Thứ bảy 24/10/2026 00:10
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Kết hợp giáo dục pháp luật với giáo dục đạo đức cho hạ sỹ quan, chiến sỹ ở các sư đoàn bộ binh hiện nay

Tóm tắt: Bài viết đề cập đến vấn đề kết hợp giữa giáo dục pháp luật với giáo dục đạo đức cho hạ sỹ quan, chiến sỹ ở các sư đoàn bộ binh nhằm hình thành ý thức pháp luật, nhân cách đạo đức, hành vi xử sự của hạ sỹ quan, chiến sỹ ở các sư đoàn bộ binh đáp ứng cao nhất yêu cầu đòi hỏi của nhiệm vụ trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Tóm tắt: Bài viết đề cập đến vấn đề kết hợp giữa giáo dục pháp luật với giáo dục đạo đức cho hạ sỹ quan, chiến sỹ ở các sư đoàn bộ binh nhằm hình thành ý thức pháp luật, nhân cách đạo đức, hành vi xử sự của hạ sỹ quan, chiến sỹ ở các sư đoàn bộ binh đáp ứng cao nhất yêu cầu đòi hỏi của nhiệm vụ trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


Abstract: The article deals with the problem of combining legal education with ethical education for non-commissioned officers and soldiers in infantry pisions to form legal awareness, ethical personality and behavior of the non-commissioned officers and soldiers in the infantry pisions to meet the highest requirements of the task of building and defending the Socialist Republic of Vietnam.

Giáo dục pháp luật và giáo dục đạo đức luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, được quy định khách quan bởi mối quan hệ hữu cơ giữa pháp luật và đạo đức. Trước khi Nhà nước và pháp luật ra đời, xã hội đã được điều chỉnh bằng các quy phạm đạo đức. Khi pháp luật trở thành phương tiện chủ yếu để Nhà nước quản lý xã hội, thì đạo đức vẫn giữ một vai trò quan trọng và không thể thiếu trong điều chỉnh hành vi con người. Nếu pháp luật chỉ đảm bảo thực hiện bằng quyền lực nhà nước thôi thì khó đi vào cuộc sống. Chính đạo đức và các quy phạm xã hội khác giúp cho pháp luật không chỉ thực hiện nghiêm túc mà còn thực hiện một cách tự giác, tự nguyện. Nhưng pháp luật không chỉ dựa vào đạo đức để đi vào đời sống xã hội, mà pháp luật còn là một trong những phương tiện để Nhà nước đưa các quan điểm, quan niệm đạo đức của giai cấp thống trị thành các quy phạm đạo đức chính thống trong xã hội; đây là sự chuyển hóa các quy phạm đạo đức thành quy phạm pháp luật. Các quy phạm pháp luật tiến bộ đều có sự phù hợp với đạo đức. Pháp luật càng phù hợp với đạo đức thì hiệu quả điều chỉnh càng cao.

Hạ sỹ quan, chiến sỹ ở các sư đoàn bộ binh trong Quân đội là lực lượng đông đảo tạo nên sức mạnh chiến đấu của sư đoàn. Sự lãnh đạo, chỉ huy các cấp, chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên đến công việc hằng ngày trong đơn vị do lực lượng đông đảo hạ sỹ quan, chiến sỹ thực hiện. Có thể nói, sự thành công hay thất bại trong thực hiện nhiệm vụ của sư đoàn chủ yếu cũng dựa vào lực lượng hạ sỹ quan, chiến sỹ này. Chính vì vậy, thông qua giáo dục chính trị, tư tưởng, giáo dục pháp luật kết hợp với giáo dục đạo đức để đưa quan điểm tư tưởng của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống của hạ sỹ quan, chiến sỹ. Xây dựng lòng yêu nước, tự hào dân tộc, niềm tin vào mục tiêu, lý tưởng xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đã xác định. Để hạ sỹ quan, chiến sỹ điều chỉnh những hành vi đúng đắn theo pháp luật, giải quyết hợp lý những vấn đề thực tiễn quân sự đặt ra. Xây dựng cho hạ sỹ quan, chiến sỹ nhân cách quân nhân, niềm tự hào và trách nhiệm của bản thân đối với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Kết hợp giáo dục pháp luật với giáo dục đạo đức cho hạ sỹ quan, chiến sỹ ở các sư đoàn bộ binh trong Quân đội là một trong những nội dung quan trọng trong chương trình giáo dục ở đơn vị. Cùng với những kiến thức đã có những hiểu biết về pháp luật và giá trị đạo đức mà hạ sỹ quan, chiến sỹ lĩnh hội trong quá trình giáo dục, rèn luyện, tu dưỡng là một trong những điều kiện quan trọng để hình thành phát triển toàn diện nhân cách của chính họ. Trong những năm qua, việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật gắn với giáo dục đạo đức trong các sư đoàn bộ binh được quan tâm đổi mới cả về nội dung, hình thức, phương pháp và đã đạt được những kết quả đáng kể. Song bên cạnh đó vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định như: Trong quá trình giáo dục, truyền thụ kiến thức cho hạ sỹ quan, chiến sỹ vẫn còn chung chung, chưa có sự phối kết hợp chặt chẽ, chưa thành hệ thống vững chắc. Nặng về truyền đạt nội dung chứ chưa chú trọng kết hợp với định hướng kỹ năng sống theo pháp luật cho hạ sỹ quan, chiến sỹ. Các điều kiện bảo đảm thực hiện giáo dục cho hạ sỹ quan, chiến sỹ còn nhiều bất cập. Do đó, chất lượng giáo dục pháp luật còn thấp, tình trạng xuống cấp về đạo đức, vi phạm pháp luật của hạ sỹ quan, chiến sỹ còn xảy ra nhiều, thậm chí có vụ việc nghiêm trọng. Vì vậy, việc kết hợp giáo dục pháp luật với giáo dục đạo đức cho hạ sỹ quan, chiến sỹ ở các sư đoàn bộ binh là rất cần thiết; cần tập trung vào một số nội dung yêu cầu cơ bản sau:

Một là, kết hợp giáo dục pháp luật với giáo dục đạo đức phải hướng đến việc hình thành kỹ năng sống theo pháp luật cho hạ sỹ quan, chiến sỹ

Kết hợp giáo dục pháp luật với giáo dục đạo đức cho hạ sỹ quan, chiến sỹ suy đến cùng là để nâng cao nhận thức, tình cảm, thái độ pháp luật đúng đắn; sự hiểu biết về những chuẩn mực đạo đức, tình cảm, những tri thức mới phải được hiện thực hóa thành những hành vi tích cực. Đây chính là một mặt của quá trình giáo dục thống nhất mà nếu thiếu nó hoạt động giáo dục trở nên đơn điệu. Vì vậy, kết hợp giáo dục pháp luật với giáo dục đạo đức phải hướng đến việc hình thành kỹ năng sống cho hạ sỹ quan, chiến sỹ ở các sư đoàn bộ binh trong Quân đội hiện nay.

Quan điểm “học” trong lịch sử giáo dục Việt Nam là “học” để làm người, nghĩa là để biết ứng xử với đời, được coi như là một mục tiêu quan trọng trong giáo dục hiện nay. Đảng ta xác định: “Tạo môi trường và điều kiện để phát triển về nhân cách, đạo đức, trí tuệ, năng lực sáng tạo, thể chất, tâm hồn, trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân, ý thức tuân thủ pháp luật”[1]. Cho nên, giáo dục pháp luật không chỉ cung cấp cho hạ sỹ quan, chiến sỹ kiến thức, thái độ pháp luật cần thiết để hình thành những kỹ năng pháp luật cơ bản phù hợp với môi trường Quân đội và đời sống xã hội. Kỹ năng sống theo pháp luật được hiểu là những hành vi sống và thực hiện theo pháp luật một cách đúng đắn, là kết quả tổng hợp của tri thức pháp luật, tình cảm, niềm tin pháp luật, ý chí, thái độ thực hiện đúng theo pháp luật được thể hiện bằng hành vi thực hiện pháp luật tự giác, tích cực, hợp lý. Nếu có kỹ năng sống theo pháp luật sẽ giúp hạ sỹ quan, chiến sỹ thực hiện đầy đủ các chức trách, nhiệm vụ của mình, đáp ứng, thích nghi, giải quyết có hiệu quả những yêu cầu, thách thức, đòi hỏi của cuộc sống thực tiễn pháp luật trong môi trường quân sự. Kỹ năng sống theo pháp luật được hình thành, củng cố qua quá trình thực hành trải nghiệm của hạ sỹ quan, chiến sỹ trong Quân đội.

Giáo dục kỹ năng sống theo pháp luật với mục tiêu là nhằm nâng cao trách nhiệm của hạ sỹ quan, chiến sỹ trong việc lựa chọn những hành vi pháp luật lành mạnh, biết từ chối những hành vi pháp luật không đúng tiêu cực. Hạ sỹ quan, chiến sỹ ngày nay phải đối mặt với nhiều tác động từ các tệ nạn xã hội. Sự bùng nổ của khoa học công nghệ thông tin hiện nay cũng tác động đến hạ sỹ quan, chiến sỹ với những tốt, xấu khác nhau.

Có được kỹ năng sống theo pháp luật, hạ sỹ quan, chiến sỹ sẽ biết nhìn nhận chính mình, muốn làm gì, với mục đích như thế nào trong cuộc sống, hoạt động quân sự; biết đặt mình trong mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, đồng thời có sự lựa chọn để quyết định đúng đắn những vấn đề do cuộc sống đưa đến. Để có được khả năng này, hạ sỹ quan, chiến sỹ được trang bị các kỹ năng như: Kỹ năng nhận biết bản thân, thông cảm với người khác, suy nghĩ sáng tạo, giao tiếp hiệu quả, giải quyết vấn đề, ra quyết định, ứng phó với cảm xúc và hóa giải stress... Hình thành kỹ năng sống theo pháp luật của hạ sỹ quan, chiến sỹ chỉ thành công với nhà giáo dục khi biết suy nghĩ, hành động một cách tích cực, tự giác tuân thủ theo pháp luật. Hạ sỹ quan, chiến sỹ phải chủ động phát huy tính tích cực chủ quan của chính họ mới biến nhận thức pháp luật thành hành động theo pháp luật đúng đắn. Nền tảng giáo dục kỹ năng sống theo pháp luật là ý thức về giá trị bản thân để hạ sỹ quan, chiến sỹ thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ được giao trong môi trường hoạt động quân sự.

Hai là, bảo đảm sự kết hợp hài hòa giữa giáo dục pháp luật, giáo dục đạo đức chung cho hạ sỹ quan, chiến sỹ với hoạt động giáo dục cá biệt riêng

Kết hợp giáo dục pháp luật với giáo dục đạo đức dù tiến hành dưới hình thức nào đi chăng nữa thì đối tượng tác động là hạ sỹ quan, chiến sỹ vẫn là những con người cụ thể. Hiện nay, ở các đơn vị cơ sở còn tồn tại một sôsố hạ sỹ quan, chiến sỹ có những tính cách, biểu hiện khác biệt mà ta gọi là “hạ sỹ quan, chiến sỹ cá biệt”. Đây là những hạ sỹ quan, chiến sỹ đã phát triển bình thường về thể chất, trí tuệ, nhưng ít tiếp thu từ người khác, khó giáo dục, thường vi phạm quy định đơn vị, kỷ luật Quân đội. Việc kết hợp giáo dục pháp luật với giáo dục đạo đức cho hạ sỹ quan, chiến sỹ cá biệt phải được tiến hành trong mối quan hệ với cái chung nhưng phải chú ý đến hoạt động giáo dục riêng biệt với đối tượng này.

Giáo dục cá biệt là những tác động của chủ thể giáo dục theo nội dung, hình thức, phương pháp riêng phù hợp với “hạ sỹ quan, chiến sỹ cá biệt” nhằm phòng ngừa, ngăn chặn, loại trừ những hành vi tiêu cực có thể dẫn đến vi phạm quy định đơn vị, kỷ luật Quân đội, hay các chuẩn mực đạo đức khác, nhằm tạo ra sự chuyển biến trong nhận thức và hành vi của riêng nhóm đối tượng này theo hướng tích cực. Giáo dục cá biệt với mục đích là nhằm phục vụ cho công tác phòng ngừa vi phạm pháp luật, vi phạm đạo đức, loại trừ những nhận thức lệch lạc về lối sống; giúp cho hạ sỹ quan, chiến sỹ nhận ra sai lầm và tự giác sửa chữa; đồng thời tạo ra môi trường lành mạnh cho quá trình phát triển nhân cách quân nhân trong đơn vị.

Giáo dục cá biệt đòi hỏi phải xác định được tính chất, mức độ sai phạm của từng hạ sỹ quan, chiến sỹ cụ thể, tránh định kiến, phải giáo dục bằng tình cảm yêu thương chân thành, sự cảm thông tôn trọng danh dự, nhân phẩm con người. Song bên cạnh đó, giáo dục cá biệt đòi hỏi chủ thể giáo dục phải tìm hiểu cá tính, trình độ nhận thức pháp luật và đạo đức, hoàn cảnh gia đình, quan hệ bạn bè của hạ sỹ quan, chiến sỹ để lựa chọn phương pháp tác động thích hợp nhằm đạt hiệu quả cao. Hơn nữa, thuộc đối tượng “cá biệt” nên những hạ sỹ quan, chiến sỹ này dễ bị “tiêm nhiễm” thói hư tật xấu, bị lôi kéo kích động vào việc thực hiện những hành vi tiêu cực sai trái khác. Do vậy, giáo dục cá biệt càng phải được tiến hành trong mối quan hệ chặt chẽ với công tác phòng ngừa, đấu tranh chống lại những hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm đạo đức khác trong các đơn vị Quân đội.

Cần có sự phối kết hợp giữa đơn vị Quân đội, địa phương xã hội, gia đình để giáo dục cho hạ sỹ quan, chiến sỹ. Hoặc quy định ràng buộc về mặt trách nhiệm trong việc phối hợp giữa các chủ thể để giáo dục cho hạ sỹ quan, chiến sỹ. Do vậy, yêu cầu hạ sỹ quan, chiến sỹ ở các sư đoàn bộ binh hiện nay cần có sự phối hợp giữa đơn vị Quân đội, địa phương xã hội, gia đình để giáo dục cho hạ sỹ quan, chiến sỹ. Yêu cầu trên thực tế việc thực hiện sự phối kết hợp này liên tục, thường xuyên và chặt chẽ; trong đó gia đình, địa phương xã hội là cơ sở cầu nối nền tảng để nâng cao chất lượng giáo dục pháp luật cho hạ sỹ quan, chiến sỹ. Còn các đơn vị Quân đội sẽ quyết định đến việc hình thành và phát triển chất lượng giáo dục, nâng cao ý thức pháp luật, hoàn thiện nhân cách của hạ sỹ quan, chiến sỹ.

Ba là, thực hiện tốt các điều kiện đảm bảo cần thiết để kết hợp giáo dục pháp luật với giáo dục đạo đức cho hạ sỹ quan, chiến sỹ

Giáo dục pháp luật kết hợp với giáo dục đạo đức có hiệu quả đòi hỏi yêu cầu tập trung vào một số vấn đề sau: Yêu cầu nội dung kết hợp giáo dục pháp luật với giáo dục đạo đức cho hạ sỹ quan, chiến sỹ; xây dựng mối quan hệ phối hợp giữa các chủ thể tham gia vào quá trình kết hợp giáo dục pháp luật với giáo dục đạo đức cho hạ sỹ quan, chiến sỹ. Từ đó, bảo đảm tính thống nhất kết hợp giáo dục pháp luật với giáo dục đạo đức cho hạ sỹ quan, chiến sỹ từ đơn vị Quân đội đến địa phương xã hội và gia đình. Mối quan hệ phối hợp giữa các chủ thể trên cơ sở tinh thần trách nhiệm và sự phân công rõ ràng về quyền hạn, nghĩa vụ, trách nhiệm; đồng thời phải xác định rõ nội dung cần phối hợp để bổ sung, hỗ trợ cho nhau trong quá trình giáo dục.

Yêu cầu hình thức kết hợp giáo dục pháp luật với giáo dục đạo đức cho hạ sỹ quan, chiến sỹ: Bảo đảm việc phối kết hợp cũng như việc thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm của từng chủ thể tham gia kết hợp giáo dục pháp luật với giáo dục đạo đức cho hạ sỹ quan, chiến sỹ. Công tác kết hợp giáo dục pháp luật với giáo dục đạo đức cho hạ sỹ quan, chiến sỹ được tiến hành theo những nội dung thống nhất cần xây dựng theo quy chế phối hợp công tác. Kết hợp giáo dục pháp luật với giáo dục đạo đức cho hạ sỹ quan, chiến sỹ có hiệu quả cần phát huy vị trí, vai trò của từng chủ thể, tạo ra sự bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau trong thực hiện nhiệm vụ. Đồng thời, đấu tranh khắc phục hạn chế trong từng chủ thể, tránh tình trạng đùn đẩy hay trách nhiệm chưa cao, thực hiện một cách tự phát, không nhất quán trong quá trình giáo dục.

Yêu cầu các điều kiện bảo đảm cho công tác kết hợp giáo dục pháp luật với giáo dục đạo đức cho hạ sỹ quan, chiến sỹ có hiệu quả: Cần bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn, kịp thời của cấp ủy Đảng, chỉ huy, tổ chức, lực lượng các cấp trong Quân đội trong kết hợp giáo dục pháp luật với giáo dục đạo đức cho hạ sỹ quan, chiến sỹ. Đảm bảo sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn, kịp thời của cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương đối với công tác kết hợp giáo dục pháp luật với giáo dục đạo đức cho hạ sỹ quan, chiến sỹ. Vị trí, vai trò, trách nhiệm của gia đình trong kết hợp giáo dục pháp luật với giáo dục đạo đức cho hạ sỹ quan, chiến sỹ. Đồng thời phù hợp với tình hình phát triển kinh tế, chính trị, xã hội, Quân đội, địa phương luôn là nhân tố quan trọng quyết định hiệu quả thành công của nhiệm vụ giáo dục. “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”[2].

Bảo đảm các điều kiện vật chất để kết hợp giáo dục pháp luật với giáo dục đạo đức cho hạ sỹ quan, chiến sỹ: Kết hợp giáo dục pháp luật với giáo dục đạo đức cho hạ sỹ quan, chiến sỹ là một bộ phận quan trọng trong xây dựng nhân cách người quân nhân toàn diện. Đây là một quá trình lâu dài và khó khăn, đòi hỏi phải có sự nghiên cứu nghiêm túc cả về lý luận và thực tiễn, đầu tư thích đáng về cơ sở vật chất. Thực tế cho thấy, nếu không có sự đầu tư thỏa đáng về vật chất thì hoạt động này sẽ không mang lại hiệu quả. Điều này xuất phát từ chỗ quá trình giáo dục bao giờ cũng có ba yếu tố quan trọng có sự tác động qua lại lẫn nhau: Chủ thể giáo dục, đối tượng giáo dục và điều kiện cơ sở vật chất. Trong đó, điều kiện giáo dục được hiểu như: Tài liệu học tập, phòng, lớp học, phương tiện giáo dục và nhiều mặt khác nữa. Nâng cao chất lượng giáo dục mà trọng tâm là giáo dục theo phương pháp mới nhưng nếu không có điều kiện bảo đảm thì không thể thực hiện được. Nếu ta bố trí lớp học cho hạ sỹ quan, chiến sỹ đông mà phòng học chật chội, các điều kiện bảo đảm khác kém chất lượng, không có máy tính, máy trình chiếu chẳng hạn, thì không thể áp dụng phương pháp giáo dục hiện đại; dễ gây tâm lý mệt nhọc, nhàm chán cho hạ sỹ quan, chiến sỹ, dẫn tới bầu không khí thiếu say mê nhiệt tình trong giáo dục.

Bảo đảm tính trung thực, khách quan trong kiểm tra, đánh giá kết quả kết hợp giáo dục pháp luật với giáo dục đạo đức cho hạ sỹ quan, chiến sỹ: Sản phẩm của giáo dục không ai khác chính là con người với ý nghĩa vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển xã hội. Những sai lầm trong giáo dục nếu không được phát hiện, sửa chữa kịp thời hoặc tuy được phát hiện nhưng đơn giản cho qua không sửa chữa sẽ dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng. Điều đó càng quan trọng hơn trong giáo dục đạo đức, nhân cách, lối sống cho hạ sỹ quan, chiến sỹ. Chỉ kiểm tra, đánh giá mới phát hiện kịp thời những sai sót, khuyết điểm, tìm ra được nguyên nhân, từ đó đưa ra biện pháp để khắc phục; phát hiện những điển hình tích cực nhằm động viên, khuyến khích, khen thưởng kịp thời. Kiểm tra, đánh giá phải bảo đảm trung thực, khách quan trên cơ sở những tiêu chí được xác định; phải nhận thức rõ những hạn chế, tồn tại bất cập, làm cơ sở để đưa ra những biện pháp khắc phục phù hợp. Các yêu cầu trên luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau nên trong quá trình thực hiện phải tiến hành đồng thời thì kết hợp giáo dục pháp luật với giáo dục đạo đức cho hạ sỹ quan, chiến sỹ mới mang lại hiệu quả cao.

Kết hợp giáo dục pháp luật với giáo dục đạo đức cho hạ sỹ quan, chiến sỹ ở các sư đoàn bộ binh hiện nay là một trong những nội dung quan trọng trong chương trình giáo dục ở đơn vị. Cùng với kiến thức cơ bản đã có trên các lĩnh vực, những hiểu biết về pháp luật và các giá trị đạo đức mà hạ sỹ quan, chiến sỹ được lĩnh hội trong quá trình giáo dục, huấn luyện, rèn luyện, tu dưỡng ở đơn vị. Trong quá trình giáo dục, các chủ thể giáo dục cần tác động đến đối tượng giáo dục pháp luật thông qua những biện pháp cơ bản; tập trung vào một số nội dung, yêu cầu như đã trình bày ở trên thì kết hợp giáo dục pháp luật với giáo dục đạo đức cho hạ sỹ quan, chiến sỹ ở các sư đoàn bộ binh hiện nay mới đạt hiệu quả cao. Đây cũng là một trong những điều kiện quan trọng đảm bảo sự phát triển toàn diện nhân cách của người hạ sỹ quan, chiến sỹ đáp ứng với mục tiêu, yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

TS. Đào Văn Minh

Học viện Lục quân




[1]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016; tr. 127.

[2]. Điều 2 Luật Giáo dục năm 2005.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: