Thứ bảy 07/02/2026 21:19
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Kiểm soát đối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền thương mại

Trên thực tế, mỗi chủ thể tiến hành kiểm soát quyền thương mại theo những cách thức không giống nhau. Nếu như Nhà nước sử dụng công cụ pháp luật để kiểm soát hoạt động nhượng quyền nói chung và quyền thương mại nói riêng trong thời điểm trước khi quyền thương mại được chuyển giao cho bên nhận quyền, thì công cụ được bên nhượng quyền sử dụng chính là những thỏa thuận mang tính ràng buộc các bên nhận quyền trong quá trình chuyển giao và sau khi chấm dứt việc sử dụng quyền thương mại.

1. Khái quát về kiểm soát đối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền thương mại

Về bản chất, khi lựa chọn phương thức kinh doanh nhượng quyền để tiến hành hoạt động kinh doanh, thương nhân nhượng quyền mong muốn có thể mở rộng quy mô kinh doanh bằng việc thiết lập một hệ thống cung ứng sản phẩm mang tính đồng bộ trên thị trường. Hay nói cách khác, hệ thống nhượng quyền mặc dù được hình thành từ sự kết hợp của các thương nhân hoàn toàn độc lập về tư cách pháp lý và chế độ tài chính, nhưng trong nhận thức của người tiêu dùng, tất cả các cơ sở kinh doanh trong hệ thống nhượng quyền đều chỉ là một, không có sự phân biệt. Điều này cũng làm nên sự độc đáo, khác biệt của hệ thống nhượng quyền so với các phương thức kinh doanh khác. Để có thể tạo ra sự đồng bộ trong hệ thống nhượng quyền, thương nhân nhượng quyền phải cho phép các thương nhân khác sao chép mô hình kinh doanh của mình khi họ có nhu cầu gia nhập hệ thống bằng cách chuyển giao quyền thương mại thông qua hợp đồng nhượng quyền. Điều quan trọng là, thương nhân nhận quyền phải vận hành quyền thương mại theo đúng các tiêu chuẩn, điều kiện mà thương nhân nhượng quyền đã sáng tạo ra. Vì vậy, bên cạnh nhu cầu bảo vệ quyền thương mại, thương nhân nhượng quyền có thêm nhu cầu kiểm soát đối tượng này đối với quá trình sử dụng của thương nhân nhận quyền. Thực hiện tốt hoạt động kiểm soát, thương nhân nhượng quyền cũng góp phần bảo vệ tài sản đặc biệt của hệ thống nhượng quyền một cách hiệu quả hơn.

Hay nói cách khác, ở một góc độ nhất định, để có thể bảo vệ được loại tài sản đặc thù này, bên nhượng quyền cần phải thực hiện việc kiểm soát nó trong quá trình chuyển giao cho bên nhận quyền. Chính yêu cầu phải bảo đảm tính đồng bộ và thống nhất trong toàn bộ hệ thống nhượng quyền đã buộc bên nhượng quyền phải thiết lập cơ chế kiểm soát quá trình các thương nhân nhận chuyển giao quyền thương mại vận hành nó trong quá trình kinh doanh. Như vậy, nhu cầu kiểm soát quyền thương mại trước hết đến từ thương nhân nhượng quyền (bao gồm cả thương nhân nhượng quyền sơ cấp và thứ cấp). Bên cạnh đó, Nhà nước cũng là một chủ thể có nhu cầu kiểm soát đối tượng này thông qua quy trình, thủ tục đăng ký quyền thương mại để thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với một hoạt động thương mại mang những đặc thù nhất định. Tuy nhiên, sự kiểm soát của Nhà nước chỉ ở giai đoạn đầu khi các thương nhân nhượng quyền muốn thực hiện hoạt động chuyển giao quyền thương mại cho các thương nhân khác trên thị trường. Trong khi đó, ở những giai đoạn tiếp theo, sự kiểm soát này của Nhà nước trở nên mờ nhạt hơn rất nhiều so với sự kiểm soát mang tính liên tục và chặt chẽ từ phía thương nhân nhượng quyền.

Trên thực tế, mỗi chủ thể tiến hành kiểm soát quyền thương mại theo những cách thức không giống nhau. Nếu như Nhà nước sử dụng công cụ pháp luật để kiểm soát hoạt động nhượng quyền nói chung và quyền thương mại nói riêng trong thời điểm trước khi quyền thương mại được chuyển giao cho bên nhận quyền, thì công cụ được bên nhượng quyền sử dụng chính là những thỏa thuận mang tính ràng buộc các bên nhận quyền trong quá trình chuyển giao và sau khi chấm dứt việc sử dụng quyền thương mại. Bằng các thỏa thuận hiện diện dưới dạng những điều khoản trong hợp đồng trên cơ sở một số quy định của pháp luật dưới dạng quyền và nghĩa vụ của các bên, bên nhượng quyền sẽ tiến hành kiểm tra, giám sát bên nhận quyền trong việc sử dụng quyền thương mại khi tiến hành hoạt động kinh doanh. Các điều khoản mang tính kiểm soát này có thể tồn tại dưới hai dạng nội dung là những nghĩa vụ bên nhận quyền phải tiến hành hoặc những hành vi bên nhận quyền không được phép thực hiện (bị cấm).

Điều quan trọng là, mỗi thời điểm khác nhau, các điều khoản nhằm kiểm soát quá trình vận hành của bên nhận quyền lại tồn tại dưới các dạng thức khác nhau: Tại thời điểm trước khi tiến hành việc chuyển giao quyền thương mại thông qua hợp đồng, thương nhân nhượng quyền phải thực hiện việc đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Một mặt, nhu cầu kiểm soát của thương nhân nhượng quyền là nhu cầu được Nhà nước ghi nhận quyền thương mại thông qua thủ tục đăng ký để sau này có cơ chế bảo vệ loài tài sản đặc biệt này của bên nhượng quyền. Mặt khác, cơ quan nhà nước cũng cần có nhu cầu quản lý hoạt động thương mại đặc thù này, vì vậy, Nhà nước cũng có nhu cầu nhận diện và kiểm soát đối tượng của hoạt động nhượng quyền được các bên chuyển giao cho nhau. Do đó, thông qua quy trình, thủ tục đăng ký đối với hoạt động nhượng quyền, nhu cầu kiểm soát và quản lý của cả bên nhượng quyền và Nhà nước đều được thực hiện. Trong khi đó, tại thời điểm tiến hành việc chuyển giao quyền thương mại, hoạt động kiểm soát của bên nhượng quyền hiện diện dưới dạng những thỏa thuận về quy trình kiểm tra, giám sát của bên này đối với việc vận hành quyền thương mại của thương nhân nhận quyền. Bên cạnh đó, có thể tồn tại những điều khoản mang tính nghĩa vụ mà thương nhân nhận quyền phải thực hiện nhằm bảo đảm thực hiện phương thức kinh doanh nhượng quyền đúng theo mô hình mà bên nhượng quyền đã xây dựng. Ngay cả sau khi tiến hành hoạt động nhượng quyền, tại thời điểm mà quyền sử dụng hợp pháp quyền thương mại của các bên nhận quyền đã chấm dứt theo thời hạn của hợp đồng, thì bên nhượng quyền vẫn tiếp tục kiểm soát đối với đối tượng được chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền thương mại. Bằng các thỏa thuận về nghĩa vụ của bên nhận quyền sau khi hợp đồng nhượng quyền chấm dứt, bên nhượng quyền có thể thực hiện được việc kiểm soát và bảo đảm an toàn cho đối tượng làm nên sự thành công của thương hiệu kinh doanh mà mình gây dựng.

Như vậy, pháp luật về vấn đề kiểm soát đối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền bao gồm những nội dung như: (i) Quy trình, thủ tục đăng ký trước khi tiến hành chuyển giao quyền thương mại; (ii) Quyền và nghĩa vụ của các bên trong quá trình sử dụng quyền thương mại; (iii) Quyền và nghĩa vụ của các bên sau khi thời hạn chuyển giao quyền thương mại chấm dứt. Tuy nhiên, trong khuôn khổ bài viết này, tác giả chỉ đi sâu vào nghiên cứu pháp luật về kiểm soát quyền thương mại trước khi chuyển giao cho thương nhân nhận quyền.

2. Thực trạng pháp luật về kiểm soát đối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền thương mại trước khi tiến hành chuyển giao

Bản chất của hoạt động nhượng quyền thương mại là một hoạt động thương mại được tiến hành giữa các chủ thể kinh doanh độc lập về tài chính và tư cách pháp lý thông qua việc bên nhượng quyền chuyền giao quyền thương mại - phương thức kinh doanh thành công của mình để xây dựng một hệ thống nhượng quyền mang tính đồng nhất về sản phẩm cũng như hệ thống nhận diện thương hiệu. Chính vì vậy, để thương nhân dự kiến nhượng quyền có thể chuyển giao mô hình kinh doanh do mình gây dựng cho các chủ thể khác dưới tên gọi nhượng quyền thương mại, thì họ phải chứng minh được sự thành công của mình trên thương trường. Trong trường hợp này, thước đo sự thành công của thương hiệu dự định thực hiện hoạt động nhượng quyền là sự trải nghiệm thị trường của thương hiệu đó. Đây là một tiêu chuẩn được lượng hóa thông qua thời gian hoạt động của thương nhân nhượng quyền dự kiến cho đến khi họ thực hiện việc chuyển giao quyền thương mại của mình.

Pháp luật của một số quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam đã quy định về thời hạn hoạt động của bên nhượng quyền dự định là một trong các điều kiện để thương nhân được thực hiện kinh doanh theo phương thức nhượng quyền. Bên cạnh yêu cầu phải là một thương nhân[1] khi tiến hành hoạt động nhượng quyền thương mại, điều kiện về thời hạn hoạt động trước đó của bên nhượng quyền thể hiện được giá trị của quyền thương mại mà thương nhân này sở hữu cũng như quy mô và mức độ chuyên nghiệp của thương nhân đặt nền móng cho thương hiệu nhượng quyền. Tuy nhiên, thời hạn hoạt động trước khi tiến hành nhượng quyền của thương nhân nhượng quyền dự kiến theo quy định của pháp luật các quốc gia khác nhau là không đồng nhất với nhau. Một số quốc gia quy định thời hạn này khá dài từ 03 - 05 năm như Hoa Kỳ hay Nhật Bản[2]. Trong khi đó, có những quốc gia quy định thời hạn hoạt động của bên nhượng quyền là khá ngắn khoảng 01 năm như Indonesia[3] hoặc tối thiểu là 01 năm như Việt Nam theo Điều 8 Nghị định số 08/2018/NĐ-CP ngày 15/01/2018 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số Nghị định liên quan đến điều kiện đầu tư, kinh doanh thuộc sự quản lý nhà nước của Bộ Công thương (Nghị định số 08/2018/NĐ-CP). Như vậy, theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, bên cạnh điều kiện phải đăng ký kinh doanh để một chủ thể được công nhận là thương nhân và tiến hành hoạt động nhượng quyền, thì cơ sở kinh doanh của họ phải có thời hạn hoạt động tối thiểu là 01 năm cho đến khi tiến hành chuyển giao quyền thương mại cho chủ thể khác. Đây cũng là một quy định mang tính điều kiện nhằm giúp Nhà nước kiểm soát mức độ an toàn và hiệu quả của hoạt động kinh doanh đặc biệt này.

Với tư cách là lĩnh vực hoạt động thương mại mới, nhượng quyền thương mại cần được tạo điều kiện để phát triển một cách tự do và nhanh chóng nên quy định khoảng thời gian ngắn để nhận biết giá trị quyền thương mại của bên nhượng quyền cũng là một trong những cách thức tiếp cận có ý nghĩa của pháp luật thương mại Việt Nam vào thời điểm hoạt động nhượng quyền mới được hình thành và bắt đầu phát triển ở Việt Nam. Tuy nhiên, ở thời điểm hiện tại, khi hoạt động nhượng quyền đã có những bước phát triển đáng kể và ngày càng được các thương nhân trong và ngoài nước ưa chuộng, thì những quy định mang tính điều kiện và kiểm soát kiểu này không còn thực sự thích hợp.

Bên cạnh đó, rất nhiều quốc gia quy định về thủ tục đăng ký hoạt động nhượng quyền của bên nhượng quyền dự kiến với cơ quan có thẩm quyền trước khi tiến hành hoạt động nhượng quyền trên thực tế. Có thể kể đến quy định về vấn đề đăng ký hoạt động nhượng quyền trong pháp luật của Indonesia như: Theo Điều 10 Quy định số 42 năm 2007 của Chính phủ, bên nhượng quyền và bên nhận nhượng quyền phải đăng ký kinh doanh với Bộ Thương mại không quá 01 năm sau khi Quy định số 42 năm 2007 của Chính phủ được ban hành ngày 23/7/2007. Bộ Thương mại sẽ cấp giấy chứng nhận đăng ký nhượng quyền nếu đề xuất đáp ứng các yêu cầu. Giấy chứng nhận đăng ký nhượng quyền có hiệu lực 05 năm và có thể được gia hạn[4]. Hoặc quy định về nhượng quyền trong Luật Cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng của Australia cũng đã đề cập đến nghĩa vụ đăng ký hoạt động nhượng quyền. Tương tự như các quốc gia khác, vấn đề này trong pháp luật Việt Nam cũng có những điểm tương đồng và khác biệt nhất định. Cụ thể, các thương nhân kinh doanh nhượng quyền ở Việt Nam tùy từng trường hợp sẽ phải thực hiện thủ tục đăng ký hoạt động nhượng quyền với cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Theo Nghị định số 35/2006/NĐ-CP ngày 31/3/2006 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động nhượng quyền thương mại và Nghị định số 08/2018/NĐ-CP, vấn đề đăng ký hoạt động nhượng quyền chỉ phải thực hiện với trường hợp tiến hành hoạt động nhượng quyền từ nước ngoài vào Việt Nam và được thực hiện tại Bộ Công thương. Trong khi đó, theo quy định của Nghị định số 120/2011/NĐ-CP ngày 16/12/2011 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung thủ tục hành chính tại một số Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại, hoạt động nhượng quyền nội địa hoặc từ Việt Nam ra nước ngoài không phải làm tục đăng ký chỉ phải thực hiện thủ tục báo cáo bằng văn bản với Sở Công thương về vấn đề này.

Ngoài ra, trước khi tiến hoạt động chuyển giao quyền thương mại cho bên nhận quyền, thương nhân nhượng quyền phải bảo đảm quyền sở hữu hợp pháp đối với đối tượng làm nên sự thành công của thương hiệu nhượng quyền. Vì vậy, cần phải thực hiện thủ tục đăng ký để Nhà nước ghi nhận và bảo hộ đối với đối tượng của hợp đồng nhượng quyền sau này. Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam và hầu hết các quốc gia trên thế giới đều không quy định trực tiếp về quyền thương mại như một đối tượng của hoạt động nhượng quyền có cơ chế xác định và bảo vệ riêng mà chỉ mô tả gián tiếp về các bộ phận cấu thành đối tượng này thông qua khái niệm về hoạt động nhượng quyền thương mại. Nghĩa là, chỉ có cơ chế ghi nhận từng bộ phận cấu thành nên quyền thương mại với tư cách là các yếu tố độc lập trong pháp luật Việt nam hiện hành. Trong khi đó, xét về bản chất, bộ phận cốt lõi cấu thành quyền thương mại trong quan hệ nhượng quyền lại là các yếu tố của quyền sở hữu trí tuệ và một số yếu tố khác kết hợp lại với nhau. Chính vì vậy, vấn đề đăng ký để được bảo vệ bởi cơ chế của Nhà nước đồng thời giúp bên nhượng quyền có thể kiểm soát được quyền thương mại của mình hiện nay được điều chỉnh chủ yếu bởi pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam.

Trên thực tế, pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam điều chỉnh các quyền sở về hữu trí tuệ một cách độc lập, không đặt trong mối quan hệ nhượng quyền. Do đó, trước khi tiến hành hoạt động nhượng quyền và chuyển giao quyền thương mại cho thương nhân khác, thương nhân nhượng quyền dự kiến sẽ phải tiến hành đăng ký bảo hộ các yếu tố cấu thành nên quyền thương mại với Cục Sở hữu trí tuệ (đối với những yếu tố sở hữu trí tuệ có căn cứ bảo vệ là được cấp văn bằng bảo hộ) và không thể đăng ký đối với những yếu tố hiện nay không được ghi nhận và bảo vệ bởi quy định của pháp luật. Đây cũng là một trong những hạn chế, bất cập trong quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề kiểm soát quyền thương mại của thương nhân nhượng quyền và của Nhà nước trước khi thương nhân này tiến hành chuyển giao đối tượng đó cho chủ thể khác. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này xuất phát từ sự thiếu vắng các quy định trong pháp luật hiện hành về vấn đề ghi nhận và xác định quyền thương mại trong quan hệ nhượng quyền. Vì vậy, cần hoàn thiện pháp luật về quyền thương mại mới có thể tạo ra cơ chế đăng ký và kiểm soát hữu hiệu đối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền trước khi tiến hành thủ tục chuyển giao tài sản đặc biệt này.

3. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về kiểm soát đối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền trước khi tiến hành chuyển giao

Pháp luật về kiểm soát quyền thương mại trong hoạt động nhượng quyền ở nước ta hiện nay được đánh giá là bộ phận pháp luật có sự tương đồng khá lớn với pháp luật của một số quốc gia trên thế giới và thông lệ quốc tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành về vấn đề này vẫn không tránh khỏi những hạn chế, bất cập nhất định như vấn đề về điều kiện để được chuyển giao quyền thương mại hoặc quy định về kiểm soát quá trình bên nhận quyền vận hành quyền thương mại hoặc các quy định về kiểm soát quyền thương mại sau khi hợp đồng nhượng quyền chấm dứt. Nguyên nhân của tình trạng này có thể đến từ nhiều yếu tố khác nhau nhưng không thể phủ nhận việc chưa có khái niệm quyền thương mại hoàn chỉnh, trọn vẹn, phản ánh đúng bản chất đặc biệt của đối tượng này là lý do chủ yếu làm cho các quy định về kiểm soát quyền thương mại hiện nay bộc lộ khá nhiều nhược điểm. Vì vậy, để có thể giải quyết những bất cập trong pháp luật về kiểm soát đối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền thương mại thì giải pháp đầu tiên là phải xây dựng được khái niệm quyền thương mại phản ánh đúng bản chất của đối tượng đặc biệt này.

Bên cạnh đó, vào thời điểm trước khi thực hiện hoạt động nhượng quyền, theo quy định của pháp luật thương mại Việt Nam, thương nhân nhượng quyền phải đáp ứng một số điều kiện nhất định. Trong đó, việc quy định về điều kiện hoạt động tối thiểu là 01 năm trước khi tiến hành nhượng lại quyền thương mại cho các thương nhân khác để cùng tiến hành hoạt động kinh doanh theo mô hình chung chỉ thực sự phù hợp vào thời điểm hoạt động nhượng quyền thương mại mới xuất hiện tại Việt Nam. Khi mà các thương nhân nhượng quyền và nhận quyền còn non trẻ và chưa có nhiều kinh nghiệm, quy định về thời hạn hoạt động tối thiểu của bên nhượng quyền là cần thiết để bảo đảm quyền kinh doanh mà họ dự kiến nhượng lại cho thương nhân khác có được một sự trải nghiệm thị trường nhất định. Điều này phần nào giúp phòng tránh được rủi ro cho thương nhân nhận quyền trong việc lựa chọn nhầm đối tác nhượng quyền và có thể bị rơi vào cảnh “tiền mất, tật mang”. Bên cạnh đó, quy định này còn nhằm chứng minh được mức độ thành công của phương thức kinh doanh được dự kiến nhượng quyền. Tuy nhiên, ở thời điểm hiện tại, khi đã trải qua 15 năm hoạt động nhượng quyền chính thức được ghi nhận ở cấp độ Luật, nhận thức và kinh nghiệm kinh doanh của các thương nhân đặc biệt là thương nhân nhận quyền đã nâng cấp ở một trình độ mới. Vì vậy, thương nhân nhận quyền có thể tự mình tìm hiểu, đánh giá về mức độ và khả năng thành công của thương hiệu nhượng quyền mà họ dự kiến gia nhập. Do đó, quy định thương nhân dự kiến nhượng quyền phải hoạt động ít nhất 01 năm trước khi thực hiện việc chuyển giao quyền thương mại cho chủ thể khác ở thời điểm hiện tại có thể không còn phù hợp và cần thiết nữa. Bởi lẽ, quy định này mục đích là để nhằm bảo đảm mức độ trải nghiệm thị trường và sự thành công của thương hiệu nhượng quyền. Từ đó, góp phần làm cho sự lựa chọn của thương nhân nhận quyền trở nên có cơ sở hơn. Tuy nhiên, hiện nay quyền tự chủ trong kinh doanh của các thương nhân đang ngày càng được Nhà nước công nhận và tạo mọi điều kiện để hiện thực hóa nó. Do đó, thương nhân nhận quyền hoàn toàn có thể chủ động tự do lựa chọn đối tác để nhận chuyển giao quyền thương mại. Đồng thời, họ lại có đầy đủ năng lực và kinh nghiệm để có thể đưa ra sự đánh giá về khả năng thành công của bên nhượng quyền mà họ lựa chọn. Vì vậy, điều kiện phải hoạt động tối thiểu 01 năm không phải là một bảo đảm chắc chắn cho sự thành công của thương hiệu mà họ dự kiến nhận chuyển giao quyền thương mại. Ngay cả trong trường hợp một thương nhân kinh doanh nhượng quyền nhưng chưa đủ điều kiện một năm, cũng hoàn toàn có thể nhượng lại mô hình kinh doanh của mình nếu như được thương nhân khác trên thị trường đánh giá là có tiềm năng và họ muốn mua lại quyền thương mại của bên này. Trong trường hợp này, họ lại phải chờ đợi cho đủ thời gian hoạt động tối tiểu mới có thể gia nhập hệ thống nhượng quyền. Chính vì những lý do trên, chúng tôi cho rằng, nên bỏ điều kiện về thời gian hoạt động tối thiểu của bên nhượng quyền trước khi họ thực hiện hoạt động nhượng quyền thương mại trong Luật Thương mại hiện hành. Có như vậy, các thương nhân trong quan hệ nhượng quyền mới có thể hoàn toàn tự chủ trong việc lưa chọn đối tác, mô hình kinh doanh, địa bàn, lĩnh vực kinh doanh và tự chịu trách nhiệm với sự lựa chọn của mình. Đồng thời, pháp luật thương mại Việt Nam sẽ tương đồng với pháp luật của một số quốc gia như Australia, Indonesia, Pháp… Điều này là đặc biệt cần thiết trong quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng như ngày nay.

TS. Nguyễn Thị Tình
ThS. Đỗ Phương Thảo
Khoa Kinh tế - Luật, Đại học Thương mại



[1]. Điều 5 Nghị định số 08/2018/NĐ-CP ngày 15/01/2018 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số Nghị định liên quan đến điều kiện đầu tư, kinh doanh thuộc sự quản lý nhà nước của Bộ Công thương.

[2]. Vũ Đặng Hải Yến, Những vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật điều chỉnh nhượng quyền thương mại trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, Luận án tiến sỹ Luật học, năm 2009.

[3]. Ratih Puspitaningtyas Faeni (2015), Franchise Business Protection in Context of Intellectual Property Law in Indonesia, Journal of Law, Policy and Globalization, Vol. 36.

[4]. Ratih Puspitaningtyas Faeni (2015), Franchise Business Protection in Context of Intellectual Property Law in Indonesia, Journal of Law, Policy and Globalization, Vol. 36.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Ngày 10/12/2025, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV thông qua Luật Bảo hiểm tiền gửi số 111/2025/QH15, thay thế Luật Bảo hiểm tiền gửi số 06/2012/QH13 với các quy định nhằm tạo hành lang pháp lý đầy đủ, rõ ràng để tổ chức bảo hiểm tiền gửi nâng cao năng lực tài chính và tham gia hiệu quả vào quá trình cơ cấu lại tổ chức tín dụng, qua đó bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền, bảo đảm duy trì sự ổn định của hệ thống tổ chức tín dụng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội theo định hướng tại Chiến lược phát triển bảo hiểm tiền gửi và Chiến lược ngành ngân hàng. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2026.
Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:

Theo dõi chúng tôi trên: