá trình giải thích pháp luật. Điều này chưa thực sự phù hợp với lý luận về án lệ đó là án lệ được tạo ra để lấp đầy các “lỗ hổng” của pháp luật thành văn, nó không chỉ bao gồm các lập luận để giải thích các quy định của pháp luật mà còn là những lập luận để giải quyết những vấn đề mà pháp luật chưa có quy định. Vì thế, nếu đưa ra tiêu chí án lệ phải là những lập luận giải thích pháp luật thì vô hình chung đã bỏ qua một bộ phận lớn những án lệ quan trọng giải quyết các vấn đề pháp luật chưa có quy định. Nói cách khác, ở Việt Nam hiện chỉ chấp nhận loại án lệ giải thích pháp luật chứ không chấp nhận án lệ lấp lỗ hổng khi pháp luật thành văn chưa quy định. Điều này đồng nghĩa với việc pháp luật không trao quyền sáng tạo pháp luật cho các thẩm phán, tất nhiên sự sáng tạo ấy phải dựa trên những nguyên tắc và những giới hạn nhất định.

Tiêu chí thứ hai mà Hội đồng thẩm phán Tòa án tối cao đưa ra để một bản án được lựa chọn làm án lệ đó là, bản án phải “có tính chuẩn mực”. Song như thế nào là chuẩn mực, dựa vào tiêu chí nào để đánh giá một bản án là chuẩn mực hay không thì chưa được hướng dẫn và làm rõ trong Nghị quyết này cũng như chưa tìm thấy trong các văn bản pháp luật hoặc văn bản hướng dẫn khác.

Ba là, về trình tự, thủ tục xây dựng án lệ

Theo quy định của Nghị quyết số 03/2015-NQ-HĐTP về quy trình lựa chọn và công bố án lệ, để tạo ra được một án lệ cụ thể cần thiết phải thông qua quy trình, thủ tục gồm những bước rất chặt chẽ. Tuy nhiên, thực tế vẫn tồn tại một số hạn chế như: Thiếu các ràng buộc pháp lý đối với các chủ thể có trách nhiệm rà soát các bản án, quyết định của Tòa án; việc lấy ý kiến đối với bản án, quyết định được đề xuất lựa chọn làm án lệ còn nhiều hạn chế.

Bốn là, về bãi bỏ, thay thế án lệ

- Đối với trường hợp bãi bỏ án lệ, được quy định tại khoản 1 Điều 9 Nghị quyết số 03/2015-NQ/HĐTP: “Trường hợp do sự thay đổi của Luật, Nghị quyết của Quốc hội, Pháp lệnh, Nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Nghị định của Chính phủ mà án lệ không còn phù hợp thì án lệ đương nhiên bị hủy bỏ”. Tuy nhiên, một án lệ như thế nào thì bị coi là “không còn phù hợp” với các văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội hay Chính phủ ban hành? Tiêu chí nào để đánh giá sự phù hợp hoặc không phù hợp ấy? Chủ thể nào là chủ thể có thẩm quyền rà soát, đánh giá về tính phù hợp hay không của án lệ so với các văn bản quy phạm pháp luật, đặc biệt là các văn bản quy phạm pháp luật mới ban hành? Đây là những vấn đề cần thiết mà Tòa án tối cao phải làm rõ để việc áp dụng án lệ sau này không có những sai lầm không đáng có.

Hơn thế, mặc dù quy định các trường hợp án lệ bị hủy bỏ, tuy nhiên, Nghị quyết này lại không có quy định cụ thể nào về việc công bố việc án lệ bị hủy bỏ cũng như quy định về thời điểm không còn hiệu lực của án lệ bị hủy bỏ. Như vậy, nếu trong trường hợp có quy định của pháp luật mới ban hành làm quyết định trong án lệ không còn phù hợp và đương nhiên bị hủy bỏ thì thời điểm nào được xác là thời điểm án lệ không còn hiệu lực, là thời điểm quy định mới được ban hành hay thời điểm quy định mới đó phát sinh hiệu lực? Nếu một vụ việc xảy ra trong thời gian đã có quy định mới, nhưng quy định ấy chưa phát sinh hiệu lực thì còn có thể áp dụng án lệ để giải quyết hay không? Đây là một thiếu sót trong quy định về bãi bỏ án lệ ở nước ta hiện nay. Bên cạnh đó thì dù là án lệ đương nhiên bị “hủy bỏ” song Tòa án tối cao cũng nên công bố công khai, có thể là đối với từng án lệ hoặc theo danh sách những án lệ đương nhiên bị hủy bỏ theo định kỳ khi có các văn bản hay quy định mới ra đời làm mất hiệu lực của án lệ để người dân có thể dễ theo dõi và việc sử dụng cũng thuận lợi hơn.

- Với quy định về trường hợp xem xét hủy bỏ, thay thế án lệ do Hội đồng xét xử không áp dụng án lệ, Nghị quyết số 03/2015 của Hội đồng thẩm phán yêu cầu với những trường hợp này thì ngay sau khi tuyên án, hội đồng xét xử phải gửi kiến nghị thay thế án lệ về Tòa án nhân dân tối cao. Quy định có thể hiểu, Hội đồng thẩm phán muốn nói tới những trường hợp mà hội đồng xét xử phát hiện, nhận thấy những án lệ không còn phù hợp, không thể áp dụng và phát huy giá trị nữa nên không áp dụng thì cần kiến nghị ngay với Tòa án tối cao. Song để thể hiện được tinh thần ấy thì điều này cần được diễn đạt chi tiết, cụ thể hơn để tránh sự nhầm lẫn, hiểu sai.

3. Một số giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động xây dựng án lệ ở Việt Nam hiện nay.

3.1. Cần thống nhất nhận thức về án lệ

Trước hết, để xây dựng được hệ thống án lệ phát triển, có chất lượng và có giá trị sử dụng cao trên thực tế thì điều quan trọng hàng đầu là phải hoàn thiện các vấn đề nhận thức về lý luận. Chúng ta không chỉ cần nâng cao hiểu biết về chức năng, vai trò của án lệ trong khoa học pháp lý Việt Nam mà điều đặc biệt quan trọng hơn là cần có nhận thức đúng đắn về án lệ. Cần phải đưa ra một cách hiểu thống nhất và đúng đắn về bản chất án lệ bởi chỉ khi có nhận thức đúng về án lệ thì chúng ra mới có thể xây dựng những án lệ đúng nghĩa của nó.

Hiện nay, hầu hết các quan niệm về án lệ ở nước ta đều chỉ công nhận án lệ hình thành trong quá trình giải thích pháp luật, là những bản án chưa đựng các lập luận, phân tích để giải thích các quy định của pháp luật còn nhiều cách hiểu chưa thống nhất mà không thừa nhận vai trò sáng tạo pháp luật của thẩm phán. Bên cạnh đó, chúng ta cũng chưa có sự nhận thức rõ ràng khi tìm hiểu về án lệ và đặt nó trong mối quan hệ với các khái niệm tương đồng, vẫn còn có sự nhầm lẫn một số khái niệm.

Ngay trong Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, ở Điều 1 khi đưa ra khái niệm án lệ thì chỉ định nghĩa một cách chung chung là những lập luận, phán quyết trong bản án của Tòa án để giải quyết một vụ việc cụ thể, tức có thể bao gồm cả những lập luận giải thích pháp luật hoặc những lập luận dựa vào công lý, lẽ phải để giải quyết vụ việc đó (sự sáng tạo pháp luật của tòa án). Tuy nhiên đến Điều 2, khi quy định về tiêu chí lựa chọn án lệ thì tiêu chí đầu tiên mà Nghị quyết này đưa ra lại là: “phải chứa đựng các lập luận để làm rõ quy định của pháp luật còn nhiều cách hiểu khác nhau”, tức là chỉ thừa nhận những án lệ có chứa đựng sự giải thích pháp luật. Như thế, ngay trong văn bản pháp luật chính thức của chúng ta cũng chưa có sự thống nhất về án lệ.

Chính vì vậy, điều đầu tiên chúng ra cần làm hiện nay là phải thống nhất quan điểm về án lệ và hiểu án lệ đúng bản chất của nó để lựa chọn đúng bản án là án lệ có chất lượng. Thiết nghĩ, hiện nay với tình hình xã hội còn nhiều biến đổi, mới bước đầu chính thức công nhận và sử dụng án lệ trong xét xử, các điều kiện, đặc biệt là điều kiện về nhân lực mà cụ thể là các thẩm phán còn chưa bảo đảm thì có thể chỉ thừa nhận án lệ chứa đựng sự giải thích pháp luật. Trong thời gian tới, khi quan niệm về án lệ cũng như hệ thống án lệ đã phát triển, trình độ của các thẩm phán cũng như các điều kiện khác có thể đáp ứng thì cần phải mở rộng quan niệm án lệ không chỉ là những sự giải thích pháp luật mà còn là những sáng kiến pháp luật mới hình thành trong quá trình xét xử, đưa án lệ về đúng với bản chất của nó.

Để làm được điều này thì nghiên cứu và đào tạo luật chính là giải pháp để hình thành kiến thức pháp lý nền tảng cho đội ngũ thẩm phán, hội thẩm, luật gia và chuyên gia pháp lý. Cần phải xây dựng các chương trình đào tạo, các buổi hội thảo, tọa đàm liên quan đến án lệ để tuyên truyền cũng như thống nhất và mở rộng quan niệm án lệ ở nhiều góc độ tiếp cận khác nhau. Các cơ sở đào tạo luật cần cải cách chương trình và phương thức đào tạo, bổ sung các nội dung liên quan đến lý luận về án lệ, phân tích liên hệ các vụ án, án lệ trong thực tiễn.

3.2. Hoàn thiện các quy định của pháp luật về án lệ

Thừa nhận và chính thức áp dụng án lệ ở Việt Nam đặt ra yêu cầu phải sửa đổi các quy định của Hiến pháp năm 2013 và các văn bản khác có liên quan đến án lệ:

Thứ nhất, cần sửa đổi quy định về thẩm quyền giải thích pháp luật trong Hiến pháp năm 2013. Theo đó Điều 102 Hiến pháp năm 2013 cần sửa đổi theo hướng ghi nhận thẩm quyền giải thích pháp luật cho Tòa án nhân dân tối cao. Có như vậy mới đảm bảo vai trò của Tòa án trong việc tạo lập án lệ, vì án lệ luôn hàm chứa việc giải thích pháp luật. Đồng thời, việc quy định thẩm quyền này cho Tòa án nhân dân tối cao sẽ giúp tăng thêm tính độc lập và nâng cao chất lượng xét xử của Tòa án.

Thứ hai, cần hoàn thiện quy định pháp luật về quy trình lựa chọn và công bố án lệ. Như đã phân tích ở trên, Nghị quyết 03/2015/NQ-HĐTP dù đã đưa ra những quy định chi tiết về quy trình lựa chọn và công bố án lệ song vẫn còn có những điểm chưa thực sự rõ ràng cần khắc phục, bao gồm:

(i) Quy định chi tiết hơn đối với các tiêu chí lựa chọn án lệ theo hướng mở rộng đối tượng là các phán quyết của Tòa án áp dụng các nguồn khác ngoài văn bản quy phạm pháp luật để lựa chọn làm án lệ. Đặc biệt là với tiêu chí bản án, quyết định phải “mang tính chuẩn mực”, Tòa án tối cao cần có sự giải thích và hướng dẫn rõ ràng dựa trên những tiêu chí nào, mức độ ra sao thì một bản án, quyết định được coi là có tính chuẩn mực? Về nội dung, hình thức của bản án, quyết định của Tòa án phải đáp ứng được các yêu cầu gì? Chỉ khi có những tiêu chí và sự quy định rõ ràng như vậy thì các Tòa án cũng như các cá nhân, tổ chức trong xã hội mới có thể xem xét để lựa chọn và đề xuất những bản án, quyết định có đáp ứng các tiêu chí này làm án lệ và khi đó, sự lựa chọn của Hội đồng thẩm phán Tòa án tối cao cũng mang tính thuyết phục hơn.

(ii) Pháp luật cần có các quy định về trách nhiệm pháp lý đối với những người có thẩm quyền trong việc đề xuất và lựa chọn án lệ. Có như vậy mới nâng cao được tinh thần và trách nhiệm của những người có thẩm quyền lựa chọn và đề xuất những bản án, quyết định của Tòa án để lựa chọn làm án lệ. Đồng thời, thông qua những quy định này, năng lực và chất lượng xét xử sẽ được nâng cao, qua đó mới có được những bản án, quyết định đạt tiêu chuẩn để đề xuất lựa chọn làm án lệ.

(iii) Quy định cụ thể hơn về trách nhiệm tiếp thu ý kiến và trách nhiệm giải trình việc tiếp thu ý kiến của các chủ thể trong khâu lấy ý kiến đối với bản án, quyết định được đề xuất lựa chọn thành án lệ. Chỉ khi có sự công khai đối với quá trình tiếp thu ý kiến thì mới tránh được tình trạng áp đặt ý kiến chủ quan của các chủ thể có thẩm quyền trong lựa chọn và nâng cao chất lượng các án lệ.

3.3. Nâng cao chất lượng xét xử của Tòa án các cấp

Án lệ được tạo ra bởi các Tòa án trong quá trình xét xử các vụ việc thực tế, bởi vậy, để tạo ra các án lệ có chất lượng thì ngay từ khi xét xử, các thẩm phán cần phải đảm bảo việc xét xử phải đúng pháp luật, bảo đảm được công bằng, mang tính thuyết phục, đặc biệt là đối với những vụ việc được nhiều người quan tâm. Để nâng cao chất lượng xét xử của Tòa án đòi hỏi phải thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ, trong đó cần hết sức chú ý nâng cao năng lực, phẩm chất của thẩm phán, sự kết hợp của các cơ quan hữu quan trong quá trình điều tra, truy tố xét xử cũng như việc tăng cường chất lượng tranh tụng tại tòa án. Tòa án phải tạo điều kiện để bảo đảm yếu tố tranh tụng tại tòa cũng như việc khuyến khích các thẩm phán đưa ra được quan điểm, lập luận của riêng mình, tất cả các lập luận của các thẩm phán đều cần thiết phải được ghi lại trong bản án, tránh tình trạng các thẩm phán trong hội đồng xét xử không đưa ra lý lẽ của riêng mình mà phụ thuộc vào người khác để có được sự đồng thuận cao.

Bên cạnh đó, để có một án lệ có chất lượng thì cũng cần thiết phải xem xét đến tiêu chuẩn hình thức và nội dung của các bản án, quyết định của Tòa án. Hiện nay, nước ta không có một tiêu chuẩn chung thống nhất cho các bản án của hệ thống Tòa án, kể cả Tòa án nhân dân tối cao. Trong khi đó, các bản án muốn được lựa chọn là án lệ cần chứa đựng trong đó các thông tin về tình tiết vụ án và các lập luận của Tòa án giải thích rõ lý do cho việc áp dụng pháp luật, mà thực tế với cách viết bản án như hiện nay ở nước ta thì nội dung của các phần lập luận hầu như không rõ ràng. Bởi thế, các Tòa án cần thiết phải có sự nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm của nước ngoài đê đi đến sự thống nhất về thay đổi đối với cách viết bản án, quyết định của mình. Một bản án thuyết phục được tuyên bởi Tòa án để có thể lựa chọn làm án lệ không chỉ dựa trên các cơ sở pháp lý mà về hình thức phải rõ ràng, tỉ mỉ, ghi rõ các lập luận của thẩm phán về lý do vì sao các quy định pháp luật lại được áp dụng đối với vụ án đó; về nội dung, cần phải mở rộng các nguồn tài liệu để đưa ra lập luận pháp lý của thẩm phán, bao gồm cả tập quán, nguyên tắc pháp luật, lẽ phải, lẽ công bằng,… chứ không chỉ đơn thuần là phụ thuộc vào văn bản quy phạm pháp luật.

3.4. Đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ chuyên môn cũng như tập huấn về án lệ đối với thẩm phán, hội thẩm, luật sư và các chức danh tư pháp khác

Án lệ là sản phẩm của sự sáng tạo của các thẩm phán trong quá trình áp dụng pháp luật, bởi thế để có được các án lệ chất lượng thì vai trò của thẩm phán là vô cùng quan trọng. Trong tiến trình xây dựng hệ thống án lệ ở Việt Nam hiện nay, vấn đề đặc biệt quan trọng và cần thiết chính là nâng cao năng lực của thẩm phán, hội thẩm nhân dân, luật sư cũng như các chức danh tư pháp khác. Để làm được điều này cần:

Một là, mở các khóa tập huấn, bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn của thẩm phán, hội thẩm nhân dân, luật sư cũng như các chức danh tư pháp khác. Trong đó xây dựng chương trình đi sâu vào phổ biến, đào tạo về án lệ, bao gồm cả các vấn đề lý luận và thực tiễn về án lệ để các thẩm phán có được nhận thức đúng đắn về vai trò, vị trí và giá trị của án lệ;

Hai là, đào tạo thẩm phán, hội thẩm nhân dân, luật sư cũng như các chức danh tư pháp khác, nâng cao trình độ chuyên môn để tăng cường khả năng lập luận cũng như xét xử, viết các bản án đáp ứng được các tiêu chí để lựa chọn làm án lệ;

Ba là, tổ chức các buổi tập huấn, tọa đàm, trao đổi kinh nghiệm để các thẩm phán, hội thẩm nhân dân, luật sư cũng như các chức danh tư pháp khác ở Việt Nam có thể học hỏi và tiếp thu kinh nghiệm của nước ngoài, bao gồm cả các nước trong hệ thống pháp luật Common Law và Civil Law.

Bốn là, tăng cường sự trao đổi, kết nối giữa hoạt động thực tiễn và hoạt động nghiên cứu khoa học pháp lý của các thẩm phán hội thẩm nhân dân, luật sư cũng như các chức danh tư pháp khác để họ không chỉ có được kinh nghiệm thực tế và còn có khả năng tự hoàn thiện các vấn đề lý luận đối với bản thân mình.

ThS. Phí Thị Thanh Tuyền

Trường Đại học Luật Hà Nội


[1]Xem: Điều 3 Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP ngày 28/10/2015 về “Quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ”.

[2]Xem: Điều 4 Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP ngày 28/10/2015 về “Quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ”.

[3]Xem: Điều 6 Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP ngày 28/10/2015 về “Quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ”.

[4]Xem: Điều 7 Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP ngày 28/10/2015 về “Quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ”.

[5]Xem: Điều 3 Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP ngày 28/10/2015 về “Quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ”.

[6] Xem khoản 2 Điều 74 Hiến pháp 2013.

[7] Xem Điều 2 Nghị quyết 03/2015/NQ-HĐTP về quy trình lựa chọn và công bố án lệ.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.

Theo dõi chúng tôi trên: