Thứ ba 17/03/2026 05:11
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện thể chế về thu hồi tài sản cho Nhà nước trong các vụ án hình sự về tham nhũng, kinh tế ở Việt Nam hiện nay

Việc thu hồi tài sản bị thất thoát, chiếm đoạt cho Nhà nước là một tiêu chí quan trọng đánh giá hiệu lực, hiệu quả công tác xét xử các vụ án hình sự về tham nhũng, kinh tế trong bối cảnh Đảng và Nhà nước ta đẩy mạnh công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực với phương châm “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”.

1. Một số vướng mắc, bất cập của pháp luật về thu hồi tài sản cho Nhà nước trong các vụ án hình sự về tham nhũng, kinh tế ở Việt Nam

Trong những năm gần đây, việc thu hồi tài sản bị thất thoát, chiếm đoạt cho Nhà nước trong các vụ án hình sự về tham nhũng, kinh tế luôn có tính thời sự và nhận được sự quan tâm đặc biệt của xã hội. Thực tế cho thấy, việc thu hồi tài sản cho Nhà nước được thể hiện chủ yếu trong quá trình thi hành bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực thi hành và kết quả thu hồi tài sản phụ thuộc nhiều vào các biện pháp mà các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng trong quá trình giải quyết vụ án. Thực tế thi hành các bản án, quyết định hình sự về tham nhũng, kinh tế trong thời gian qua, nhất là đối với các “đại án”, cho thấy rằng, việc thu hồi tài sản cho Nhà nước sau xét xử còn gặp một số khó khăn, thách thức; tỷ lệ thu hồi tài sản còn thấp và chưa thực sự đáp ứng yêu cầu công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở nước ta hiện nay. Điều này xuất phát từ một trong những nguyên nhân cơ bản là còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập về thể chế ảnh hưởng đến hiệu lực, hiệu quả thu hồi tài sản bị thất thoát, chiếm đoạt, cụ thể là:

Thứ nhất, về tịch thu, kê biên tài sản trong quá trình tố tụng:

Pháp luật tố tụng hình sự của nước ta chủ yếu quy định trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng trong việc đấu tranh, làm rõ hành vi phạm tội mà chưa quy định cụ thể, rõ ràng trách nhiệm trong việc phát hiện, xác minh tài sản có nguồn gốc phạm tội nên các cơ quan tiến hành tố tụng chưa chú trọng việc xác minh, truy tìm tài sản của bị can, bị cáo để áp dụng các biện pháp ngăn chặn, tạo cơ sở cho việc xử lý sau xét xử. Ví dụ: Điều 45 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định: “Tịch thu tài sản chỉ được áp dụng đối với người bị kết án về tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng xâm phạm an ninh quốc gia, tội phạm về ma túy, tham nhũng hoặc tội phạm khác do Bộ luật này quy định” và Điều 128 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “1. Kê biên tài sản chỉ áp dụng với bị can, bị cáo về tội mà Bộ luật Hình sự quy định hình phạt tiền hoặc có thể bị tịch thu tài sản hoặc để đảm bảo bồi thường thiệt hại… 3. Chỉ kê biên phần tài sản tương ứng với mức có thể bị phạt tiền, bị tịch thu hoặc phải bồi thường thiệt hại”.

Với các quy định trên, trong nhiều vụ án hình sự về tham nhũng, kinh tế, cơ quan tiến hành tố tụng có thể áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với tài sản của bị can, bị cáo nhưng không thể biết chắc rằng khi xét xử thì người phạm tội có bị Hội đồng xét xử tuyên phạt tiền, tịch thu tài sản hay bồi thường thiệt hại hay không. Đặc biệt là, nếu cần áp dụng biện pháp ngăn chặn tài sản thì cũng rất khó xác định phần tài sản phải kê biên tương ứng với mức có thể bị phạt tiền, bị tịch thu, bồi thường như thế nào, trong khi cơ quan tiến hành tố tụng phải tiến hành nhiều trình tự, thủ tục giám định thiệt hại và định giá tài sản trong tố tụng hình sự theo quy định pháp luật3 gây mất thời gian, chi phí ảnh hưởng đến thời hạn tiến hành tố tụng. Vì vậy, trong nhiều vụ án, đến giai đoạn thi hành án, người phải thi hành án không có tài sản để thi hành án hoặc có tài sản nhưng giá trị rất nhỏ so với nghĩa vụ phải thi hành do trước đó đã tẩu tán, nhờ người khác đứng tên quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc không xác định rõ phần sở hữu của người phải thi hành án trong khối tài sản chung với người khác.

Thứ hai, về phân chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình:

Trong các vụ án tham nhũng, kinh tế, việc cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng biện pháp phong tỏa, kê biên tài sản để bảo đảm thi hành nghĩa vụ của bị can, bị cáo có ý nghĩa rất quan trọng cho việc thu hồi tài sản. Tuy nhiên, trong quá trình thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự cũng gặp khó khăn khi vợ hoặc chồng của người bị kết án cho rằng tài sản mà cơ quan tiến hành tố tụng kê biên là tài sản chung và phải tuân thủ đúng quy định tại Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Vì vậy, trong nhiều trường hợp nếu Tòa án không xác định rõ tài sản đã phong tỏa, kê biên thuộc quyền sở hữu riêng hay sở hữu chung của bị cáo với người khác thì dễ bị lợi dụng để trốn tránh nghĩa vụ thi hành án hoặc kéo dài thời gian thi hành án thông qua việc thực hiện quyền khởi kiện phân chia tài sản chung theo pháp luật.

Thứ ba, về việc thi hành nghĩa vụ liên đới:

Khoản 1 Điều 288 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Nghĩa vụ liên đới là nghĩa vụ do nhiều người cùng phải thực hiện và bên có quyền có thể yêu cầu bất cứ ai trong số những người có nghĩa vụ phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ”. Tuy nhiên, trên thực tế, trong nhiều vụ án tham nhũng, kinh tế, cơ quan thi hành án dân sự cũng gặp khó khăn khi thi hành nghĩa vụ liên đới, bởi vì, người phải thi hành án chỉ chấp nhận thi hành phần nghĩa vụ của mình, không đồng ý thi hành phần nghĩa vụ thay cho người khác và nếu cơ quan thi hành án dân sự cưỡng chế, kê biên, xử lý tài sản của họ để thi hành nghĩa vụ thay cho người khác thì dễ phát sinh khiếu nại, tố cáo, chống đối quyết liệt từ phía người phải thi hành án.

Thứ tư, việc thi hành án đối với một số loại tài sản đặc thù trong các vụ án tham nhũng, kinh tế như cổ phần, cổ phiếu, phần vốn góp chưa được quy định cụ thể, rõ ràng để thuận lợi cho việc xử lý; pháp luật về phá sản quy định về căn cứ tạm đình chỉ, đình chỉ thi hành án (trong đó có cả các vụ việc thu hồi tài sản trong các vụ án tham nhũng, kinh tế) còn bất cập nên dễ bị các doanh nghiệp phải thi hành án lợi dụng để mở thủ tục phá sản nhằm trốn tránh nghĩa vụ, kéo dài thời gian thi hành án.

Thứ năm, về cơ chế xử lý hành vi vi phạm pháp luật trong thi hành án dân sự:

Để bảo đảm thi hành nghiêm chỉnh các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật cũng như thu hồi tài sản, pháp luật đã quy định cơ chế xử lý hành chính và xử lý hình sự đối với các hành vi vi phạm pháp luật trong thi hành án dân sự, đặc biệt là Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã quy định một số tội danh như: Tội không thi hành án (Điều 379), Tội không chấp hành án (Điều 380), Tội cản trở việc thi hành án (Điều 381), Tội vi phạm việc niêm phong, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản (Điều 385). Tuy nhiên, do pháp luật cũng chưa có hướng dẫn cụ thể nên thực tế áp dụng quy định pháp luật để xử lý các hành vi không chấp hành án, chống đối, cản trở việc thi hành án còn hạn chế, ảnh hưởng đến kết quả thu hồi tài sản. Ví dụ như: Khoản 1 Điều 380 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) (Tội không chấp hành án) quy định: “Người nào có điều kiện mà không chấp hành bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật mặc dù đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế theo quy định của pháp luật hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm”, nhưng pháp luật cũng chưa có quy định cụ thể như thế nào là “đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế”4. Khoản 1 Điều 165 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014, năm 2022) quy định: “Người phải thi hành án cố ý không chấp hành bản án, quyết định; không tự nguyện thi hành các quyết định về thi hành án thì tùy theo tính chất và mức độ vi phạm mà bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật” lại chưa thống nhất với khoản 5 Điều 162 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014, năm 2022): “Tẩu tán hoặc làm hư hỏng tài sản để không thực hiện nghĩa vụ thi hành án hoặc để trốn tránh việc kê biên tài sản” là hành vi vi phạm hành chính”.

2. Hoàn thiện quy định pháp luật về thu hồi tài sản cho Nhà nước trong các vụ án hình sự về tham nhũng, kinh tế

Việc thu hồi tài sản bị thất thoát, chiếm đoạt cho Nhà nước là một tiêu chí quan trọng đánh giá hiệu lực, hiệu quả công tác xét xử các vụ án hình sự về tham nhũng, kinh tế trong bối cảnh Đảng và Nhà nước ta đẩy mạnh công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực với phương châm “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”. Vì vậy, việc thể chế hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng thành các quy định pháp luật để nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản bị thất thoát, chiếm đoạt cho Nhà nước có ý nghĩa rất quan trọng. Dưới góc độ thể chế, trong thời gian tới, các cơ quan có thẩm quyền cần sớm hoàn thiện các quy định pháp luật để nâng cao hiệu lực, hiệu quả thu hồi tài sản cho Nhà nước, cụ thể như:

Thứ nhất, cần quy định trách nhiệm của Tòa án trong việc xác định tài sản bị kê biên, xử lý thuộc quyền sở hữu riêng hay sở hữu chung của bị cáo với người khác (kể cả trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung hay riêng của vợ chồng) để tránh bị lợi dụng nhằm trốn tránh nghĩa vụ thi hành án hoặc kéo dài thời gian thi hành án thông qua việc thực hiện quyền khởi kiện phân chia tài sản chung theo pháp luật.

Thứ hai, nghiên cứu, xây dựng trình tự, thủ tục riêng (hoặc thủ tục rút gọn) về xử lý tài sản trong các vụ án về tham nhũng, kinh tế, bởi vì việc thu hồi tài sản hiện nay áp dụng chung theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự nên còn bộc lộ một số bất cập; việc xử lý tài sản kéo dài, gây mất thời gian, chi phí khi tuân thủ các trình tự, thủ tục của cơ quan, tổ chức liên quan.

Thứ ba, nghiên cứu xây dựng trình tự, thủ tục riêng về kê biên, xử lý cổ phần, cổ phiếu để thi hành án, thu hồi tài sản cho Nhà nước nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc hiện nay.

Thứ tư, nghiên cứu hoàn thiện các quy định về bảo toàn tối đa giá trị tài sản từ giai đoạn điều tra (khi tài sản bị kê biên, phong tỏa) trong các vụ án hình sự về tham nhũng, kinh tế, bởi vì, hiệu quả của công tác thu hồi tài được tính bằng giá trị tiền, tài sản thu hồi được cho Nhà nước. Do đó, để bảo toàn tối đa giá trị tài sản, cần xây dựng cơ chế xử lý tài sản kê biên, phong tỏa trước khi bản án có hiệu lực nhằm bảo toàn tối đa giá trị tài sản bị kê biên nhưng vẫn bảo vệ quyền sở hữu và giá trị chứng minh tội phạm theo quy định pháp luật. Thực tế là, tài sản bị kê biên, phong tỏa thường bị giảm giá trị theo thời gian (nhất là các tài sản là máy móc, nhà xưởng, cổ phần, cổ phiếu, ô tô, dây chuyền sản xuất, thiết bị điện tử...) nên cần quy định việc xử lý tài sản kê biên, phong tỏa trước khi bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (nếu có sự thỏa thuận, thống nhất của chủ sở hữu, sử dụng tài sản) để tránh thiệt hại cho Nhà nước và cho chính người phạm tội sau này. Trường hợp không có sự thống nhất của chủ sở hữu, sử dụng tài sản thì cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản khi bản án, quyết định có hiệu lực thi hành.

Thứ năm, nghiên cứu, quy định cụ thể hơn trách nhiệm, quyền hạn của Tòa án trong thi hành án dân sự, nhất là trách nhiệm phối hợp trong giải quyết yêu cầu, kiến nghị xem xét lại bản án, quyết định của Tòa án theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm; thụ lý và kịp thời giải quyết yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự, đương sự về việc xác định quyền sở hữu, phân chia tài sản hoặc giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu, sử dụng tài sản; hủy giấy tờ, giao dịch phát sinh trong quá trình thi hành án thuộc thẩm quyền của Tòa án; quy định rõ trách nhiệm của Tòa án về cách thức, phương án khắc phục hậu quả các bản án, quyết định đã thi hành xong nhưng nội dung quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm lại khác với nội dung đã được quyết định trước đó.

Thứ sáu, nghiên cứu, bổ sung quy định của Viện kiểm sát nhân dân về kiểm sát việc bán đấu giá tài sản của các tổ chức bán đấu giá tài sản, vì hiện nay hợp đồng dịch vụ bán đấu giá tài sản thi hành án là hợp đồng dân sự nên Viện kiểm sát nhân dân chưa được quy định thẩm quyền kiểm sát./.

Lê Tuấn Sơn

Tổng cục Thi hành án dân sự


3 Nghị định số 30/2018/NĐ-CP ngày 07/3/2018 của Chính phủ quy định chi tiết việc thành lập và hoạt động của Hội đồng định giá tài sản; trình tự, thủ tục định giá tài sản trong tố tụng hình sự.

4 “Đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế” có thể được hiểu là đã được tống đạt quyết định cưỡng chế hoặc đã bị tổ chức cưỡng chế trên thực tế.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.

Theo dõi chúng tôi trên: