Thứ bảy 02/05/2026 06:29
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Kiểm soát tập trung kinh tế theo Luật Cạnh tranh năm 2018

Tóm tắt: Bài viết phân tích dấu hiệu nhận diện tập trung kinh tế và nêu những điểm mới trong quy định về kiểm soát tập trung kinh tế của Luật Cạnh tranh năm 2018.

Tóm tắt: Bài viết phân tích dấu hiệu nhận diện tập trung kinh tế và nêu những điểm mới trong quy định về kiểm soát tập trung kinh tế của Luật Cạnh tranh năm 2018.

Abstract: This paper analyzes identifying sign of economic centralization and mentions some new points in provisions on controlling economic centralization of the Law on Bancruptcy of 2018.

1. Nhận diện tập trung kinh tế

Kinh tế thị trường luôn đòi hỏi các chủ thể kinh doanh phải nỗ lực đầu tư, tập trung các nguồn lực, như nâng cao năng lực tài chính, phát triển kỹ thuật - công nghệ mới, đổi mới chiến lược kinh doanh, nâng cao chất lượng hàng hóa, dịch vụ, chăm sóc khách hàng, thậm chí cả đổi mới tổ chức quản lý để tăng cường năng lực cạnh tranh của mình trên thị trường. Tuy nhiên, sự lớn mạnh của các chủ thể kinh doanh bằng tăng trưởng nội sinh thường chậm chạp, bởi vậy, các chủ thể kinh doanh tìm cách tạo ra sự lớn mạnh bằng việc tăng trưởng ngoại sinh, thông qua các hình thức tập trung kinh tế.

Theo quy định của pháp luật cạnh tranh Việt Nam, tập trung kinh tế là hành vi sáp nhập doanh nghiệp; hợp nhất doanh nghiệp; mua lại doanh nghiệp; liên doanh giữa các doanh nghiệp và các hành vi tập trung kinh tế khác[1]… Để nhận diện các hành vi tập trung kinh tế, cần xem xét đến các yếu tố sau:

(i) Chủ thể tập trung kinh tế là các doanh nghiệp hoạt động độc lập trên thị trường

Hành vi sáp nhập, hợp nhất, mua lại hay liên doanh... chỉ xảy ra khi có nhiều doanh nghiệp cùng tham gia thực hiện. Như vậy, trước khi thực hiện hành vi tập trung kinh tế, các doanh nghiệp này đã tồn tại và đang hoạt động một cách độc lập trên thị trường. Chủ thể tham gia vào các hình thức tập trung kinh tế chỉ bao gồm: Các doanh nghiệp, các hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã. Tuy nhiên, không phải mọi doanh nghiệp đều có thể tham gia vào các hình thức tập trung kinh tế. Mỗi hình thức tập trung kinh tế sẽ có những giới hạn pháp lý khác nhau, tùy thuộc đặc thù của mỗi loại hình doanh nghiệp. Chẳng hạn, theo pháp luật hiện hành thì doanh nghiệp tư nhân có thể là đối tượng của mua bán doanh nghiệp, nhưng lại không thể là chủ thể của hợp nhất doanh nghiệp, sáp nhập doanh nghiệp, mua bán doanh nghiệp hay liên doanh giữa các doanh nghiệp[2].

(ii) Hình thức tập trung kinh tế là việc hợp nhất, sáp nhập, mua bán hay liên doanh giữa các doanh nghiệp

Mục đích của các doanh nghiệp thực hiện tập trung kinh tế là nhằm tạo ra lợi thế cạnh tranh bằng việc sở hữu toàn bộ một doanh nghiệp khác hoặc sở hữu một phần tài sản đủ để kiểm soát, chi phối doanh nghiệp đó. Ngoại trừ liên doanh nhằm tạo dựng lên một doanh nghiệp mới, tập trung kinh tế dẫn đến sự thay đổi cơ cấu doanh nghiệp cũng như cơ cấu chủ sở hữu doanh nghiệp bị hợp nhất, sáp nhập, mua lại. Đặc thù này cho thấy, tập trung kinh tế có điểm khác biệt so với các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh.

Trong thực tiễn, các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tín dụng, ngân hàng, bảo hiểm thực hiện một số hoạt động mua lại và nắm giữ tạm thời cổ phần, không thực hiện quyền bỏ phiếu phát sinh từ cổ phần mà họ nắm giữ để gây hạn chế cạnh tranh trên thị trường. Đây là một trong những hoạt động thường xuyên của các doanh nghiệp trong lĩnh vực tín dụng, ngân hàng, bảo hiểm nên không coi đó là tập trung kinh tế. Theo Điều 35 Nghị định số 116/2005/NĐ-CP ngày 15/9/2005 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cạnh tranh, trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm, tổ chức tín dụng mua lại doanh nghiệp khác nhằm mục đích bán lại trong thời hạn dài nhất là 01 năm không bị coi là tập trung kinh tế nếu doanh nghiệp mua lại không thực hiện quyền kiểm soát hoặc chi phối doanh nghiệp bị mua lại, hoặc thực hiện quyền này chỉ trong khuôn khổ bắt buộc để đạt được mục đích bán lại đó. Doanh nghiệp bảo hiểm, tổ chức tín dụng phải gửi cho cơ quan quản lý cạnh tranh hồ sơ thông báo việc mua lại có nội dung quy định tại khoản 1 Điều 21 Luật Cạnh tranh năm 2004. Thời hạn bán lại doanh nghiệp nêu trên có thể được thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh gia hạn theo kiến nghị của doanh nghiệp mua lại nếu doanh nghiệp chứng minh được rằng họ đã không thể bán lại doanh nghiệp bị mua lại đó trong thời hạn 01 năm.

(iii) Hậu quả tập trung kinh tế dẫn đến hình thành các doanh nghiệp lớn mạnh hơn, thay đổi cấu trúc và tương quan thị trường

Các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế đã tập hợp, tích tụ các nguồn lực về tài chính, kỹ thuật, lao động, năng lực tổ chức quản lý kinh doanh của các doanh nghiệp đơn lẻ để hình thành sức mạnh thống nhất, bởi sự liên kết của nhiều doanh nghiệp thông qua việc hợp nhất, sáp nhập, mua bán, liên doanh giữa các doanh nghiệp… Bên cạnh tác động tích cực đối với sự phát triển kinh tế, người tiêu dùng và bản thân doanh nghiệp, hậu quả của tập trung kinh tế làm thay đổi cấu trúcvà tương quan trên thị trường cạnh tranh. Mua lại, liên doanh giữa các doanh nghiệp hình thành lên liên kết giữa các doanh nghiệp theo mô hình tích tụ hoặc liên kết năng lực kinh doanh. Sáp nhập, hợp nhất làm cho cấu trúc thị trường thay đổi theo hướng giảm đi số lượng doanh nghiệp, tạo lập các doanh nghiệp lớn mạnh hơn và có thể hình thành doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền.

Sự lớn mạnh đột ngột của các doanh nghiệp này không phải do tích tụ, tập trung tư bản từ hoạt động kinh doanh mà bắt nguồn từ hợp nhất, sáp nhập, mua lại hay liên doanh giữa các doanh nghiệp… Vì vậy, vị trí và lợi thế cạnh tranh của các doanh nghiệp (không tham gia tập trung kinh tế) trên thị trường bị suy giảm, thậm chí phải rút lui khỏi thị trường do không kịp trở tay, bởi sự xuất hiện “đột ngột” các doanh nghiệp có tiềm lực lớn mạnh thông qua tập trung kinh tế.

2. Nhu cầu và sự đổi mới về kiểm soát tập trung kinh tế theo Luật Cạnh tranh năm 2018

Thứ nhất, Luật Cạnh tranh được ban hành như một khung khổ pháp lý chuyên biệt hướng tới thực hiện hai nhiệm vụ chủ yếu, đó là chống độc quyền và giám sát các liên minh trong kinh doanh cho mục đích căn bản và trực tiếp là bảo vệ tự do cạnh tranh. Đối với chống độc quyền, cần lưu ý rằng ngoài sự ngăn cấm các hành vi tập trung kinh tế một cách cố ý và chủ động nhằm giảm thiểu hay loại trừ cạnh tranh, cũng cần kiểm soát chặt chẽ cả các doanh nghiệp độc quyền tự nhiên do điều kiện khách quan hoặc các yếu tố ngẫu nhiên. Trong khía cạnh sau này, ngay chính tập đoàn Microsoft vào năm 2000 đã bị thẩm phán Hoa Kỳ Thomas Jackson áp dụng Luật Chống độc quyền (Anti-trust Act) để đưa ra phán quyết yêu cầu tách công ty thành hai phần độc lập để đảm nhiệm riêng lẻ đối với hệ điều hành Windows và các phần mềm còn lại[3].

Quan điểm phổ biến của giới luật học ở nhiều nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam lại nhìn nhận theo hướng tích cực đối với doanh nghiệp có quyền lực thị trường do tăng trưởng bằng nội lực, chỉ kiểm soát và cấm việc hình thành doanh nghiệp có quyền lực thị trường do sự tăng trưởng bằng biện pháp tập trung kinh tế nếu gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể trên thị trường mà không có biện pháp nào để khắc phục những hậu quả do sự tác động hạn chế cạnh tranh đó.

Như một lẽ tự nhiên, doanh nghiệp nào tồn tại trên thị trường cũng đều tìm cách nâng cao năng lực cạnh tranh của mình thông qua quá trình “tự lớn lên” của chính mình; thể hiện bằng những biện pháp như nâng cao năng lực tài chính, cải tiến tổ chức quản lý, phát triển công nghệ mới, thay đổi chiến lược sản xuất, kinh doanh... và đôi khi còn có cả việc tìm “vận may” trên thương trường. Sự lớn lên này của các doanh nghiệp được gọi là tăng trưởng nội sinh của doanh nghiệp và vì thế, không có lý do gì mà công quyền ngăn cản hay cấm đoán sự phát triển của các doanh nghiệp. Vì vậy, bản thân hiện tượng độc quyền (với tính cách là kết quả của sự tăng trưởng nội sinh ở mức cao nhất) là không có tội. Lúc đó, pháp luật chỉ có thể và cần phải tinh tường trong những hiện tượng lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền của doanh nghiệp mà thôi. Chỉ có quá trình độc quyền hóa trái pháp luật mới đáng để quan tâm[4].

Việc kiểm soát hay không kiểm soát doanh nghiệp độc quyền tự nhiên là vấn đề vẫn còn những tranh luận, cần tiếp tục được nghiên cứu ở những nội dung chuyên sâu hơn. Tuy nhiên, những gì thuộc về sự phát triển, lớn mạnh một cách tự nhiên, vốn có thì pháp luật cần phải tôn trọng, nuôi dưỡng. Luật Cạnh tranh năm 2004 cũng như Luật Cạnh tranh năm 2018 của Việt Nam chỉ kiểm soát sự lớn mạnh của các doanh nghiệp bằng tăng trưởng thông qua các hình thức tập trung kinh tế, không kiểm soát sự lớn mạnh của doanh nghiệp bằng tăng trưởng tự thân của doanh nghiệp.

Thứ hai, những bất cập của Luật Cạnh tranh năm 2004 về kiểm soát tập trung kinh tế khi chỉ dựa vào tiêu chí duy nhất là thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế đã cho thấy sự cần thiết phải đổi mới pháp luật về kiểm soát tập trung kinh tế[5]. Việc kiểm soát và cấm tập trung kinh tế chỉ dựa trên tiêu chí thị phần và thị phần kết hợp trên thị trường liên quan đã không phản ánh được đầy đủ, chính xác thực tế của thị trường cũng như mức độ tác động của vụ việc tập trung kinh tế đến môi trường cạnh tranh. Cách tiếp cận này đã thu hẹp phạm vi kiểm soát tập trung kinh tế, chỉ kiểm soát các hành vi tập trung kinh tế theo chiều ngang và mặc nhiên bỏ ngỏ, không kiểm soát tập trung kinh tế theo chiều dọc và tập trung kinh tế hỗn hợp.

Mặc dù tập trung kinh tế theo chiều dọc và tập trung kinh tế hỗn hợp thường không có khả năng gây nguy hại như tập trung kinh tế theo chiều ngang nhưng lý thuyết và kinh nghiệm thực tiễn kiểm soát tập trung kinh tế ở các nước trên thế giới cho thấy, bên cạnh tác động tích cực đem lại cho thị trường cạnh tranh của tập trung kinh tế theo chiều dọc và tập trung kinh tế hỗn hợp, trong những trường hợp nhất định, tập trung kinh tế theo chiều dọc và tập trung kinh tế hỗn hợp vẫn có khả năng gây nguy hại đáng kể cho môi trường cạnh tranh. Bởi vậy, vẫn cần thiết phải kiểm soát tập trung kinh tế theo chiều dọc và tập trung kinh tế hỗn hợp.

Ngoài ra, việc kiểm soát và cấm tập trung kinh tế chỉ dựa trên tiêu chí thị phần và thị phần kết hợp trên thị trường liên quan cũng dễ tạo ra sự lọt lưới (bỏ sót) đối với những trường hợp tập trung kinh tế mà thị phần kết hợp của doanh nghiệp sau tập trung kinh tế ≤ 50% trên thị trường liên quan (không thuộc diện bị cấm theo Luật Cạnh tranh năm 2004) nhưng vẫn có khả năng tác động tiêu cực, gây nguy hại đến môi trường cạnh tranh. Ngược lại, cấm những trường hợp tập trung kinh tế mà thị phần kết hợp của doanh nghiệp sau tập trung kinh tế trên 50% trên thị trường liên quan lại có thể hàm chứa cả những trường hợp tập trung kinh tế không gây ra tác động tiêu cực đáng kể đến cạnh tranh cho dù thị phần kết hợp trên 50% trên thị trường liên quan.

Mặt khác, các doanh nghiệp khi tiến hành các hoạt động kinh doanh chỉ có thể biết và chịu trách nhiệm về doanh thu, doanh số của mình mà không thể biết doanh thu, doanh số của các đối thủ cạnh tranh. Các doanh nghiệp không thể tự xác định được thị phần của mình trên thị trường liên quan nên khó có thể biết vụ việc tập trung kinh tế của mìnhthuộc hoặc không thuộc trường hợp tập trung kinh tế bị cấm hay phải thông báo trước khi thực hiện.

Thứ ba, khắc phục hạn chế của Luật Cạnh tranh năm 2004 và tiếp thu kinh nghiệm pháp luật của các nước tiên tiến về kiểm soát tập trung kinh tế, Luật Cạnh tranh năm 2018 không chỉ tiếp cận kiểm soát tập trung kinh tế dựa trên tiêu chí thị phần kết hợp và ngưỡng bị cấm tập trung kinh tế khi thị phần kết hợp trên 50% trên thị trường liên quan. Tiêu chí để kiểm soát tập trung kinh tế được đổi mới, nhìn nhận toàn diện hơn trên cơ sở đánh giá cấu trúc thị trường, mức độ tập trung trên thị trường, khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể trên thị trường và tác động tích cực của việc tập trung kinh tế đối với nền kinh tế.

Luật Cạnh tranh năm 2018 đã đưa ra các tiêu chí khác nhau (tổng tài sản, tổng doanh thu, giá trị giao dịch tập trung kinh tế trên thị trường, thị phần kết hợp trên thị trường liên quan) để doanh nghiệp có thể tự xác định giao dịch có thuộc trường hợp phải thông báo hay không phải thông báo. Theo khoản 2 Điều 33 Luật Cạnh tranh năm 2018, ngưỡng thông báo tập trung kinh tế được xác định căn cứ vào một trong các tiêu chí sau đây: (i) Tổng tài sản trên thị trường Việt Nam của doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế; (ii) Tổng doanh thu trên thị trường Việt Nam của doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế; (iii) Giá trị giao dịch của tập trung kinh tế; (iv) Thị phần kết hợp trên thị trường liên quan của doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế. Ngoài ra, ngưỡng làm căn cứ để cấm hay không cấm tập trung kinh tế cũng được quy định một cách khái quát, các tiêu chí để đánh giá ngưỡng cấm tập trung kinh tế được xem xét toàn diện hơn. Theo Điều 30 Luật Cạnh tranh năm 2018, tập trung kinh tế bị cấm khi doanh nghiệp thực hiện tập trung kinh tế gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể trên thị trường Việt Nam.

Tuy nhiên, để xác định doanh nghiệp thực hiện tập trung kinh tế có bị cấm hay không cấm cần phải thẩm định việc tập trung kinh tế. Thẩm định việc tập trung kinh tế, gồm thẩm định sơ bộ và thẩm định chính thức. Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia có trách nhiệm thẩm định sơ bộ việc tập trung kinh tế. Nội dung thẩm định sơ bộ việc tập trung kinh tế bao gồm: (i) Thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế trên thị trường liên quan; (ii) Mức độ tập trung trên thị trường liên quan trước và sau khi tập trung kinh tế; (iii) Mối quan hệ của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế trong chuỗi sản xuất, phân phối, cung ứng đối với một loại hàng hóa, dịch vụ nhất định hoặc ngành, nghề kinh doanh của các doanh nghiệp này là đầu vào của nhau hoặc bổ trợ cho nhau.

Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ thông báo tập trung kinh tế đầy đủ, hợp lệ, Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia phải ra thông báo kết quả thẩm định sơ bộ việc tập trung kinh tế về một trong các nội dung sau đây: (i) Tập trung kinh tế được thực hiện; (ii) Tập trung kinh tế phải thẩm định chính thức.

Khi kết thúc thời hạn nêu trên mà Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia chưa ra thông báo kết quả thẩm định sơ bộ thì việc tập trung kinh tế được thực hiện và Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia không được ra thông báo phải thẩm định chính thức[6].

Trường hợp vụ việc tập trung kinh tế phải thẩm định chính thức thì Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia phải thẩm định trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày ra thông báo phải thẩm định chính thức theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 36 Luật Cạnh tranh năm 2018. Đối với vụ việc phức tạp, Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia có thể gia hạn thẩm định chính thức nhưng không quá 60 ngày và thông báo bằng văn bản cho doanh nghiệp nộp hồ sơ thông báo tập trung kinh tế.

Nội dung thẩm định chính thức việc tập trung kinh tế bao gồm: (i) Đánh giá tác động hoặc khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể của việc tập trung kinh tế theo quy định tại Điều 31 Luật Cạnh tranh năm 2018 và các biện pháp khắc phục tác động hạn chế cạnh tranh; (ii) Đánh giá tác động tích cực của việc tập trung kinh tế theo quy định tại Điều 32 Luật Cạnh tranh năm 2018 và các biện pháp tăng cường tác động tích cực của việc tập trung kinh tế; (iii) Đánh giá tổng hợp khả năng tác động hạn chế cạnh tranh và khả năng tác động tích cực của tập trung kinh tế để làm cơ sở xem xét, quyết định về việc tập trung kinh tế[7].

Căn cứ nội dung thẩm định chính thức, Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia ra quyết định về một trong các nội dung sau đây: (i) Tập trung kinh tế được thực hiện; (ii) Tập trung kinh tế có điều kiện; (iii) Tập trung kinh tế thuộc trường hợp bị cấm[8].

Theo Điều 42 Luật Cạnh tranh năm 2018, tập trung kinh tế có điều kiện là tập trung kinh tế được thực hiện nhưng phải đáp ứng một hoặc một số điều kiện sau đây: (i) Chia, tách, bán lại một phần vốn góp, tài sản của doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế; (ii) Kiểm soát nội dung liên quan đến giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ hoặc các điều kiện giao dịch khác trong hợp đồng của doanh nghiệp hình thành sau tập trung kinh tế; (iii) Biện pháp khác nhằm khắc phục khả năng tác động hạn chế cạnh tranh trên thị trường; (iv) Biện pháp khác nhằm tăng cường tác động tích cực của tập trung kinh tế.

Tóm lại, với cách tiếp cận mới, Luật Cạnh tranh năm 2018 không còn đặt ra các trường hợp miễn trừ đối với các trường hợp tập trung kinh tế bị cấm như Luật Cạnh tranh năm 2004. Các tiêu chí về việc cho hưởng miễn trừ (có tác động tích cực) được xem xét ngay trong quá trình thẩm định tập trung kinh tế nhằm đánh giá một hành vi tập trung kinh tế có gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể trên thị trường Việt Nam hay không để xác định tập trung kinh tế được thực hiện hay tập trung kinh tế có điều kiện hoặc tập trung kinh tế thuộc trường hợp bị cấm.

ThS. Hoàng Minh Chiến

Đại học Luật Hà Nội







[1]. Xem: Điều 16 Luật Cạnh tranh năm 2004, Điều 29 Luật Cạnh tranh năm 2018.

[2]. Theo pháp luật Việt Nam hiện hành, doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân (không là pháp nhân) nên không thể là nhà đầu tư để thành lập, góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp và quản lý doanh nghiệp (điểm đ khoản 2 Điều 18 Luật Doanh nghiệp năm 2014). Tại khoản 4 Điều 183 Luật Doanh nghiệp năm 2014 cũng quy định:“Doanh nghiệp tư nhân không được quyền góp vốn thành lập hoặc mua cổ phần, phần vốn góp trong công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần”.

[3]. Luật Cạnh tranh - Cần một cách tiếp cận mới và thiết thực, LS. Nguyễn Tiến Lập (Văn phòng NHQuang & Cộng sự, Trọng tài viên VIAC). Nguồn: http://viac.vn/goc-nhin-trong-tai-vien/luat-canh-tranh-can-mot-cach-tiep-can-moi-va-thiet-thuc-a778.html.

[4]. Tạp chí Khoa học Pháp lý số 4 (41)/2007, Các khía cạnh pháp lý về tập trung kinh tế và vai trò của cơ quan quản lý cạnh tranh, PGS.TS. Nguyễn Như Phát.

[5]. Xem chi tiết tại Báo cáo tổng kết 12 năm thi hành Luật Cạnh tranh năm 2004.

[6]. Điều 36 Luật Cạnh tranh năm 2018.

[7]. Điều 37 Luật Cạnh tranh năm 2018.

[8]. Điều 41 Luật Cạnh tranh năm 2018.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tóm tắt: Chương VII dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) quy định về tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo gần như giữ nguyên nội dung Chương VII Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Tuy nhiên, phân tích từ góc độ liên thông giữa Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 với Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Đất đai năm 2024, cho thấy có một số bất cập, nếu được hoàn thiện trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) sẽ giúp hệ thống pháp luật liên quan đến chế định này được hoàn thiện, đồng bộ hơn.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.

Theo dõi chúng tôi trên: