Chủ nhật 13/09/2026 00:01
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoạt động của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã tại tỉnh Hà Giang - Thực tiễn và kiến nghị[1]

Trong phạm vi bài viết này, nhóm tác giả đã phân tích thực trạng của hệ thống pháp luật, thực tiễn hoạt động và những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã tại tỉnh Hà Giang, từ đó, đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp xã trong thời gian tới.

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp xã là một trong hai thành tố của chính quyền địa phương ở cấp xã (xã, phường, thị trấn). HĐND cấp xã là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên. Tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của HĐND là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta và là yêu cầu cấp thiết trong giai đoạn hiện nay nhằm ngày càng hoàn thiện thiết chế dân chủ, bảo đảm cho Nhân dân thực hiện được quyền lực của mình. Nâng cao năng lực hoạt động của HĐND cũng chính là điều kiện quan trọng để bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với toàn xã hội cũng như bảo đảm thực hiện cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”. Với vai trò là yếu tố cấu thành của HĐND cấp xã, hiệu quả hoạt động của HĐND cấp xã sẽ được quyết định trước hết bởi chất lượng hoạt động của đại biểu HĐND cấp mình.

1. Thực trạng pháp luật về hoạt động của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã

Thứ nhất, về nhiệm vụ của đại biểu Hội đồng nhân dân

Theo Điều 6 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2019 (sau đây gọi là Luật Tổ chức chính quyền địa phương), thì HĐND gồm các đại biểu HĐND do cử tri ở địa phương bầu ra, là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên. Cũng theo quy định của pháp luật hiện hành đại biểu HĐND nói chung và đại biểu HĐND cấp xã có trách nhiệm sau:

- Trách nhiệm tham dự kỳ họp HĐND[2]: Đại biểu HĐND có trách nhiệm tham dự đầy đủ các kỳ họp, phiên họp HĐND, tham gia thảo luận và biểu quyết các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND. HĐND hoạt động thông qua kỳ họp, HĐND họp mỗi năm ít nhất hai kỳ gồm kỳ họp thường lệ và kỳ họp chuyên đề, do vậy, trách nhiệm của đại biểu HĐND là phải tham dự kỳ họp HĐND. Trường hợp đại biểu HĐND không tham dự kỳ họp, phiên họp thì phải có lý do và phải báo cáo trước với Chủ tịch HĐND, nếu đại biểu HĐND không tham dự các kỳ họp liên tục trong 01 năm mà không có lý do thì Thường trực HĐND phải báo cáo HĐND để bãi nhiệm đại biểu HĐND đó.

- Trách nhiệm tiếp xúc cử tri[3]: Đại biểu HĐND là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân địa phương, chịu trách nhiệm trước cử tri địa phương và trước HĐND về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đại biểu của mình. Đại biểu HĐND phải liên hệ chặt chẽ với cử tri nơi mình thực hiện nhiệm vụ đại biểu, chịu sự giám sát của cử tri, có trách nhiệm thu thập và phản ánh trung thực ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị của cử tri; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cử tri; thực hiện chế độ tiếp xúc cử tri và ít nhất mỗi năm một lần báo cáo với cử tri về hoạt động của mình và của HĐND nơi mình là đại biểu, trả lời những yêu cầu và kiến nghị của cử tri. Sau mỗi kỳ họp HĐND cấp xã, đại biểu HĐND cùng cấp có trách nhiệm báo cáo với cử tri về kết quả của kỳ họp, phổ biến và giải thích các nghị quyết của HĐND, vận động và cùng với Nhân dân thực hiện các nghị quyết đó.

- Trách nhiệm của đại biểu HĐND trong việc tiếp công dân, tiếp nhận và xử lý khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân[4]: Tiếp công dân là một trong những hình thức liên hệ với cử tri của đại biểu HĐND, tiếp công dân để thu thập ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị của cử tri. Đại biểu HĐND có trách nhiệm tiếp công dân theo quy định của pháp luật. Khi nhận được khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân, đại biểu HĐND có trách nhiệm nghiên cứu, kịp thời chuyển đến người có thẩm quyền giải quyết và thông báo cho người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị biết; đôn đốc, theo dõi và giám sát việc giải quyết.

Thứ hai, về quyền hạn của đại biểu Hội đồng nhân dân

Ngoài những trách nhiệm nêu trên thì Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định đại biểu HĐND có một số quyền để bảo đảm thực hiện tốt trách nhiệm của đại biểu cụ thể như sau: Quyền chất vấn (Điều 96), quyền kiến nghị (Điều 97), quyền của đại biểu HĐND khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật (Điều 98), quyền của đại biểu HĐND trong việc yêu cầu cung cấp thông tin (Điều 99), quyền miễn trừ của đại biểu HĐND (Điều 100).

2. Thực tiễn hoạt động của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã tại tỉnh Hà Giang

2.1. Những kết quả đạt được

Về việc tham gia thực hiện chức năng quyết định tại kỳ họp: Đại biểu HĐND cấp xã tham dự đầy đủ các kỳ họp thường lệ và chuyên đề của HĐND theo đúng văn bản triệu tập của Thường trực HĐND cùng cấp. Việc thảo luận và biểu quyết tại các kỳ họp được Thường trực HĐND cấp xã điều hành một cách linh hoạt, tạo điều kiện cho các đại biểu được tham gia phát biểu thảo luận, nói lên tiếng nói của cử tri nơi địa bàn mình ứng cử. Từ đầu nhiệm kỳ đến nay, HĐND cấp xã trên địa bàn tỉnh đã ban hành trên 3.000 nghị quyết về các lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, là cơ sở pháp lý cho để tổ chức thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh trên địa bàn. Sau khi các nghị quyết được ban hành đều được tổ chức triển khai thực hiện một cách đồng bộ, hiệu quả.

Về hoạt động giám sát: Tại các kỳ họp HĐND cấp xã, các đại biểu HĐND cùng cấp đã thực hiện hoạt động giám sát thông qua việc xem xét các báo cáo của Ủy ban nhân dân, báo cáo của Thường trực HĐND và các ban của HĐND trình tại kỳ họp. Trên cơ sở báo cáo thẩm tra của các ban, nghiên cứu các tài liệu có liên quan, các đại biểu HĐND cấp xã đã tập trung thảo luận những vấn đề trọng tâm, trọng điểm đặc biệt là kết quả thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia tại địa phương.

Đối với hoạt động chất vấn tại kỳ họp, đây không chỉ là quyền mà còn là trách nhiệm của đại biểu trước cử tri. Trong nhiệm kỳ này các đại biểu cũng đã có những bước tiến bộ nhất định so với nhiệm kỳ trước; một số xã, thị trấn trong chương trình kỳ họp thường lệ đều tổ chức hoạt động chất vấn và có ít nhất từ một đại biểu chất vấn, điển hình như huyện Vị Xuyên qua 126 kỳ họp có 320 câu hỏi chất vấn; huyện Mèo Vạc có trên 150 lượt câu hỏi chất vấn/90 kỳ họp. Nội dung chất vấn tập trung vào các lĩnh vực mà đông đảo cử tri quan tâm, đặc biệt là liên quan đến lĩnh vực quản lý, sử dụng tài sản công; quản lý tài chính, ngân sách; xây dựng cơ bản; quản lý đất đai; chế độ chính sách… Qua đây cho thấy năng lực của đại biểu ngày càng được nâng lên, việc trả lời chất vấn và cam kết của người bị chất vấn trong giải quyết các vấn đề chất vấn sẽ là cơ sở để giải quyết những vướng mắc, tồn tại nảy sinh trong quá trình quản lý, điều hành, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, thúc đẩy sự phát triển kinh kế xã hội ở địa phương.

Đối với hoạt động giám sát chuyên đề, đại biểu HĐND cấp xã đều thực hiện nghiêm túc trong việc tham gia Đoàn giám sát của Ban hoặc của HĐND, Thường trực HĐND khi được mời giám sát tại địa bàn ứng cử. Từ đầu nhiệm kỳ đến nay, HĐND, Thường trực HĐND, các Ban HĐND cấp xã đã tổ chức được trên 2.350 cuộc giám sát chuyên đề. Thông qua giám sát đã có kiến nghị với Ủy ban nhân dân cùng cấp, các cơ quan, tổ chức có liên quan về việc thực thi pháp luật và quản lý nhà nước trên các lĩnh vực ở địa phương.

Về hoạt động tiếp xúc cử tri: Các đại biểu HĐND cấp xã đã thực hiện tốt yêu cầu, nhiệm vụ tiếp xúc cử tri trước và sau các kỳ họp thường lệ. Thường trực HĐND đã phối hợp với Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp tổ chức được gần 1.500 cuộc tiếp xúc cử tri cho đại biểu HĐND cấp xã, tiếp nhận trên 6.000 ý kiến, kiến nghị chuyển đến các cơ quan có thẩm quyền. Hoạt động tiếp xúc cử tri được đổi mới cả về nội dung và hình thức, có nơi đã tổ chức tiếp xúc cử tri hai cấp, tiếp xúc cử tri chuyên đề hoặc tiếp xúc cử tri nơi cư trú.

Về hoạt động tiếp công dân và tiếp nhận và xử lý khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân: Thường trực HĐND cấp xã đã xây dựng lịch và bố trí địa điểm tiếp công dân cho đại biểu HĐND cùng cấp. Các đại biểu HĐND cấp xã thực hiện nghiêm việc tiếp công dân theo thời gian và địa điểm đã được thông báo. Việc tiếp công dân của đại biểu HĐND cấp xã tiếp tục được đổi mới theo hướng gần dân, sát dân, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Nhân dân. Từ đầu nhiệm kỳ đến nay, các đại biểu HĐND cấp xã đã tiếp trên 12.000 lượt công dân, tiếp nhận trên 3.000 kiến nghị, phản ánh của công dân gửi đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Tổ chức nhiều diễn đàn để đại biểu HĐND có thể tiếp nhận được nhiều nhất tâm tư, nguyện vọng của người dân như diễn đàn “người dân nói đại biểu lắng nghe” (huyện Hoàng Su Phì và
Mèo Vạc).

2.2. Một số tồn tại, hạn chế

Bên cạnh những kết quả đạt được nêu trên trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của người đại biểu HĐND cấp xã tại tỉnh Hà Giang vẫn còn có những tồn tại, hạn chế làm ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của HĐND cùng cấp, cụ thể:

- Về việc tham gia thảo luận tại kỳ họp chủ yếu tập trung ở các đại biểu HĐND chuyên trách, đại biểu HĐND là Bí thư chi bộ, trưởng các thôn, bản, cá biệt vẫn còn có những đại biểu HĐND cấp xã từ đầu nhiệm kỳ đến nay chưa tham gia phát biểu lần nào. Nội dung thảo luận của đại biểu trong một số trường hợp chưa thể hiện sự đầu tư, nghiên cứu sâu dẫn đến vẫn còn có những nghị quyết được ban hành nhưng chưa bảo đảm tính khả thi thậm chí có những nghị quyết chưa phù hợp với quy định của pháp luật.

- Về giám sát chuyên đề, đây là hoạt động mang tính chuyên môn sâu đòi hỏi đại biểu phải có những am hiểu nhất định về lĩnh vực mà HĐND, Thường trực HĐND, các ban của HĐND giám sát. Tuy nhiên, qua thực tiễn cho thấy, có những đại biểu khi được mời chỉ tham gia cho đủ thành phần, ít hoặc không đưa ra ý kiến. Việc thực hiện quyền chất vấn của đại biểu cũng chưa được đầy đủ, vẫn còn tình trạng nể nang, né tránh trong chất vấn. Tỷ lệ đại biểu tham gia chất vấn và tranh luận tại kỳ họp thấp, câu hỏi chất vấn còn chung chung, mang tính kiến nghị, đề nghị không đi đến tận cùng vấn đề cần chất vấn. Chưa địa phương nào tổ chức được phiên giải trình, chất vấn giữa hai kỳ họp để đại biểu HĐND thực hiện quyền của mình.

- Về tiếp xúc cử tri mặc dù đã được triển khai bằng nhiều hình thức nhưng số cuộc tiếp xúc cử tri chuyên đề, tại cơ quan và nơi cư trú còn hạn chế. Việc phân loại ý kiến, kiến nghị của cử tri để chuyển cơ quan có thẩm quyền giải quyết vẫn còn lúng túng, có nhiều ý kiến kiến nghị thuộc thẩm quyền của cấp xã giải quyết hoặc có thể trả lời cử tri ngay nhưng vẫn tổng hợp để gửi lên cấp trên dẫn đến số lượng ý kiến, kiến nghị tồn đọng, chậm giải quyết lớn.

- Việc thực hiện các quyền đại biểu HĐND gồm: Quyền kiến nghị; quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức hữu quan thi hành những biện pháp cần thiết để kịp thời chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật; quyền yêu cầu cung cấp thông tin hầu như chưa được thực hiện trên thực tiễn.

3. Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã tại tỉnh Hà Giang

- Về trình độ chuyên môn, chính trị của đại biểu, chất lượng của đội ngũ đại biểu HĐND cấp xã là yếu tố tác động trực tiếp đến hoạt động HĐND cùng cấp, chính vì vậy, đòi hỏi người đại biểu phải là những người có đủ phẩm chất, năng lực, trình độ và tinh thần trách nhiệm cao. Tuy nhiên, việc giới thiệu đại biểu ứng cử hiện nay còn khá nặng về cơ cấu, chưa thực sự chú trọng về chất lượng đại biểu, chưa lấy tiêu chuẩn về trình độ, năng lực làm tiêu chí chính nên phần nào cũng ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả hoạt động của HĐND. Ở Hà Giang, nhiệm kỳ 2021 - 2026, có 55,82% đại biểu HĐND cấp xã đạt trình độ đại học; đại biểu có trình độ sau đại học là 3,13%; dưới đại học 46,66. Từ thực tế hoạt động của đại biểu cho thấy, đại biểu vẫn chưa mạnh dạn tham gia các hoạt động phát biểu, thảo luận tại kỳ họp; khi được mời tham gia thảo luận vào những vấn đề lớn, quan trọng của địa phương thì còn lúng túng, chưa sâu. Đại biểu cơ cấu ở thôn, bản còn thiếu tự tin, ngại va chạm trong việc thực hiện quyền và trách nhiệm của mình. Bên cạnh trình độ học vấn thì trình độ lý luận chính trị cũng là một nhân tố có tác động, ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động của đại biểu.

- Về kỹ năng hoạt động của đại biểu, được biểu hiện trên các mặt cụ thể như: Xây dựng kế hoạch hoạt động; tiếp xúc cử tri, tiếp công dân; khai thác, thu thập thông tin; chất vấn, kỹ giám sát… Số đại biểu HĐND cấp xã đang là cán bộ thôn, bản, cư trú ở vùng sâu, vùng xa, ít có điều kiện tiếp cận với các nguồn thông tin nên còn thiếu nhiều kỹ năng hoạt động, đặc biệt là kỹ năng thảo luận, chất vấn, cho nên số lượng đại biểu tham gia hoạt động thảo luận, chất vấn tại kỳ họp còn rất hạn chế, nếu có thì cũng chỉ mang tính chất đề nghị chung chung, chưa đề xuất được những giải pháp mang tính trọng điểm, lâu dài. Do thiếu kỹ năng, nên còn nhiều đại biểu chưa xây dựng chương trình, kế hoạch công tác cá nhân dẫn đến hoạt động thiếu tính chủ động, một số hoạt động chưa được quan tâm, thực hiện thường xuyên như tiếp công dân định kỳ, giám sát, tiếp xúc cử tri. Sự hợp tác, trao đổi giữa các đại biểu trong hoạt động của HĐND bị hạn chế, chưa thực sự có sự chia sẻ kinh nghiệm để cùng nhau thực hiện hết vai trò, trách nhiệm của người đại biểu HĐND.

- Về chính sách đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn, số lượng đại biểu HĐND xã lần đầu tham gia HĐND ở nhiệm kỳ 2021 - 2026 chiếm tỷ lệ cao (53,79%), trong đó có nhiều đại biểu được cơ cấu từ các thành phần dân tộc khác nhau, cư trú tại thôn, bản, chưa từng tham gia công tác nên gặp rất nhiều những khó khăn trong quá trình thực hiện vai trò, trách nhiệm của đại biểu dân cử. Để giải quyết được khó khăn này thì vấn đề đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn là vô cùng cần thiết để trang bị cho đại biểu những kỹ năng cơ bản của một người đại biểu, tuy nhiên, hiện nay, việc đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn kỹ năng hoạt động cho đại biểu còn nặng về lý luận, thiếu thực tiễn. Vì vậy, mặc dù được tập huấn nhưng kỹ năng của đại biểu chưa thực sự được nâng lên; đa số đại biểu hoạt động theo kiểu vừa học vừa làm, dẫn đến chất lượng, hiệu quả hoạt động còn hạn chế. Các lớp bồi dưỡng, tập huấn thường tổ chức đại trà, khối lượng kiến thức cung cấp cho các đại biểu như nhau, chưa có sự phân lớp theo trình độ, cho các đại biểu tái cử hoặc đại biểu tham gia lần đầu, dẫn đến chất lượng không cao, nhiều đại biểu thấy không có nhu cầu và hứng thú theo dõi.

- Tác động của đặc điểm tự nhiên, kinh tế, văn hoá, xã hội địa phương, thực tế cho thấy, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội có tác động lớn đến hoạt động của đại biểu HĐND cấp xã. Đa số các xã của tỉnh Hà Giang có vị trí địa lý phức tạp, hiểm trở, giao thông đi lại khó khăn, nhiều thôn bản chưa có đường giao thông trong khi số lượng đại biểu đến từ các thôn, bản lại chiếm phần lớn, do đó đã ảnh hưởng đến việc tham gia các hoạt động của đại biểu HĐND, hầu như các đại biểu chỉ tham dự các kỳ họp, còn các hoạt động khác thì hạn chế, do vậy, vai trò, trách nhiệm của người đại biểu HĐND chưa được phát huy tối đa, dẫn đến chất lượng, hiệu quả hoạt động của HĐND cấp xã không cao. Nhiều thôn, bản chưa có điện lưới quốc gia, chưa có được phủ sóng mạng điện thoại nên hạn chế đến việc cập nhật, thu thập thông tin về chính trị, đời sống kinh tế - xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến việc đại biểu tham gia quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương.

- Về cơ chế, chính sách, cơ sở vật chất, đây là yếu tố quan trọng, không thể thiếu nhằm góp phần bảo đảm hiệu quả hoạt động của các đại biểu HĐND cấp xã. Theo Điều 103 Luật Tổ chức chính quyền địa phương, các điều kiện bảo đảm cho hoạt động của đại biểu HĐND đã được quy định tương đối cụ thể nhưng các mức chi còn thấp, chưa phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội và tính chất đặc thù của đại biểu dân cử. Trưởng ban của HĐND các xã hoạt động kiêm nhiệm, không được hưởng chế độ phụ cấp. Chế độ, chính sách dành cho đại biểu chưa tương xứng với vị trí, nhiệm vụ, quyền hạn mà pháp luật quy định, chưa đủ để khích lệ và động viên đại biểu tham gia hoạt động đáp ứng vai trò, trách nhiệm ngày càng cao của cơ quan và đại biểu dân cử trong giai đoạn hiện nay. Cùng với đó là việc bố trí chỗ làm việc, trang thiết bị văn phòng phục vụ công việc chưa được quan tâm đúng mức, do đó ảnh hưởng đến hiệu quả, chất lượng hoạt động của các ban của HĐND cấp xã.

4. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã trên địa bàn tỉnh Hà Giang

Thứ nhất, nâng cao chất lượng đại biểu HĐND và tổ chức của HĐND cấp xã. Khi xây dựng phương án cần có định hướng để lựa chọn được những đại biểu có trình độ, năng lực, tâm huyết, uy tín. Coi trọng việc kiện toàn cơ cấu tổ chức bộ máy, tăng cường đại biểu hoạt động chuyên trách có chất lượng làm nòng cốt thúc đẩy hoạt động của HĐND cấp xã. Để nâng cao hiệu quả hoạt động của HĐND, trước hết phải đổi mới công tác hiệp thương, giới thiệu người ra ứng cử đại biểu HĐND, không nên nặng về cơ cấu mà nên coi trọng phẩm chất, trình độ, năng lực công tác, tâm huyết với hoạt động của HĐND.

Thứ hai, Thường trực, các ban và đại biểu của HĐND không ngừng chủ động, sáng tạo nhằm cải tiến, đổi mới nội dung và phương thức hoạt động phù hợp với điều kiện thực tế tại mỗi địa phương. Thực tế đã cho thấy, địa phương nào mà cấp ủy Đảng quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên, chặt chẽ và định hướng nội dung hoạt động, bố trí đúng cán bộ cho HĐND thì nơi đó hoạt động của HĐND hiệu quả. Do đó, đòi hỏi cấp ủy ở cơ sở cần tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức và hoạt động của HĐND, đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của cấp ủy Đảng ở địa phương đối với hoạt động của HĐND, quan tâm công tác quy hoạch, đào tạo, phân công cán bộ có tâm, có tầm làm công tác HĐND để xây dựng HĐND thật sự là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương.

Thứ ba, đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức bồi dưỡng, tập huấn kỹ năng hoạt động cho đại biểu HĐND; chủ yếu tập trung vào nội dung nâng cao kiến thức, năng lực về kỹ năng giám sát, đánh giá và phản biện xã hội của đại biểu HĐND; kỹ năng khảo sát, thu thập thông tin để làm cơ sở cho việc thảo luận và ban hành nghị quyết. Tổ chức các cuộc hội thảo theo từng chủ đề, lĩnh vực; tăng cường trao đổi kinh nghiệm hoạt động cho các đại biểu HĐND và nâng cao hiệu quả công tác tham mưu, giúp việc trong hoạt động của HĐND.

Thứ tư, đại biểu HĐND phải liên hệ chặt chẽ với cử tri, lắng nghe ý kiến, tâm tư nguyện vọng của cử tri, phản ánh kịp thời, trung thực những ý kiến, kiến nghị của cử tri đến HĐND và cơ quan, tổ chức hữu quan để xem xét, giải quyết.

Thứ năm, duy trì mối quan hệ phối hợp công tác giữa Thường trực HĐND, Ủy ban nhân dân, Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp trong công tác chuẩn bị kỳ họp của HĐND và các hoạt động trong quá trình tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ tại địa phương.

Để HĐND cấp xã thật sự đại diện cho Nhân dân, phải bắt đầu từ vai trò, trách nhiệm và năng lực của từng đại biểu HĐND cấp xã. Đại diện cho ý chí và nguyện vọng của Nhân dân địa phương là vai trò quan trọng nhất và cốt yếu nhất đối với đại biểu HĐND cấp xã, chính vì vậy, vai trò, hoạt động của đại biểu sẽ quyết định sự thành công, chất lượng của HĐND cấp xã. Việc nghiên cứu, nhận thức đúng và đầy đủ về thực trạng, các yếu tố tác động đến hoạt động của đại biểu HĐND cấp xã sẽ giúp cho HĐND cùng cấp và các cơ quan có thẩm quyền có định hướng, giải pháp để đổi mới về tổ chức và nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động của HĐND, xứng đáng là cơ quan quyền lực của nhân dân ở cấp cơ sở.

Nhóm nghiên cứu Đề tài

[1]. Bài viết trong khuôn khổ Đề tài khoa học cấp tỉnh: “Nghiên cứu đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của đại biểu HĐND cấp xã tại tỉnh Hà Giang”. Người thực hiện: ThS. Thào Hồng Sơn - Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Hà Giang (Chủ nhiệm Đề tài); CN. Chúng Thị Chiên - Phó Chủ tịch Thường trực HĐND tỉnh Hà Giang; ThS. Mua Hồng Sinh - Phó Trưởng Ban Dân tộc, HĐND tỉnh Hà Giang; ThS. Nguyễn Thị Thanh Thủy - Trưởng Ban Pháp chế, HĐND tỉnh Hà Giang (Thư ký khoa học).

[2]. Điều 93 Luật Tổ chức chính quyền địa phương.

[3]. Điều 94 Luật Tổ chức chính quyền địa phương.

[4]. Điều 95 Luật Tổ chức chính quyền địa phương.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 399), tháng 2/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Trong bước chuyển mình của đất nước bước vào kỷ nguyên mới, văn hóa đang được đặt ở vị trí ngày càng quan trọng trong chiến lược phát triển quốc gia. Cùng với đó, con người được xác định là trung tâm của sự nghiệp phát triển văn hóa khi vừa là chủ thể sáng tạo, gìn giữ, vừa là lực lượng trực tiếp biến những giá trị ấy thành nguồn lực phát triển cho đất nước.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.

Theo dõi chúng tôi trên: