Thứ tư 21/01/2026 02:04
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Kiểm tra việc thực hiện pháp luật về lý lịch tư pháp - Thực tiễn và những vấn đề đặt ra

Theo quy định của Luật Lý lịch tư pháp[2], Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp. Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao có trách nhiệm phối hợp với Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp.

Để tạo cơ sở pháp lý xây dựng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước và nhu cầu cấp phiếu lý lịch tư pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, phù hợp với tiến trình cải cách tư pháp, xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp, hiện đại, ngày 17/6/2009, tại kỳ họp thứ năm, Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật Lý lịch tư pháp. Luật Lý lịch tư pháp được ban hành đã đặt cơ sở pháp lý cho sự phát triển của công tác quản lý lý lịch tư pháp ở Việt Nam. Lần đầu tiên, các nội dung quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp[1] được quy định một cách bao quát, toàn diện. Trong đó, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về lý lịch tư pháp là công việc được các cơ quan nhà nước tiến hành thường xuyên trong hoạt động quản lý nhằm nắm bắt kịp thời tình hình thực hiện Luật Lý lịch tư pháp và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật tại Sở Tư pháp và các cơ quan có liên quan trong việc phối hợp tra cứu, xác minh, trao đổi, cung cấp thông tin lý lịch tư pháp, phục vụ công tác xây dựng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp và cấp phiếu lý lịch tư pháp. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai thực hiện nhiệm vụ này cho thấy, bên cạnh những kết quả đạt được, còn có những khó khăn, bất cập cần kịp thời tháo gỡ nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác kiểm tra việc thực hiện pháp luật về lý lịch tư pháp.

1. Thực tiễn thực hiện các quy định của Luật Lý lịch tư pháp về kiểm tra việc thực hiện pháp luật về lý lịch tư pháp

1.1. Kết quả đạt được trong công tác kiểm tra việc thực hiện pháp luật về lý lịch tư pháp

Theo quy định của Luật Lý lịch tư pháp[2], Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp. Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao có trách nhiệm phối hợp với Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp.

Bộ Tư pháp là cơ quan chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp. Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Ngoại giao và các bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tư pháp thực hiện quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp. Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp tại địa phương.

Thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước được giao, trong đó có nhiệm vụ kiểm tra việc thực hiện pháp luật về lý lịch tư pháp, trong những năm qua, Bộ Tư pháp, các bộ, ngành đã tiến hành kiểm tra tình hình thực hiện các quy định của pháp luật về lý lịch tư pháp và đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận, cụ thể:

Thứ nhất, Bộ Tư pháp, các bộ, ngành đã có sự quan tâm, chú trọng đến công tác kiểm tra việc thực hiện pháp luật về lý lịch tư pháp. Theo đó, hàng năm, các đoàn kiểm tra và kiểm tra liên ngành về lý lịch tư pháp đều được tổ chức thực hiện.

Theo số liệu thống kê của Bộ Tư pháp[3], từ năm 2012 đến hết năm 2016, Bộ Tư pháp đã tiến hành kiểm tra tại 27 Sở Tư pháp. Từ năm 2013 đến hết năm 2016, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành có liên quan (Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng) tổ chức 09 Đoàn kiểm tra liên ngành tình hình thực hiện Luật Lý lịch tư pháp tại 20 tỉnh, thành phố.

Bên cạnh công tác kiểm tra, kiểm tra liên ngành của Bộ Tư pháp, trong những năm qua, các bộ, ngành có liên quan cũng đã tiến hành kiểm tra các cơ quan có liên quan thuộc phạm vi quản lý của bộ, ngành mình về công tác lý lịch tư pháp (Bộ Quốc phòng cũng đã tiến hành kiểm tra một số cơ quan tư pháp trong Quân đội...).

Thứ hai, thông qua công tác kiểm tra, một số khó khăn, vướng mắc của các cơ quan, đơn vị được kiểm tra đã kịp thời được đoàn kiểm tra hướng dẫn, giải đáp. Đồng thời, thông qua công tác kiểm tra, giúp cơ quan, người có thẩm quyền phát hiện, kịp thời chấn chỉnh những sai sót trong quá trình triển khai thi hành Luật Lý lịch tư pháp, kịp thời động viên, khuyến khích và nhân rộng những điển hình trong việc thực thi nhiệm vụ mà Luật Lý lịch tư pháp và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật quy định.

Thứ ba, công tác kiểm tra giúp các cơ quan, người có thẩm quyền nắm bắt được những khó khăn, vướng mắc nảy sinh trong thực tiễn, kịp thời kiến nghị với các cơ quan, người có thẩm quyền những giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực lý lịch tư pháp, từng bước đưa công tác này ngày càng đi vào nền nếp.

1.2. Những khó khăn, vướng mắc trong kiểm tra việc thực hiện pháp luật về lý lịch tư pháp và những nguyên nhân chủ yếu

Bên cạnh những kết quả đạt được như đã nêu trên, thực tiễn thực hiện nhiệm vụ kiểm tra việc thực hiện pháp luật về lý lịch tư pháp cho thấy công tác này còn có những khó khăn, vướng mắc như sau:

Thứ nhất, khó khăn, vướng mắc trong việc tổ chức tiến hành một cuộc kiểm tra (về trình tự, thủ tục kiểm tra; cách thức tiến hành một cuộc kiểm tra), trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quá trình kiểm tra việc thực hiện pháp luật về lý lịch tư pháp.

Thứ hai, các nội dung kiểm tra được đưa ra trong kế hoạch kiểm tra hàng năm căn cứ trên cơ sở thực tiễn thực hiện các nhiệm vụ được giao về lý lịch tư pháp, theo đó, nội dung kiểm tra chủ yếu tập trung kiểm tra về công tác phối hợp cung cấp thông tin lý lịch tư pháp; công tác xây dựng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp; công tác phối hợp tra cứu, xác minh thông tin lý lịch tư pháp, cấp phiếu lý lịch tư pháp...

Thứ ba, việc nắm bắt tình hình, thông tin của cơ quan kiểm tra đối với cơ quan, đơn vị được kiểm tra liên quan đến việc thực hiện các kết luận kiểm tra còn nhiều bất cập. Thực tế hiện nay, cơ quan kiểm tra đa phần không nắm được tình hình, kết quả thực hiện hay không thực hiện các nội dung nêu trong thông báo kết luận kiểm tra của cơ quan, đơn vị được kiểm tra. Xét trên khía cạnh đánh giá về hiệu quả thực hiện, có thể thấy, công tác kiểm tra việc thực hiện pháp luật về lý lịch tư pháp chưa thực sự đáp ứng yêu cầu thực tiễn quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp.

Những khó khăn, vướng mắc nêu trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau, trong đó có nguyên nhân xuất phát từ các quy định của pháp luật, cụ thể:

Một là, hiện nay, các quy định pháp luật liên quan đến công tác kiểm tra nói chung chỉ dừng lại ở những quy định chung[4] chưa có văn bản pháp luật quy định cụ thể, chi tiết về công tác kiểm tra.

Hai là, quy định của Luật Lý lịch tư pháp về công tác kiểm tra việc thực hiện pháp luật về lý lịch tư pháp còn rất chung chung, chưa đầy đủ, mới chỉ dừng lại ở quy định mang tính nguyên tắc “Kiểm tra… việc thực hiện pháp luật về lý lịch tư pháp”[5]. Ngoài quy định này của Luật Lý lịch tư pháp, các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật Lý lịch tư pháp không có bất kỳ hướng dẫn nào về công tác kiểm tra việc thực hiện pháp luật về lý lịch tư pháp như nội dung kiểm tra; trình tự, thủ tục thực hiện việc kiểm tra; quan hệ công tác của đoàn kiểm tra...

Ba là, kết luận kiểm tra về lý lịch tư pháp thường đề xuất rất nhiều các nội dung liên quan đến trách nhiệm của nhiều cơ quan, đơn vị trong việc tra cứu, xác minh, trao đổi, cung cấp thông tin lý lịch tư pháp để xây dựng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp và phục vụ công tác cấp phiếu lý lịch tư pháp. Tuy nhiên, hiện nay, do trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện kết luận kiểm tra; công tác theo dõi, đôn đốc việc thực hiện kết luận kiểm tra nói chung và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện kết luận kiểm tra, công tác theo dõi, đôn đốc việc thực hiện kết luận kiểm tra về lý lịch tư pháp chưa được quy định nên mặc dù hàng năm có rất nhiều đoàn kiểm tra, kiểm tra liên ngành về lý lịch tư pháp được thực hiện, song sau khi tiến hành kiểm tra, gửi thông báo kết luận tới cơ quan, đơn vị được kiểm tra, đoàn kiểm tra thường không nắm được tình hình, kết quả thực hiện hay không thực hiện các nội dung nêu trong thông báo kết luận kiểm tra của cơ quan, đơn vị được kiểm tra.

2. Đề xuất, kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về công tác kiểm tra nói chung và công tác kiểm tra việc thực hiện pháp luật về lý lịch tư pháp nói riêng

Luật Lý lịch tư pháp đặt ra những nhiệm vụ mới, phức tạp trong quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp. Việc chuẩn bị triển khai thực hiện những nhiệm vụ này đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ của các cơ quan Tòa án, Viện kiểm sát, Công an, Quốc phòng, Tư pháp trong việc phối hợp tra cứu, xác minh, trao đổi, cung cấp thông tin lý lịch tư pháp, phục vụ công tác xây dựng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp và cấp Phiếu lý lịch tư pháp. Trong thời gian tới, để tiếp tục thực hiện có hiệu quả những nhiệm vụ do Luật Lý lịch tư pháp đặt ra, việc hoàn thiện các quy định pháp luật về công tác kiểm tra, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước nói chung và quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp nói riêng cần tiếp tục được nghiên cứu để có những đề xuất, kiến nghị mang tính toàn diện và lâu dài hơn, cụ thể:

Thứ nhất, đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền nghiên cứu, quy định chi tiết, cụ thể các nội dung quy định về công tác kiểm tra việc thực hiện pháp luật về lý lịch tư pháp trong Luật Lý lịch tư pháp và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật.

Thứ hai, về lâu dài, đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền nghiên cứu, ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định chung về công tác kiểm tra, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, toàn diện cho công tác kiểm tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước được giao. Văn bản quy phạm pháp luật quy định chung về công tác kiểm tra cần được nghiên cứu, quy định cụ thể về các vấn đề như: Nội dung kiểm tra; thẩm quyền kiểm tra; các trường hợp kiểm tra; hình thức kiểm tra; quyền và nghĩa vụ của đoàn kiểm tra, quyền và nghĩa vụ của đối tượng được kiểm tra; trình tự, thủ tục tiến hành kiểm tra (chuẩn bị kiểm tra, tiến hành kiểm tra, kết thúc kiểm tra)...

Bên cạnh việc quy định chung về các nội dung kiểm tra, đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền nghiên cứu, quy định cụ thể về việc thực hiện kết luận kiểm tra như: Trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện kết luận kiểm tra; theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kết luận kiểm tra (trách nhiệm chỉ đạo và tổ chức việc theo dõi, đôn đốc, kiểm tra; đối tượng theo dõi, đôn đốc, kiểm tra; nội dung theo dõi, đôn đốc, kiểm tra; trình tự, thủ tục theo dõi, đôn đốc, kiểm tra).

ThS. Nguyễn Thị Minh Phương

Bộ Tư pháp

Tài liệu tham khảo:

[1]. Theo quy định tại Điều 9 Luật Lý lịch tư pháp, nội dung quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp bao gồm:

a) Trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền văn bản quy phạm pháp luật về lý lịch tư pháp;

b) Chỉ đạo và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về lý lịch tư pháp, tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật về lý lịch tư pháp; đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho công chức làm công tác lý lịch tư pháp;

c) Quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp;

d) Bảo đảm về biên chế, cơ sở vật chất và phương tiện làm việc cho hoạt động quản lý lý lịch tư pháp;

đ) Chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ về lý lịch tư pháp;

e) Kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm và giải quyết theo thẩm quyền các khiếu nại, tố cáo trong việc thực hiện pháp luật về lý lịch tư pháp;

g) Ban hành và quản lý thống nhất các biểu mẫu, giấy tờ, sổ sách về lý lịch tư pháp;

h) Triển khai việc ứng dụng công nghệ thông tin trong xây dựng cơ sở dữ liệu và quản lý lý lịch tư pháp;

i) Thực hiện hợp tác quốc tế về lĩnh vực lý lịch tư pháp;

k) Báo cáo về hoạt động quản lý lý lịch tư pháp.

[2]. Điều 9 Luật Lý lịch tư pháp.

[3]. Báo cáo số 173/BC-BTP ngày 20/6/2017 của Bộ Tư pháp về tổng kết 06 năm thi hành Luật Lý lịch tư pháp.

[4]. Khoản 5 Điều 96 Hiến pháp năm 2013 quy định Chính phủ có nhiệm vụ, quyền hạn “tổ chức công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống quan liêu, tham nhũng trong bộ máy nhà nước”.

Khoản 1 Điều 24 Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015 quy định Chính phủ “thống nhất quản lý nhà nước về công tác thanh tra, kiểm tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong bộ máy nhà nước”.

Điều 15 Nghị định số 123/2016/NĐ-CP ngày 01/9/2016 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ, cơ quan ngang Bộ thì về thanh tra, kiểm tra các bộ có nhiệm vụ, quyền hạn:

“1. Kiểm tra, thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật về ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ.

2. Kiểm tra, thanh tra các Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp trong việc thực hiện pháp luật về ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ.

3. Giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của tổ chức, cá nhân liên quan đến ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ; tổ chức việc tiếp công dân theo quy định của pháp luật”.

[5]. Điểm e khoản 3 Điều 9 và điểm c khoản 5 Điều 9 Luật Lý lịch tư pháp.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.

Theo dõi chúng tôi trên: