Thứ tư 18/03/2026 06:06
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Kiểm tra việc thực hiện pháp luật về lý lịch tư pháp - Thực tiễn và những vấn đề đặt ra

Theo quy định của Luật Lý lịch tư pháp[2], Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp. Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao có trách nhiệm phối hợp với Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp.

Để tạo cơ sở pháp lý xây dựng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước và nhu cầu cấp phiếu lý lịch tư pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, phù hợp với tiến trình cải cách tư pháp, xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp, hiện đại, ngày 17/6/2009, tại kỳ họp thứ năm, Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật Lý lịch tư pháp. Luật Lý lịch tư pháp được ban hành đã đặt cơ sở pháp lý cho sự phát triển của công tác quản lý lý lịch tư pháp ở Việt Nam. Lần đầu tiên, các nội dung quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp[1] được quy định một cách bao quát, toàn diện. Trong đó, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về lý lịch tư pháp là công việc được các cơ quan nhà nước tiến hành thường xuyên trong hoạt động quản lý nhằm nắm bắt kịp thời tình hình thực hiện Luật Lý lịch tư pháp và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật tại Sở Tư pháp và các cơ quan có liên quan trong việc phối hợp tra cứu, xác minh, trao đổi, cung cấp thông tin lý lịch tư pháp, phục vụ công tác xây dựng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp và cấp phiếu lý lịch tư pháp. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai thực hiện nhiệm vụ này cho thấy, bên cạnh những kết quả đạt được, còn có những khó khăn, bất cập cần kịp thời tháo gỡ nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác kiểm tra việc thực hiện pháp luật về lý lịch tư pháp.

1. Thực tiễn thực hiện các quy định của Luật Lý lịch tư pháp về kiểm tra việc thực hiện pháp luật về lý lịch tư pháp

1.1. Kết quả đạt được trong công tác kiểm tra việc thực hiện pháp luật về lý lịch tư pháp

Theo quy định của Luật Lý lịch tư pháp[2], Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp. Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao có trách nhiệm phối hợp với Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp.

Bộ Tư pháp là cơ quan chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp. Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Ngoại giao và các bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tư pháp thực hiện quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp. Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp tại địa phương.

Thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước được giao, trong đó có nhiệm vụ kiểm tra việc thực hiện pháp luật về lý lịch tư pháp, trong những năm qua, Bộ Tư pháp, các bộ, ngành đã tiến hành kiểm tra tình hình thực hiện các quy định của pháp luật về lý lịch tư pháp và đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận, cụ thể:

Thứ nhất, Bộ Tư pháp, các bộ, ngành đã có sự quan tâm, chú trọng đến công tác kiểm tra việc thực hiện pháp luật về lý lịch tư pháp. Theo đó, hàng năm, các đoàn kiểm tra và kiểm tra liên ngành về lý lịch tư pháp đều được tổ chức thực hiện.

Theo số liệu thống kê của Bộ Tư pháp[3], từ năm 2012 đến hết năm 2016, Bộ Tư pháp đã tiến hành kiểm tra tại 27 Sở Tư pháp. Từ năm 2013 đến hết năm 2016, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành có liên quan (Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng) tổ chức 09 Đoàn kiểm tra liên ngành tình hình thực hiện Luật Lý lịch tư pháp tại 20 tỉnh, thành phố.

Bên cạnh công tác kiểm tra, kiểm tra liên ngành của Bộ Tư pháp, trong những năm qua, các bộ, ngành có liên quan cũng đã tiến hành kiểm tra các cơ quan có liên quan thuộc phạm vi quản lý của bộ, ngành mình về công tác lý lịch tư pháp (Bộ Quốc phòng cũng đã tiến hành kiểm tra một số cơ quan tư pháp trong Quân đội...).

Thứ hai, thông qua công tác kiểm tra, một số khó khăn, vướng mắc của các cơ quan, đơn vị được kiểm tra đã kịp thời được đoàn kiểm tra hướng dẫn, giải đáp. Đồng thời, thông qua công tác kiểm tra, giúp cơ quan, người có thẩm quyền phát hiện, kịp thời chấn chỉnh những sai sót trong quá trình triển khai thi hành Luật Lý lịch tư pháp, kịp thời động viên, khuyến khích và nhân rộng những điển hình trong việc thực thi nhiệm vụ mà Luật Lý lịch tư pháp và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật quy định.

Thứ ba, công tác kiểm tra giúp các cơ quan, người có thẩm quyền nắm bắt được những khó khăn, vướng mắc nảy sinh trong thực tiễn, kịp thời kiến nghị với các cơ quan, người có thẩm quyền những giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực lý lịch tư pháp, từng bước đưa công tác này ngày càng đi vào nền nếp.

1.2. Những khó khăn, vướng mắc trong kiểm tra việc thực hiện pháp luật về lý lịch tư pháp và những nguyên nhân chủ yếu

Bên cạnh những kết quả đạt được như đã nêu trên, thực tiễn thực hiện nhiệm vụ kiểm tra việc thực hiện pháp luật về lý lịch tư pháp cho thấy công tác này còn có những khó khăn, vướng mắc như sau:

Thứ nhất, khó khăn, vướng mắc trong việc tổ chức tiến hành một cuộc kiểm tra (về trình tự, thủ tục kiểm tra; cách thức tiến hành một cuộc kiểm tra), trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quá trình kiểm tra việc thực hiện pháp luật về lý lịch tư pháp.

Thứ hai, các nội dung kiểm tra được đưa ra trong kế hoạch kiểm tra hàng năm căn cứ trên cơ sở thực tiễn thực hiện các nhiệm vụ được giao về lý lịch tư pháp, theo đó, nội dung kiểm tra chủ yếu tập trung kiểm tra về công tác phối hợp cung cấp thông tin lý lịch tư pháp; công tác xây dựng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp; công tác phối hợp tra cứu, xác minh thông tin lý lịch tư pháp, cấp phiếu lý lịch tư pháp...

Thứ ba, việc nắm bắt tình hình, thông tin của cơ quan kiểm tra đối với cơ quan, đơn vị được kiểm tra liên quan đến việc thực hiện các kết luận kiểm tra còn nhiều bất cập. Thực tế hiện nay, cơ quan kiểm tra đa phần không nắm được tình hình, kết quả thực hiện hay không thực hiện các nội dung nêu trong thông báo kết luận kiểm tra của cơ quan, đơn vị được kiểm tra. Xét trên khía cạnh đánh giá về hiệu quả thực hiện, có thể thấy, công tác kiểm tra việc thực hiện pháp luật về lý lịch tư pháp chưa thực sự đáp ứng yêu cầu thực tiễn quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp.

Những khó khăn, vướng mắc nêu trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau, trong đó có nguyên nhân xuất phát từ các quy định của pháp luật, cụ thể:

Một là, hiện nay, các quy định pháp luật liên quan đến công tác kiểm tra nói chung chỉ dừng lại ở những quy định chung[4] chưa có văn bản pháp luật quy định cụ thể, chi tiết về công tác kiểm tra.

Hai là, quy định của Luật Lý lịch tư pháp về công tác kiểm tra việc thực hiện pháp luật về lý lịch tư pháp còn rất chung chung, chưa đầy đủ, mới chỉ dừng lại ở quy định mang tính nguyên tắc “Kiểm tra… việc thực hiện pháp luật về lý lịch tư pháp”[5]. Ngoài quy định này của Luật Lý lịch tư pháp, các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật Lý lịch tư pháp không có bất kỳ hướng dẫn nào về công tác kiểm tra việc thực hiện pháp luật về lý lịch tư pháp như nội dung kiểm tra; trình tự, thủ tục thực hiện việc kiểm tra; quan hệ công tác của đoàn kiểm tra...

Ba là, kết luận kiểm tra về lý lịch tư pháp thường đề xuất rất nhiều các nội dung liên quan đến trách nhiệm của nhiều cơ quan, đơn vị trong việc tra cứu, xác minh, trao đổi, cung cấp thông tin lý lịch tư pháp để xây dựng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp và phục vụ công tác cấp phiếu lý lịch tư pháp. Tuy nhiên, hiện nay, do trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện kết luận kiểm tra; công tác theo dõi, đôn đốc việc thực hiện kết luận kiểm tra nói chung và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện kết luận kiểm tra, công tác theo dõi, đôn đốc việc thực hiện kết luận kiểm tra về lý lịch tư pháp chưa được quy định nên mặc dù hàng năm có rất nhiều đoàn kiểm tra, kiểm tra liên ngành về lý lịch tư pháp được thực hiện, song sau khi tiến hành kiểm tra, gửi thông báo kết luận tới cơ quan, đơn vị được kiểm tra, đoàn kiểm tra thường không nắm được tình hình, kết quả thực hiện hay không thực hiện các nội dung nêu trong thông báo kết luận kiểm tra của cơ quan, đơn vị được kiểm tra.

2. Đề xuất, kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về công tác kiểm tra nói chung và công tác kiểm tra việc thực hiện pháp luật về lý lịch tư pháp nói riêng

Luật Lý lịch tư pháp đặt ra những nhiệm vụ mới, phức tạp trong quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp. Việc chuẩn bị triển khai thực hiện những nhiệm vụ này đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ của các cơ quan Tòa án, Viện kiểm sát, Công an, Quốc phòng, Tư pháp trong việc phối hợp tra cứu, xác minh, trao đổi, cung cấp thông tin lý lịch tư pháp, phục vụ công tác xây dựng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp và cấp Phiếu lý lịch tư pháp. Trong thời gian tới, để tiếp tục thực hiện có hiệu quả những nhiệm vụ do Luật Lý lịch tư pháp đặt ra, việc hoàn thiện các quy định pháp luật về công tác kiểm tra, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước nói chung và quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp nói riêng cần tiếp tục được nghiên cứu để có những đề xuất, kiến nghị mang tính toàn diện và lâu dài hơn, cụ thể:

Thứ nhất, đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền nghiên cứu, quy định chi tiết, cụ thể các nội dung quy định về công tác kiểm tra việc thực hiện pháp luật về lý lịch tư pháp trong Luật Lý lịch tư pháp và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật.

Thứ hai, về lâu dài, đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền nghiên cứu, ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định chung về công tác kiểm tra, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, toàn diện cho công tác kiểm tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước được giao. Văn bản quy phạm pháp luật quy định chung về công tác kiểm tra cần được nghiên cứu, quy định cụ thể về các vấn đề như: Nội dung kiểm tra; thẩm quyền kiểm tra; các trường hợp kiểm tra; hình thức kiểm tra; quyền và nghĩa vụ của đoàn kiểm tra, quyền và nghĩa vụ của đối tượng được kiểm tra; trình tự, thủ tục tiến hành kiểm tra (chuẩn bị kiểm tra, tiến hành kiểm tra, kết thúc kiểm tra)...

Bên cạnh việc quy định chung về các nội dung kiểm tra, đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền nghiên cứu, quy định cụ thể về việc thực hiện kết luận kiểm tra như: Trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện kết luận kiểm tra; theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kết luận kiểm tra (trách nhiệm chỉ đạo và tổ chức việc theo dõi, đôn đốc, kiểm tra; đối tượng theo dõi, đôn đốc, kiểm tra; nội dung theo dõi, đôn đốc, kiểm tra; trình tự, thủ tục theo dõi, đôn đốc, kiểm tra).

ThS. Nguyễn Thị Minh Phương

Bộ Tư pháp

Tài liệu tham khảo:

[1]. Theo quy định tại Điều 9 Luật Lý lịch tư pháp, nội dung quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp bao gồm:

a) Trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền văn bản quy phạm pháp luật về lý lịch tư pháp;

b) Chỉ đạo và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về lý lịch tư pháp, tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật về lý lịch tư pháp; đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho công chức làm công tác lý lịch tư pháp;

c) Quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp;

d) Bảo đảm về biên chế, cơ sở vật chất và phương tiện làm việc cho hoạt động quản lý lý lịch tư pháp;

đ) Chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ về lý lịch tư pháp;

e) Kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm và giải quyết theo thẩm quyền các khiếu nại, tố cáo trong việc thực hiện pháp luật về lý lịch tư pháp;

g) Ban hành và quản lý thống nhất các biểu mẫu, giấy tờ, sổ sách về lý lịch tư pháp;

h) Triển khai việc ứng dụng công nghệ thông tin trong xây dựng cơ sở dữ liệu và quản lý lý lịch tư pháp;

i) Thực hiện hợp tác quốc tế về lĩnh vực lý lịch tư pháp;

k) Báo cáo về hoạt động quản lý lý lịch tư pháp.

[2]. Điều 9 Luật Lý lịch tư pháp.

[3]. Báo cáo số 173/BC-BTP ngày 20/6/2017 của Bộ Tư pháp về tổng kết 06 năm thi hành Luật Lý lịch tư pháp.

[4]. Khoản 5 Điều 96 Hiến pháp năm 2013 quy định Chính phủ có nhiệm vụ, quyền hạn “tổ chức công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống quan liêu, tham nhũng trong bộ máy nhà nước”.

Khoản 1 Điều 24 Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015 quy định Chính phủ “thống nhất quản lý nhà nước về công tác thanh tra, kiểm tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong bộ máy nhà nước”.

Điều 15 Nghị định số 123/2016/NĐ-CP ngày 01/9/2016 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ, cơ quan ngang Bộ thì về thanh tra, kiểm tra các bộ có nhiệm vụ, quyền hạn:

“1. Kiểm tra, thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật về ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ.

2. Kiểm tra, thanh tra các Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp trong việc thực hiện pháp luật về ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ.

3. Giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của tổ chức, cá nhân liên quan đến ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ; tổ chức việc tiếp công dân theo quy định của pháp luật”.

[5]. Điểm e khoản 3 Điều 9 và điểm c khoản 5 Điều 9 Luật Lý lịch tư pháp.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Theo dõi chúng tôi trên: