Thứ sáu 23/10/2026 13:08
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Kiểm soát đối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền thương mại

Trên thực tế, mỗi chủ thể tiến hành kiểm soát quyền thương mại theo những cách thức không giống nhau. Nếu như Nhà nước sử dụng công cụ pháp luật để kiểm soát hoạt động nhượng quyền nói chung và quyền thương mại nói riêng trong thời điểm trước khi quyền thương mại được chuyển giao cho bên nhận quyền, thì công cụ được bên nhượng quyền sử dụng chính là những thỏa thuận mang tính ràng buộc các bên nhận quyền trong quá trình chuyển giao và sau khi chấm dứt việc sử dụng quyền thương mại.

1. Khái quát về kiểm soát đối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền thương mại

Về bản chất, khi lựa chọn phương thức kinh doanh nhượng quyền để tiến hành hoạt động kinh doanh, thương nhân nhượng quyền mong muốn có thể mở rộng quy mô kinh doanh bằng việc thiết lập một hệ thống cung ứng sản phẩm mang tính đồng bộ trên thị trường. Hay nói cách khác, hệ thống nhượng quyền mặc dù được hình thành từ sự kết hợp của các thương nhân hoàn toàn độc lập về tư cách pháp lý và chế độ tài chính, nhưng trong nhận thức của người tiêu dùng, tất cả các cơ sở kinh doanh trong hệ thống nhượng quyền đều chỉ là một, không có sự phân biệt. Điều này cũng làm nên sự độc đáo, khác biệt của hệ thống nhượng quyền so với các phương thức kinh doanh khác. Để có thể tạo ra sự đồng bộ trong hệ thống nhượng quyền, thương nhân nhượng quyền phải cho phép các thương nhân khác sao chép mô hình kinh doanh của mình khi họ có nhu cầu gia nhập hệ thống bằng cách chuyển giao quyền thương mại thông qua hợp đồng nhượng quyền. Điều quan trọng là, thương nhân nhận quyền phải vận hành quyền thương mại theo đúng các tiêu chuẩn, điều kiện mà thương nhân nhượng quyền đã sáng tạo ra. Vì vậy, bên cạnh nhu cầu bảo vệ quyền thương mại, thương nhân nhượng quyền có thêm nhu cầu kiểm soát đối tượng này đối với quá trình sử dụng của thương nhân nhận quyền. Thực hiện tốt hoạt động kiểm soát, thương nhân nhượng quyền cũng góp phần bảo vệ tài sản đặc biệt của hệ thống nhượng quyền một cách hiệu quả hơn.

Hay nói cách khác, ở một góc độ nhất định, để có thể bảo vệ được loại tài sản đặc thù này, bên nhượng quyền cần phải thực hiện việc kiểm soát nó trong quá trình chuyển giao cho bên nhận quyền. Chính yêu cầu phải bảo đảm tính đồng bộ và thống nhất trong toàn bộ hệ thống nhượng quyền đã buộc bên nhượng quyền phải thiết lập cơ chế kiểm soát quá trình các thương nhân nhận chuyển giao quyền thương mại vận hành nó trong quá trình kinh doanh. Như vậy, nhu cầu kiểm soát quyền thương mại trước hết đến từ thương nhân nhượng quyền (bao gồm cả thương nhân nhượng quyền sơ cấp và thứ cấp). Bên cạnh đó, Nhà nước cũng là một chủ thể có nhu cầu kiểm soát đối tượng này thông qua quy trình, thủ tục đăng ký quyền thương mại để thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với một hoạt động thương mại mang những đặc thù nhất định. Tuy nhiên, sự kiểm soát của Nhà nước chỉ ở giai đoạn đầu khi các thương nhân nhượng quyền muốn thực hiện hoạt động chuyển giao quyền thương mại cho các thương nhân khác trên thị trường. Trong khi đó, ở những giai đoạn tiếp theo, sự kiểm soát này của Nhà nước trở nên mờ nhạt hơn rất nhiều so với sự kiểm soát mang tính liên tục và chặt chẽ từ phía thương nhân nhượng quyền.

Trên thực tế, mỗi chủ thể tiến hành kiểm soát quyền thương mại theo những cách thức không giống nhau. Nếu như Nhà nước sử dụng công cụ pháp luật để kiểm soát hoạt động nhượng quyền nói chung và quyền thương mại nói riêng trong thời điểm trước khi quyền thương mại được chuyển giao cho bên nhận quyền, thì công cụ được bên nhượng quyền sử dụng chính là những thỏa thuận mang tính ràng buộc các bên nhận quyền trong quá trình chuyển giao và sau khi chấm dứt việc sử dụng quyền thương mại. Bằng các thỏa thuận hiện diện dưới dạng những điều khoản trong hợp đồng trên cơ sở một số quy định của pháp luật dưới dạng quyền và nghĩa vụ của các bên, bên nhượng quyền sẽ tiến hành kiểm tra, giám sát bên nhận quyền trong việc sử dụng quyền thương mại khi tiến hành hoạt động kinh doanh. Các điều khoản mang tính kiểm soát này có thể tồn tại dưới hai dạng nội dung là những nghĩa vụ bên nhận quyền phải tiến hành hoặc những hành vi bên nhận quyền không được phép thực hiện (bị cấm).

Điều quan trọng là, mỗi thời điểm khác nhau, các điều khoản nhằm kiểm soát quá trình vận hành của bên nhận quyền lại tồn tại dưới các dạng thức khác nhau: Tại thời điểm trước khi tiến hành việc chuyển giao quyền thương mại thông qua hợp đồng, thương nhân nhượng quyền phải thực hiện việc đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Một mặt, nhu cầu kiểm soát của thương nhân nhượng quyền là nhu cầu được Nhà nước ghi nhận quyền thương mại thông qua thủ tục đăng ký để sau này có cơ chế bảo vệ loài tài sản đặc biệt này của bên nhượng quyền. Mặt khác, cơ quan nhà nước cũng cần có nhu cầu quản lý hoạt động thương mại đặc thù này, vì vậy, Nhà nước cũng có nhu cầu nhận diện và kiểm soát đối tượng của hoạt động nhượng quyền được các bên chuyển giao cho nhau. Do đó, thông qua quy trình, thủ tục đăng ký đối với hoạt động nhượng quyền, nhu cầu kiểm soát và quản lý của cả bên nhượng quyền và Nhà nước đều được thực hiện. Trong khi đó, tại thời điểm tiến hành việc chuyển giao quyền thương mại, hoạt động kiểm soát của bên nhượng quyền hiện diện dưới dạng những thỏa thuận về quy trình kiểm tra, giám sát của bên này đối với việc vận hành quyền thương mại của thương nhân nhận quyền. Bên cạnh đó, có thể tồn tại những điều khoản mang tính nghĩa vụ mà thương nhân nhận quyền phải thực hiện nhằm bảo đảm thực hiện phương thức kinh doanh nhượng quyền đúng theo mô hình mà bên nhượng quyền đã xây dựng. Ngay cả sau khi tiến hành hoạt động nhượng quyền, tại thời điểm mà quyền sử dụng hợp pháp quyền thương mại của các bên nhận quyền đã chấm dứt theo thời hạn của hợp đồng, thì bên nhượng quyền vẫn tiếp tục kiểm soát đối với đối tượng được chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền thương mại. Bằng các thỏa thuận về nghĩa vụ của bên nhận quyền sau khi hợp đồng nhượng quyền chấm dứt, bên nhượng quyền có thể thực hiện được việc kiểm soát và bảo đảm an toàn cho đối tượng làm nên sự thành công của thương hiệu kinh doanh mà mình gây dựng.

Như vậy, pháp luật về vấn đề kiểm soát đối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền bao gồm những nội dung như: (i) Quy trình, thủ tục đăng ký trước khi tiến hành chuyển giao quyền thương mại; (ii) Quyền và nghĩa vụ của các bên trong quá trình sử dụng quyền thương mại; (iii) Quyền và nghĩa vụ của các bên sau khi thời hạn chuyển giao quyền thương mại chấm dứt. Tuy nhiên, trong khuôn khổ bài viết này, tác giả chỉ đi sâu vào nghiên cứu pháp luật về kiểm soát quyền thương mại trước khi chuyển giao cho thương nhân nhận quyền.

2. Thực trạng pháp luật về kiểm soát đối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền thương mại trước khi tiến hành chuyển giao

Bản chất của hoạt động nhượng quyền thương mại là một hoạt động thương mại được tiến hành giữa các chủ thể kinh doanh độc lập về tài chính và tư cách pháp lý thông qua việc bên nhượng quyền chuyền giao quyền thương mại - phương thức kinh doanh thành công của mình để xây dựng một hệ thống nhượng quyền mang tính đồng nhất về sản phẩm cũng như hệ thống nhận diện thương hiệu. Chính vì vậy, để thương nhân dự kiến nhượng quyền có thể chuyển giao mô hình kinh doanh do mình gây dựng cho các chủ thể khác dưới tên gọi nhượng quyền thương mại, thì họ phải chứng minh được sự thành công của mình trên thương trường. Trong trường hợp này, thước đo sự thành công của thương hiệu dự định thực hiện hoạt động nhượng quyền là sự trải nghiệm thị trường của thương hiệu đó. Đây là một tiêu chuẩn được lượng hóa thông qua thời gian hoạt động của thương nhân nhượng quyền dự kiến cho đến khi họ thực hiện việc chuyển giao quyền thương mại của mình.

Pháp luật của một số quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam đã quy định về thời hạn hoạt động của bên nhượng quyền dự định là một trong các điều kiện để thương nhân được thực hiện kinh doanh theo phương thức nhượng quyền. Bên cạnh yêu cầu phải là một thương nhân[1] khi tiến hành hoạt động nhượng quyền thương mại, điều kiện về thời hạn hoạt động trước đó của bên nhượng quyền thể hiện được giá trị của quyền thương mại mà thương nhân này sở hữu cũng như quy mô và mức độ chuyên nghiệp của thương nhân đặt nền móng cho thương hiệu nhượng quyền. Tuy nhiên, thời hạn hoạt động trước khi tiến hành nhượng quyền của thương nhân nhượng quyền dự kiến theo quy định của pháp luật các quốc gia khác nhau là không đồng nhất với nhau. Một số quốc gia quy định thời hạn này khá dài từ 03 - 05 năm như Hoa Kỳ hay Nhật Bản[2]. Trong khi đó, có những quốc gia quy định thời hạn hoạt động của bên nhượng quyền là khá ngắn khoảng 01 năm như Indonesia[3] hoặc tối thiểu là 01 năm như Việt Nam theo Điều 8 Nghị định số 08/2018/NĐ-CP ngày 15/01/2018 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số Nghị định liên quan đến điều kiện đầu tư, kinh doanh thuộc sự quản lý nhà nước của Bộ Công thương (Nghị định số 08/2018/NĐ-CP). Như vậy, theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, bên cạnh điều kiện phải đăng ký kinh doanh để một chủ thể được công nhận là thương nhân và tiến hành hoạt động nhượng quyền, thì cơ sở kinh doanh của họ phải có thời hạn hoạt động tối thiểu là 01 năm cho đến khi tiến hành chuyển giao quyền thương mại cho chủ thể khác. Đây cũng là một quy định mang tính điều kiện nhằm giúp Nhà nước kiểm soát mức độ an toàn và hiệu quả của hoạt động kinh doanh đặc biệt này.

Với tư cách là lĩnh vực hoạt động thương mại mới, nhượng quyền thương mại cần được tạo điều kiện để phát triển một cách tự do và nhanh chóng nên quy định khoảng thời gian ngắn để nhận biết giá trị quyền thương mại của bên nhượng quyền cũng là một trong những cách thức tiếp cận có ý nghĩa của pháp luật thương mại Việt Nam vào thời điểm hoạt động nhượng quyền mới được hình thành và bắt đầu phát triển ở Việt Nam. Tuy nhiên, ở thời điểm hiện tại, khi hoạt động nhượng quyền đã có những bước phát triển đáng kể và ngày càng được các thương nhân trong và ngoài nước ưa chuộng, thì những quy định mang tính điều kiện và kiểm soát kiểu này không còn thực sự thích hợp.

Bên cạnh đó, rất nhiều quốc gia quy định về thủ tục đăng ký hoạt động nhượng quyền của bên nhượng quyền dự kiến với cơ quan có thẩm quyền trước khi tiến hành hoạt động nhượng quyền trên thực tế. Có thể kể đến quy định về vấn đề đăng ký hoạt động nhượng quyền trong pháp luật của Indonesia như: Theo Điều 10 Quy định số 42 năm 2007 của Chính phủ, bên nhượng quyền và bên nhận nhượng quyền phải đăng ký kinh doanh với Bộ Thương mại không quá 01 năm sau khi Quy định số 42 năm 2007 của Chính phủ được ban hành ngày 23/7/2007. Bộ Thương mại sẽ cấp giấy chứng nhận đăng ký nhượng quyền nếu đề xuất đáp ứng các yêu cầu. Giấy chứng nhận đăng ký nhượng quyền có hiệu lực 05 năm và có thể được gia hạn[4]. Hoặc quy định về nhượng quyền trong Luật Cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng của Australia cũng đã đề cập đến nghĩa vụ đăng ký hoạt động nhượng quyền. Tương tự như các quốc gia khác, vấn đề này trong pháp luật Việt Nam cũng có những điểm tương đồng và khác biệt nhất định. Cụ thể, các thương nhân kinh doanh nhượng quyền ở Việt Nam tùy từng trường hợp sẽ phải thực hiện thủ tục đăng ký hoạt động nhượng quyền với cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Theo Nghị định số 35/2006/NĐ-CP ngày 31/3/2006 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động nhượng quyền thương mại và Nghị định số 08/2018/NĐ-CP, vấn đề đăng ký hoạt động nhượng quyền chỉ phải thực hiện với trường hợp tiến hành hoạt động nhượng quyền từ nước ngoài vào Việt Nam và được thực hiện tại Bộ Công thương. Trong khi đó, theo quy định của Nghị định số 120/2011/NĐ-CP ngày 16/12/2011 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung thủ tục hành chính tại một số Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại, hoạt động nhượng quyền nội địa hoặc từ Việt Nam ra nước ngoài không phải làm tục đăng ký chỉ phải thực hiện thủ tục báo cáo bằng văn bản với Sở Công thương về vấn đề này.

Ngoài ra, trước khi tiến hoạt động chuyển giao quyền thương mại cho bên nhận quyền, thương nhân nhượng quyền phải bảo đảm quyền sở hữu hợp pháp đối với đối tượng làm nên sự thành công của thương hiệu nhượng quyền. Vì vậy, cần phải thực hiện thủ tục đăng ký để Nhà nước ghi nhận và bảo hộ đối với đối tượng của hợp đồng nhượng quyền sau này. Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam và hầu hết các quốc gia trên thế giới đều không quy định trực tiếp về quyền thương mại như một đối tượng của hoạt động nhượng quyền có cơ chế xác định và bảo vệ riêng mà chỉ mô tả gián tiếp về các bộ phận cấu thành đối tượng này thông qua khái niệm về hoạt động nhượng quyền thương mại. Nghĩa là, chỉ có cơ chế ghi nhận từng bộ phận cấu thành nên quyền thương mại với tư cách là các yếu tố độc lập trong pháp luật Việt nam hiện hành. Trong khi đó, xét về bản chất, bộ phận cốt lõi cấu thành quyền thương mại trong quan hệ nhượng quyền lại là các yếu tố của quyền sở hữu trí tuệ và một số yếu tố khác kết hợp lại với nhau. Chính vì vậy, vấn đề đăng ký để được bảo vệ bởi cơ chế của Nhà nước đồng thời giúp bên nhượng quyền có thể kiểm soát được quyền thương mại của mình hiện nay được điều chỉnh chủ yếu bởi pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam.

Trên thực tế, pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam điều chỉnh các quyền sở về hữu trí tuệ một cách độc lập, không đặt trong mối quan hệ nhượng quyền. Do đó, trước khi tiến hành hoạt động nhượng quyền và chuyển giao quyền thương mại cho thương nhân khác, thương nhân nhượng quyền dự kiến sẽ phải tiến hành đăng ký bảo hộ các yếu tố cấu thành nên quyền thương mại với Cục Sở hữu trí tuệ (đối với những yếu tố sở hữu trí tuệ có căn cứ bảo vệ là được cấp văn bằng bảo hộ) và không thể đăng ký đối với những yếu tố hiện nay không được ghi nhận và bảo vệ bởi quy định của pháp luật. Đây cũng là một trong những hạn chế, bất cập trong quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề kiểm soát quyền thương mại của thương nhân nhượng quyền và của Nhà nước trước khi thương nhân này tiến hành chuyển giao đối tượng đó cho chủ thể khác. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này xuất phát từ sự thiếu vắng các quy định trong pháp luật hiện hành về vấn đề ghi nhận và xác định quyền thương mại trong quan hệ nhượng quyền. Vì vậy, cần hoàn thiện pháp luật về quyền thương mại mới có thể tạo ra cơ chế đăng ký và kiểm soát hữu hiệu đối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền trước khi tiến hành thủ tục chuyển giao tài sản đặc biệt này.

3. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về kiểm soát đối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền trước khi tiến hành chuyển giao

Pháp luật về kiểm soát quyền thương mại trong hoạt động nhượng quyền ở nước ta hiện nay được đánh giá là bộ phận pháp luật có sự tương đồng khá lớn với pháp luật của một số quốc gia trên thế giới và thông lệ quốc tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành về vấn đề này vẫn không tránh khỏi những hạn chế, bất cập nhất định như vấn đề về điều kiện để được chuyển giao quyền thương mại hoặc quy định về kiểm soát quá trình bên nhận quyền vận hành quyền thương mại hoặc các quy định về kiểm soát quyền thương mại sau khi hợp đồng nhượng quyền chấm dứt. Nguyên nhân của tình trạng này có thể đến từ nhiều yếu tố khác nhau nhưng không thể phủ nhận việc chưa có khái niệm quyền thương mại hoàn chỉnh, trọn vẹn, phản ánh đúng bản chất đặc biệt của đối tượng này là lý do chủ yếu làm cho các quy định về kiểm soát quyền thương mại hiện nay bộc lộ khá nhiều nhược điểm. Vì vậy, để có thể giải quyết những bất cập trong pháp luật về kiểm soát đối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền thương mại thì giải pháp đầu tiên là phải xây dựng được khái niệm quyền thương mại phản ánh đúng bản chất của đối tượng đặc biệt này.

Bên cạnh đó, vào thời điểm trước khi thực hiện hoạt động nhượng quyền, theo quy định của pháp luật thương mại Việt Nam, thương nhân nhượng quyền phải đáp ứng một số điều kiện nhất định. Trong đó, việc quy định về điều kiện hoạt động tối thiểu là 01 năm trước khi tiến hành nhượng lại quyền thương mại cho các thương nhân khác để cùng tiến hành hoạt động kinh doanh theo mô hình chung chỉ thực sự phù hợp vào thời điểm hoạt động nhượng quyền thương mại mới xuất hiện tại Việt Nam. Khi mà các thương nhân nhượng quyền và nhận quyền còn non trẻ và chưa có nhiều kinh nghiệm, quy định về thời hạn hoạt động tối thiểu của bên nhượng quyền là cần thiết để bảo đảm quyền kinh doanh mà họ dự kiến nhượng lại cho thương nhân khác có được một sự trải nghiệm thị trường nhất định. Điều này phần nào giúp phòng tránh được rủi ro cho thương nhân nhận quyền trong việc lựa chọn nhầm đối tác nhượng quyền và có thể bị rơi vào cảnh “tiền mất, tật mang”. Bên cạnh đó, quy định này còn nhằm chứng minh được mức độ thành công của phương thức kinh doanh được dự kiến nhượng quyền. Tuy nhiên, ở thời điểm hiện tại, khi đã trải qua 15 năm hoạt động nhượng quyền chính thức được ghi nhận ở cấp độ Luật, nhận thức và kinh nghiệm kinh doanh của các thương nhân đặc biệt là thương nhân nhận quyền đã nâng cấp ở một trình độ mới. Vì vậy, thương nhân nhận quyền có thể tự mình tìm hiểu, đánh giá về mức độ và khả năng thành công của thương hiệu nhượng quyền mà họ dự kiến gia nhập. Do đó, quy định thương nhân dự kiến nhượng quyền phải hoạt động ít nhất 01 năm trước khi thực hiện việc chuyển giao quyền thương mại cho chủ thể khác ở thời điểm hiện tại có thể không còn phù hợp và cần thiết nữa. Bởi lẽ, quy định này mục đích là để nhằm bảo đảm mức độ trải nghiệm thị trường và sự thành công của thương hiệu nhượng quyền. Từ đó, góp phần làm cho sự lựa chọn của thương nhân nhận quyền trở nên có cơ sở hơn. Tuy nhiên, hiện nay quyền tự chủ trong kinh doanh của các thương nhân đang ngày càng được Nhà nước công nhận và tạo mọi điều kiện để hiện thực hóa nó. Do đó, thương nhân nhận quyền hoàn toàn có thể chủ động tự do lựa chọn đối tác để nhận chuyển giao quyền thương mại. Đồng thời, họ lại có đầy đủ năng lực và kinh nghiệm để có thể đưa ra sự đánh giá về khả năng thành công của bên nhượng quyền mà họ lựa chọn. Vì vậy, điều kiện phải hoạt động tối thiểu 01 năm không phải là một bảo đảm chắc chắn cho sự thành công của thương hiệu mà họ dự kiến nhận chuyển giao quyền thương mại. Ngay cả trong trường hợp một thương nhân kinh doanh nhượng quyền nhưng chưa đủ điều kiện một năm, cũng hoàn toàn có thể nhượng lại mô hình kinh doanh của mình nếu như được thương nhân khác trên thị trường đánh giá là có tiềm năng và họ muốn mua lại quyền thương mại của bên này. Trong trường hợp này, họ lại phải chờ đợi cho đủ thời gian hoạt động tối tiểu mới có thể gia nhập hệ thống nhượng quyền. Chính vì những lý do trên, chúng tôi cho rằng, nên bỏ điều kiện về thời gian hoạt động tối thiểu của bên nhượng quyền trước khi họ thực hiện hoạt động nhượng quyền thương mại trong Luật Thương mại hiện hành. Có như vậy, các thương nhân trong quan hệ nhượng quyền mới có thể hoàn toàn tự chủ trong việc lưa chọn đối tác, mô hình kinh doanh, địa bàn, lĩnh vực kinh doanh và tự chịu trách nhiệm với sự lựa chọn của mình. Đồng thời, pháp luật thương mại Việt Nam sẽ tương đồng với pháp luật của một số quốc gia như Australia, Indonesia, Pháp… Điều này là đặc biệt cần thiết trong quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng như ngày nay.

TS. Nguyễn Thị Tình
ThS. Đỗ Phương Thảo
Khoa Kinh tế - Luật, Đại học Thương mại



[1]. Điều 5 Nghị định số 08/2018/NĐ-CP ngày 15/01/2018 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số Nghị định liên quan đến điều kiện đầu tư, kinh doanh thuộc sự quản lý nhà nước của Bộ Công thương.

[2]. Vũ Đặng Hải Yến, Những vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật điều chỉnh nhượng quyền thương mại trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, Luận án tiến sỹ Luật học, năm 2009.

[3]. Ratih Puspitaningtyas Faeni (2015), Franchise Business Protection in Context of Intellectual Property Law in Indonesia, Journal of Law, Policy and Globalization, Vol. 36.

[4]. Ratih Puspitaningtyas Faeni (2015), Franchise Business Protection in Context of Intellectual Property Law in Indonesia, Journal of Law, Policy and Globalization, Vol. 36.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: