Thứ năm 12/03/2026 06:22
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Kiểm soát tập trung kinh tế theo Luật Cạnh tranh năm 2018

Tóm tắt: Bài viết phân tích dấu hiệu nhận diện tập trung kinh tế và nêu những điểm mới trong quy định về kiểm soát tập trung kinh tế của Luật Cạnh tranh năm 2018.

Tóm tắt: Bài viết phân tích dấu hiệu nhận diện tập trung kinh tế và nêu những điểm mới trong quy định về kiểm soát tập trung kinh tế của Luật Cạnh tranh năm 2018.

Abstract: This paper analyzes identifying sign of economic centralization and mentions some new points in provisions on controlling economic centralization of the Law on Bancruptcy of 2018.

1. Nhận diện tập trung kinh tế

Kinh tế thị trường luôn đòi hỏi các chủ thể kinh doanh phải nỗ lực đầu tư, tập trung các nguồn lực, như nâng cao năng lực tài chính, phát triển kỹ thuật - công nghệ mới, đổi mới chiến lược kinh doanh, nâng cao chất lượng hàng hóa, dịch vụ, chăm sóc khách hàng, thậm chí cả đổi mới tổ chức quản lý để tăng cường năng lực cạnh tranh của mình trên thị trường. Tuy nhiên, sự lớn mạnh của các chủ thể kinh doanh bằng tăng trưởng nội sinh thường chậm chạp, bởi vậy, các chủ thể kinh doanh tìm cách tạo ra sự lớn mạnh bằng việc tăng trưởng ngoại sinh, thông qua các hình thức tập trung kinh tế.

Theo quy định của pháp luật cạnh tranh Việt Nam, tập trung kinh tế là hành vi sáp nhập doanh nghiệp; hợp nhất doanh nghiệp; mua lại doanh nghiệp; liên doanh giữa các doanh nghiệp và các hành vi tập trung kinh tế khác[1]… Để nhận diện các hành vi tập trung kinh tế, cần xem xét đến các yếu tố sau:

(i) Chủ thể tập trung kinh tế là các doanh nghiệp hoạt động độc lập trên thị trường

Hành vi sáp nhập, hợp nhất, mua lại hay liên doanh... chỉ xảy ra khi có nhiều doanh nghiệp cùng tham gia thực hiện. Như vậy, trước khi thực hiện hành vi tập trung kinh tế, các doanh nghiệp này đã tồn tại và đang hoạt động một cách độc lập trên thị trường. Chủ thể tham gia vào các hình thức tập trung kinh tế chỉ bao gồm: Các doanh nghiệp, các hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã. Tuy nhiên, không phải mọi doanh nghiệp đều có thể tham gia vào các hình thức tập trung kinh tế. Mỗi hình thức tập trung kinh tế sẽ có những giới hạn pháp lý khác nhau, tùy thuộc đặc thù của mỗi loại hình doanh nghiệp. Chẳng hạn, theo pháp luật hiện hành thì doanh nghiệp tư nhân có thể là đối tượng của mua bán doanh nghiệp, nhưng lại không thể là chủ thể của hợp nhất doanh nghiệp, sáp nhập doanh nghiệp, mua bán doanh nghiệp hay liên doanh giữa các doanh nghiệp[2].

(ii) Hình thức tập trung kinh tế là việc hợp nhất, sáp nhập, mua bán hay liên doanh giữa các doanh nghiệp

Mục đích của các doanh nghiệp thực hiện tập trung kinh tế là nhằm tạo ra lợi thế cạnh tranh bằng việc sở hữu toàn bộ một doanh nghiệp khác hoặc sở hữu một phần tài sản đủ để kiểm soát, chi phối doanh nghiệp đó. Ngoại trừ liên doanh nhằm tạo dựng lên một doanh nghiệp mới, tập trung kinh tế dẫn đến sự thay đổi cơ cấu doanh nghiệp cũng như cơ cấu chủ sở hữu doanh nghiệp bị hợp nhất, sáp nhập, mua lại. Đặc thù này cho thấy, tập trung kinh tế có điểm khác biệt so với các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh.

Trong thực tiễn, các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tín dụng, ngân hàng, bảo hiểm thực hiện một số hoạt động mua lại và nắm giữ tạm thời cổ phần, không thực hiện quyền bỏ phiếu phát sinh từ cổ phần mà họ nắm giữ để gây hạn chế cạnh tranh trên thị trường. Đây là một trong những hoạt động thường xuyên của các doanh nghiệp trong lĩnh vực tín dụng, ngân hàng, bảo hiểm nên không coi đó là tập trung kinh tế. Theo Điều 35 Nghị định số 116/2005/NĐ-CP ngày 15/9/2005 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cạnh tranh, trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm, tổ chức tín dụng mua lại doanh nghiệp khác nhằm mục đích bán lại trong thời hạn dài nhất là 01 năm không bị coi là tập trung kinh tế nếu doanh nghiệp mua lại không thực hiện quyền kiểm soát hoặc chi phối doanh nghiệp bị mua lại, hoặc thực hiện quyền này chỉ trong khuôn khổ bắt buộc để đạt được mục đích bán lại đó. Doanh nghiệp bảo hiểm, tổ chức tín dụng phải gửi cho cơ quan quản lý cạnh tranh hồ sơ thông báo việc mua lại có nội dung quy định tại khoản 1 Điều 21 Luật Cạnh tranh năm 2004. Thời hạn bán lại doanh nghiệp nêu trên có thể được thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh gia hạn theo kiến nghị của doanh nghiệp mua lại nếu doanh nghiệp chứng minh được rằng họ đã không thể bán lại doanh nghiệp bị mua lại đó trong thời hạn 01 năm.

(iii) Hậu quả tập trung kinh tế dẫn đến hình thành các doanh nghiệp lớn mạnh hơn, thay đổi cấu trúc và tương quan thị trường

Các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế đã tập hợp, tích tụ các nguồn lực về tài chính, kỹ thuật, lao động, năng lực tổ chức quản lý kinh doanh của các doanh nghiệp đơn lẻ để hình thành sức mạnh thống nhất, bởi sự liên kết của nhiều doanh nghiệp thông qua việc hợp nhất, sáp nhập, mua bán, liên doanh giữa các doanh nghiệp… Bên cạnh tác động tích cực đối với sự phát triển kinh tế, người tiêu dùng và bản thân doanh nghiệp, hậu quả của tập trung kinh tế làm thay đổi cấu trúcvà tương quan trên thị trường cạnh tranh. Mua lại, liên doanh giữa các doanh nghiệp hình thành lên liên kết giữa các doanh nghiệp theo mô hình tích tụ hoặc liên kết năng lực kinh doanh. Sáp nhập, hợp nhất làm cho cấu trúc thị trường thay đổi theo hướng giảm đi số lượng doanh nghiệp, tạo lập các doanh nghiệp lớn mạnh hơn và có thể hình thành doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền.

Sự lớn mạnh đột ngột của các doanh nghiệp này không phải do tích tụ, tập trung tư bản từ hoạt động kinh doanh mà bắt nguồn từ hợp nhất, sáp nhập, mua lại hay liên doanh giữa các doanh nghiệp… Vì vậy, vị trí và lợi thế cạnh tranh của các doanh nghiệp (không tham gia tập trung kinh tế) trên thị trường bị suy giảm, thậm chí phải rút lui khỏi thị trường do không kịp trở tay, bởi sự xuất hiện “đột ngột” các doanh nghiệp có tiềm lực lớn mạnh thông qua tập trung kinh tế.

2. Nhu cầu và sự đổi mới về kiểm soát tập trung kinh tế theo Luật Cạnh tranh năm 2018

Thứ nhất, Luật Cạnh tranh được ban hành như một khung khổ pháp lý chuyên biệt hướng tới thực hiện hai nhiệm vụ chủ yếu, đó là chống độc quyền và giám sát các liên minh trong kinh doanh cho mục đích căn bản và trực tiếp là bảo vệ tự do cạnh tranh. Đối với chống độc quyền, cần lưu ý rằng ngoài sự ngăn cấm các hành vi tập trung kinh tế một cách cố ý và chủ động nhằm giảm thiểu hay loại trừ cạnh tranh, cũng cần kiểm soát chặt chẽ cả các doanh nghiệp độc quyền tự nhiên do điều kiện khách quan hoặc các yếu tố ngẫu nhiên. Trong khía cạnh sau này, ngay chính tập đoàn Microsoft vào năm 2000 đã bị thẩm phán Hoa Kỳ Thomas Jackson áp dụng Luật Chống độc quyền (Anti-trust Act) để đưa ra phán quyết yêu cầu tách công ty thành hai phần độc lập để đảm nhiệm riêng lẻ đối với hệ điều hành Windows và các phần mềm còn lại[3].

Quan điểm phổ biến của giới luật học ở nhiều nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam lại nhìn nhận theo hướng tích cực đối với doanh nghiệp có quyền lực thị trường do tăng trưởng bằng nội lực, chỉ kiểm soát và cấm việc hình thành doanh nghiệp có quyền lực thị trường do sự tăng trưởng bằng biện pháp tập trung kinh tế nếu gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể trên thị trường mà không có biện pháp nào để khắc phục những hậu quả do sự tác động hạn chế cạnh tranh đó.

Như một lẽ tự nhiên, doanh nghiệp nào tồn tại trên thị trường cũng đều tìm cách nâng cao năng lực cạnh tranh của mình thông qua quá trình “tự lớn lên” của chính mình; thể hiện bằng những biện pháp như nâng cao năng lực tài chính, cải tiến tổ chức quản lý, phát triển công nghệ mới, thay đổi chiến lược sản xuất, kinh doanh... và đôi khi còn có cả việc tìm “vận may” trên thương trường. Sự lớn lên này của các doanh nghiệp được gọi là tăng trưởng nội sinh của doanh nghiệp và vì thế, không có lý do gì mà công quyền ngăn cản hay cấm đoán sự phát triển của các doanh nghiệp. Vì vậy, bản thân hiện tượng độc quyền (với tính cách là kết quả của sự tăng trưởng nội sinh ở mức cao nhất) là không có tội. Lúc đó, pháp luật chỉ có thể và cần phải tinh tường trong những hiện tượng lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền của doanh nghiệp mà thôi. Chỉ có quá trình độc quyền hóa trái pháp luật mới đáng để quan tâm[4].

Việc kiểm soát hay không kiểm soát doanh nghiệp độc quyền tự nhiên là vấn đề vẫn còn những tranh luận, cần tiếp tục được nghiên cứu ở những nội dung chuyên sâu hơn. Tuy nhiên, những gì thuộc về sự phát triển, lớn mạnh một cách tự nhiên, vốn có thì pháp luật cần phải tôn trọng, nuôi dưỡng. Luật Cạnh tranh năm 2004 cũng như Luật Cạnh tranh năm 2018 của Việt Nam chỉ kiểm soát sự lớn mạnh của các doanh nghiệp bằng tăng trưởng thông qua các hình thức tập trung kinh tế, không kiểm soát sự lớn mạnh của doanh nghiệp bằng tăng trưởng tự thân của doanh nghiệp.

Thứ hai, những bất cập của Luật Cạnh tranh năm 2004 về kiểm soát tập trung kinh tế khi chỉ dựa vào tiêu chí duy nhất là thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế đã cho thấy sự cần thiết phải đổi mới pháp luật về kiểm soát tập trung kinh tế[5]. Việc kiểm soát và cấm tập trung kinh tế chỉ dựa trên tiêu chí thị phần và thị phần kết hợp trên thị trường liên quan đã không phản ánh được đầy đủ, chính xác thực tế của thị trường cũng như mức độ tác động của vụ việc tập trung kinh tế đến môi trường cạnh tranh. Cách tiếp cận này đã thu hẹp phạm vi kiểm soát tập trung kinh tế, chỉ kiểm soát các hành vi tập trung kinh tế theo chiều ngang và mặc nhiên bỏ ngỏ, không kiểm soát tập trung kinh tế theo chiều dọc và tập trung kinh tế hỗn hợp.

Mặc dù tập trung kinh tế theo chiều dọc và tập trung kinh tế hỗn hợp thường không có khả năng gây nguy hại như tập trung kinh tế theo chiều ngang nhưng lý thuyết và kinh nghiệm thực tiễn kiểm soát tập trung kinh tế ở các nước trên thế giới cho thấy, bên cạnh tác động tích cực đem lại cho thị trường cạnh tranh của tập trung kinh tế theo chiều dọc và tập trung kinh tế hỗn hợp, trong những trường hợp nhất định, tập trung kinh tế theo chiều dọc và tập trung kinh tế hỗn hợp vẫn có khả năng gây nguy hại đáng kể cho môi trường cạnh tranh. Bởi vậy, vẫn cần thiết phải kiểm soát tập trung kinh tế theo chiều dọc và tập trung kinh tế hỗn hợp.

Ngoài ra, việc kiểm soát và cấm tập trung kinh tế chỉ dựa trên tiêu chí thị phần và thị phần kết hợp trên thị trường liên quan cũng dễ tạo ra sự lọt lưới (bỏ sót) đối với những trường hợp tập trung kinh tế mà thị phần kết hợp của doanh nghiệp sau tập trung kinh tế ≤ 50% trên thị trường liên quan (không thuộc diện bị cấm theo Luật Cạnh tranh năm 2004) nhưng vẫn có khả năng tác động tiêu cực, gây nguy hại đến môi trường cạnh tranh. Ngược lại, cấm những trường hợp tập trung kinh tế mà thị phần kết hợp của doanh nghiệp sau tập trung kinh tế trên 50% trên thị trường liên quan lại có thể hàm chứa cả những trường hợp tập trung kinh tế không gây ra tác động tiêu cực đáng kể đến cạnh tranh cho dù thị phần kết hợp trên 50% trên thị trường liên quan.

Mặt khác, các doanh nghiệp khi tiến hành các hoạt động kinh doanh chỉ có thể biết và chịu trách nhiệm về doanh thu, doanh số của mình mà không thể biết doanh thu, doanh số của các đối thủ cạnh tranh. Các doanh nghiệp không thể tự xác định được thị phần của mình trên thị trường liên quan nên khó có thể biết vụ việc tập trung kinh tế của mìnhthuộc hoặc không thuộc trường hợp tập trung kinh tế bị cấm hay phải thông báo trước khi thực hiện.

Thứ ba, khắc phục hạn chế của Luật Cạnh tranh năm 2004 và tiếp thu kinh nghiệm pháp luật của các nước tiên tiến về kiểm soát tập trung kinh tế, Luật Cạnh tranh năm 2018 không chỉ tiếp cận kiểm soát tập trung kinh tế dựa trên tiêu chí thị phần kết hợp và ngưỡng bị cấm tập trung kinh tế khi thị phần kết hợp trên 50% trên thị trường liên quan. Tiêu chí để kiểm soát tập trung kinh tế được đổi mới, nhìn nhận toàn diện hơn trên cơ sở đánh giá cấu trúc thị trường, mức độ tập trung trên thị trường, khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể trên thị trường và tác động tích cực của việc tập trung kinh tế đối với nền kinh tế.

Luật Cạnh tranh năm 2018 đã đưa ra các tiêu chí khác nhau (tổng tài sản, tổng doanh thu, giá trị giao dịch tập trung kinh tế trên thị trường, thị phần kết hợp trên thị trường liên quan) để doanh nghiệp có thể tự xác định giao dịch có thuộc trường hợp phải thông báo hay không phải thông báo. Theo khoản 2 Điều 33 Luật Cạnh tranh năm 2018, ngưỡng thông báo tập trung kinh tế được xác định căn cứ vào một trong các tiêu chí sau đây: (i) Tổng tài sản trên thị trường Việt Nam của doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế; (ii) Tổng doanh thu trên thị trường Việt Nam của doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế; (iii) Giá trị giao dịch của tập trung kinh tế; (iv) Thị phần kết hợp trên thị trường liên quan của doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế. Ngoài ra, ngưỡng làm căn cứ để cấm hay không cấm tập trung kinh tế cũng được quy định một cách khái quát, các tiêu chí để đánh giá ngưỡng cấm tập trung kinh tế được xem xét toàn diện hơn. Theo Điều 30 Luật Cạnh tranh năm 2018, tập trung kinh tế bị cấm khi doanh nghiệp thực hiện tập trung kinh tế gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể trên thị trường Việt Nam.

Tuy nhiên, để xác định doanh nghiệp thực hiện tập trung kinh tế có bị cấm hay không cấm cần phải thẩm định việc tập trung kinh tế. Thẩm định việc tập trung kinh tế, gồm thẩm định sơ bộ và thẩm định chính thức. Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia có trách nhiệm thẩm định sơ bộ việc tập trung kinh tế. Nội dung thẩm định sơ bộ việc tập trung kinh tế bao gồm: (i) Thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế trên thị trường liên quan; (ii) Mức độ tập trung trên thị trường liên quan trước và sau khi tập trung kinh tế; (iii) Mối quan hệ của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế trong chuỗi sản xuất, phân phối, cung ứng đối với một loại hàng hóa, dịch vụ nhất định hoặc ngành, nghề kinh doanh của các doanh nghiệp này là đầu vào của nhau hoặc bổ trợ cho nhau.

Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ thông báo tập trung kinh tế đầy đủ, hợp lệ, Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia phải ra thông báo kết quả thẩm định sơ bộ việc tập trung kinh tế về một trong các nội dung sau đây: (i) Tập trung kinh tế được thực hiện; (ii) Tập trung kinh tế phải thẩm định chính thức.

Khi kết thúc thời hạn nêu trên mà Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia chưa ra thông báo kết quả thẩm định sơ bộ thì việc tập trung kinh tế được thực hiện và Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia không được ra thông báo phải thẩm định chính thức[6].

Trường hợp vụ việc tập trung kinh tế phải thẩm định chính thức thì Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia phải thẩm định trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày ra thông báo phải thẩm định chính thức theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 36 Luật Cạnh tranh năm 2018. Đối với vụ việc phức tạp, Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia có thể gia hạn thẩm định chính thức nhưng không quá 60 ngày và thông báo bằng văn bản cho doanh nghiệp nộp hồ sơ thông báo tập trung kinh tế.

Nội dung thẩm định chính thức việc tập trung kinh tế bao gồm: (i) Đánh giá tác động hoặc khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể của việc tập trung kinh tế theo quy định tại Điều 31 Luật Cạnh tranh năm 2018 và các biện pháp khắc phục tác động hạn chế cạnh tranh; (ii) Đánh giá tác động tích cực của việc tập trung kinh tế theo quy định tại Điều 32 Luật Cạnh tranh năm 2018 và các biện pháp tăng cường tác động tích cực của việc tập trung kinh tế; (iii) Đánh giá tổng hợp khả năng tác động hạn chế cạnh tranh và khả năng tác động tích cực của tập trung kinh tế để làm cơ sở xem xét, quyết định về việc tập trung kinh tế[7].

Căn cứ nội dung thẩm định chính thức, Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia ra quyết định về một trong các nội dung sau đây: (i) Tập trung kinh tế được thực hiện; (ii) Tập trung kinh tế có điều kiện; (iii) Tập trung kinh tế thuộc trường hợp bị cấm[8].

Theo Điều 42 Luật Cạnh tranh năm 2018, tập trung kinh tế có điều kiện là tập trung kinh tế được thực hiện nhưng phải đáp ứng một hoặc một số điều kiện sau đây: (i) Chia, tách, bán lại một phần vốn góp, tài sản của doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế; (ii) Kiểm soát nội dung liên quan đến giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ hoặc các điều kiện giao dịch khác trong hợp đồng của doanh nghiệp hình thành sau tập trung kinh tế; (iii) Biện pháp khác nhằm khắc phục khả năng tác động hạn chế cạnh tranh trên thị trường; (iv) Biện pháp khác nhằm tăng cường tác động tích cực của tập trung kinh tế.

Tóm lại, với cách tiếp cận mới, Luật Cạnh tranh năm 2018 không còn đặt ra các trường hợp miễn trừ đối với các trường hợp tập trung kinh tế bị cấm như Luật Cạnh tranh năm 2004. Các tiêu chí về việc cho hưởng miễn trừ (có tác động tích cực) được xem xét ngay trong quá trình thẩm định tập trung kinh tế nhằm đánh giá một hành vi tập trung kinh tế có gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể trên thị trường Việt Nam hay không để xác định tập trung kinh tế được thực hiện hay tập trung kinh tế có điều kiện hoặc tập trung kinh tế thuộc trường hợp bị cấm.

ThS. Hoàng Minh Chiến

Đại học Luật Hà Nội







[1]. Xem: Điều 16 Luật Cạnh tranh năm 2004, Điều 29 Luật Cạnh tranh năm 2018.

[2]. Theo pháp luật Việt Nam hiện hành, doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân (không là pháp nhân) nên không thể là nhà đầu tư để thành lập, góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp và quản lý doanh nghiệp (điểm đ khoản 2 Điều 18 Luật Doanh nghiệp năm 2014). Tại khoản 4 Điều 183 Luật Doanh nghiệp năm 2014 cũng quy định:“Doanh nghiệp tư nhân không được quyền góp vốn thành lập hoặc mua cổ phần, phần vốn góp trong công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần”.

[3]. Luật Cạnh tranh - Cần một cách tiếp cận mới và thiết thực, LS. Nguyễn Tiến Lập (Văn phòng NHQuang & Cộng sự, Trọng tài viên VIAC). Nguồn: http://viac.vn/goc-nhin-trong-tai-vien/luat-canh-tranh-can-mot-cach-tiep-can-moi-va-thiet-thuc-a778.html.

[4]. Tạp chí Khoa học Pháp lý số 4 (41)/2007, Các khía cạnh pháp lý về tập trung kinh tế và vai trò của cơ quan quản lý cạnh tranh, PGS.TS. Nguyễn Như Phát.

[5]. Xem chi tiết tại Báo cáo tổng kết 12 năm thi hành Luật Cạnh tranh năm 2004.

[6]. Điều 36 Luật Cạnh tranh năm 2018.

[7]. Điều 37 Luật Cạnh tranh năm 2018.

[8]. Điều 41 Luật Cạnh tranh năm 2018.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.

Theo dõi chúng tôi trên: