Thứ bảy 27/06/2026 18:55
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Kiểm tra việc thực hiện pháp luật về lý lịch tư pháp - Thực tiễn và những vấn đề đặt ra

Theo quy định của Luật Lý lịch tư pháp[2], Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp. Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao có trách nhiệm phối hợp với Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp.

Để tạo cơ sở pháp lý xây dựng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước và nhu cầu cấp phiếu lý lịch tư pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, phù hợp với tiến trình cải cách tư pháp, xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp, hiện đại, ngày 17/6/2009, tại kỳ họp thứ năm, Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật Lý lịch tư pháp. Luật Lý lịch tư pháp được ban hành đã đặt cơ sở pháp lý cho sự phát triển của công tác quản lý lý lịch tư pháp ở Việt Nam. Lần đầu tiên, các nội dung quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp[1] được quy định một cách bao quát, toàn diện. Trong đó, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về lý lịch tư pháp là công việc được các cơ quan nhà nước tiến hành thường xuyên trong hoạt động quản lý nhằm nắm bắt kịp thời tình hình thực hiện Luật Lý lịch tư pháp và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật tại Sở Tư pháp và các cơ quan có liên quan trong việc phối hợp tra cứu, xác minh, trao đổi, cung cấp thông tin lý lịch tư pháp, phục vụ công tác xây dựng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp và cấp phiếu lý lịch tư pháp. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai thực hiện nhiệm vụ này cho thấy, bên cạnh những kết quả đạt được, còn có những khó khăn, bất cập cần kịp thời tháo gỡ nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác kiểm tra việc thực hiện pháp luật về lý lịch tư pháp.

1. Thực tiễn thực hiện các quy định của Luật Lý lịch tư pháp về kiểm tra việc thực hiện pháp luật về lý lịch tư pháp

1.1. Kết quả đạt được trong công tác kiểm tra việc thực hiện pháp luật về lý lịch tư pháp

Theo quy định của Luật Lý lịch tư pháp[2], Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp. Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao có trách nhiệm phối hợp với Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp.

Bộ Tư pháp là cơ quan chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp. Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Ngoại giao và các bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tư pháp thực hiện quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp. Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp tại địa phương.

Thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước được giao, trong đó có nhiệm vụ kiểm tra việc thực hiện pháp luật về lý lịch tư pháp, trong những năm qua, Bộ Tư pháp, các bộ, ngành đã tiến hành kiểm tra tình hình thực hiện các quy định của pháp luật về lý lịch tư pháp và đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận, cụ thể:

Thứ nhất, Bộ Tư pháp, các bộ, ngành đã có sự quan tâm, chú trọng đến công tác kiểm tra việc thực hiện pháp luật về lý lịch tư pháp. Theo đó, hàng năm, các đoàn kiểm tra và kiểm tra liên ngành về lý lịch tư pháp đều được tổ chức thực hiện.

Theo số liệu thống kê của Bộ Tư pháp[3], từ năm 2012 đến hết năm 2016, Bộ Tư pháp đã tiến hành kiểm tra tại 27 Sở Tư pháp. Từ năm 2013 đến hết năm 2016, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành có liên quan (Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng) tổ chức 09 Đoàn kiểm tra liên ngành tình hình thực hiện Luật Lý lịch tư pháp tại 20 tỉnh, thành phố.

Bên cạnh công tác kiểm tra, kiểm tra liên ngành của Bộ Tư pháp, trong những năm qua, các bộ, ngành có liên quan cũng đã tiến hành kiểm tra các cơ quan có liên quan thuộc phạm vi quản lý của bộ, ngành mình về công tác lý lịch tư pháp (Bộ Quốc phòng cũng đã tiến hành kiểm tra một số cơ quan tư pháp trong Quân đội...).

Thứ hai, thông qua công tác kiểm tra, một số khó khăn, vướng mắc của các cơ quan, đơn vị được kiểm tra đã kịp thời được đoàn kiểm tra hướng dẫn, giải đáp. Đồng thời, thông qua công tác kiểm tra, giúp cơ quan, người có thẩm quyền phát hiện, kịp thời chấn chỉnh những sai sót trong quá trình triển khai thi hành Luật Lý lịch tư pháp, kịp thời động viên, khuyến khích và nhân rộng những điển hình trong việc thực thi nhiệm vụ mà Luật Lý lịch tư pháp và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật quy định.

Thứ ba, công tác kiểm tra giúp các cơ quan, người có thẩm quyền nắm bắt được những khó khăn, vướng mắc nảy sinh trong thực tiễn, kịp thời kiến nghị với các cơ quan, người có thẩm quyền những giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực lý lịch tư pháp, từng bước đưa công tác này ngày càng đi vào nền nếp.

1.2. Những khó khăn, vướng mắc trong kiểm tra việc thực hiện pháp luật về lý lịch tư pháp và những nguyên nhân chủ yếu

Bên cạnh những kết quả đạt được như đã nêu trên, thực tiễn thực hiện nhiệm vụ kiểm tra việc thực hiện pháp luật về lý lịch tư pháp cho thấy công tác này còn có những khó khăn, vướng mắc như sau:

Thứ nhất, khó khăn, vướng mắc trong việc tổ chức tiến hành một cuộc kiểm tra (về trình tự, thủ tục kiểm tra; cách thức tiến hành một cuộc kiểm tra), trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quá trình kiểm tra việc thực hiện pháp luật về lý lịch tư pháp.

Thứ hai, các nội dung kiểm tra được đưa ra trong kế hoạch kiểm tra hàng năm căn cứ trên cơ sở thực tiễn thực hiện các nhiệm vụ được giao về lý lịch tư pháp, theo đó, nội dung kiểm tra chủ yếu tập trung kiểm tra về công tác phối hợp cung cấp thông tin lý lịch tư pháp; công tác xây dựng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp; công tác phối hợp tra cứu, xác minh thông tin lý lịch tư pháp, cấp phiếu lý lịch tư pháp...

Thứ ba, việc nắm bắt tình hình, thông tin của cơ quan kiểm tra đối với cơ quan, đơn vị được kiểm tra liên quan đến việc thực hiện các kết luận kiểm tra còn nhiều bất cập. Thực tế hiện nay, cơ quan kiểm tra đa phần không nắm được tình hình, kết quả thực hiện hay không thực hiện các nội dung nêu trong thông báo kết luận kiểm tra của cơ quan, đơn vị được kiểm tra. Xét trên khía cạnh đánh giá về hiệu quả thực hiện, có thể thấy, công tác kiểm tra việc thực hiện pháp luật về lý lịch tư pháp chưa thực sự đáp ứng yêu cầu thực tiễn quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp.

Những khó khăn, vướng mắc nêu trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau, trong đó có nguyên nhân xuất phát từ các quy định của pháp luật, cụ thể:

Một là, hiện nay, các quy định pháp luật liên quan đến công tác kiểm tra nói chung chỉ dừng lại ở những quy định chung[4] chưa có văn bản pháp luật quy định cụ thể, chi tiết về công tác kiểm tra.

Hai là, quy định của Luật Lý lịch tư pháp về công tác kiểm tra việc thực hiện pháp luật về lý lịch tư pháp còn rất chung chung, chưa đầy đủ, mới chỉ dừng lại ở quy định mang tính nguyên tắc “Kiểm tra… việc thực hiện pháp luật về lý lịch tư pháp”[5]. Ngoài quy định này của Luật Lý lịch tư pháp, các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật Lý lịch tư pháp không có bất kỳ hướng dẫn nào về công tác kiểm tra việc thực hiện pháp luật về lý lịch tư pháp như nội dung kiểm tra; trình tự, thủ tục thực hiện việc kiểm tra; quan hệ công tác của đoàn kiểm tra...

Ba là, kết luận kiểm tra về lý lịch tư pháp thường đề xuất rất nhiều các nội dung liên quan đến trách nhiệm của nhiều cơ quan, đơn vị trong việc tra cứu, xác minh, trao đổi, cung cấp thông tin lý lịch tư pháp để xây dựng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp và phục vụ công tác cấp phiếu lý lịch tư pháp. Tuy nhiên, hiện nay, do trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện kết luận kiểm tra; công tác theo dõi, đôn đốc việc thực hiện kết luận kiểm tra nói chung và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện kết luận kiểm tra, công tác theo dõi, đôn đốc việc thực hiện kết luận kiểm tra về lý lịch tư pháp chưa được quy định nên mặc dù hàng năm có rất nhiều đoàn kiểm tra, kiểm tra liên ngành về lý lịch tư pháp được thực hiện, song sau khi tiến hành kiểm tra, gửi thông báo kết luận tới cơ quan, đơn vị được kiểm tra, đoàn kiểm tra thường không nắm được tình hình, kết quả thực hiện hay không thực hiện các nội dung nêu trong thông báo kết luận kiểm tra của cơ quan, đơn vị được kiểm tra.

2. Đề xuất, kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về công tác kiểm tra nói chung và công tác kiểm tra việc thực hiện pháp luật về lý lịch tư pháp nói riêng

Luật Lý lịch tư pháp đặt ra những nhiệm vụ mới, phức tạp trong quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp. Việc chuẩn bị triển khai thực hiện những nhiệm vụ này đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ của các cơ quan Tòa án, Viện kiểm sát, Công an, Quốc phòng, Tư pháp trong việc phối hợp tra cứu, xác minh, trao đổi, cung cấp thông tin lý lịch tư pháp, phục vụ công tác xây dựng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp và cấp Phiếu lý lịch tư pháp. Trong thời gian tới, để tiếp tục thực hiện có hiệu quả những nhiệm vụ do Luật Lý lịch tư pháp đặt ra, việc hoàn thiện các quy định pháp luật về công tác kiểm tra, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước nói chung và quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp nói riêng cần tiếp tục được nghiên cứu để có những đề xuất, kiến nghị mang tính toàn diện và lâu dài hơn, cụ thể:

Thứ nhất, đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền nghiên cứu, quy định chi tiết, cụ thể các nội dung quy định về công tác kiểm tra việc thực hiện pháp luật về lý lịch tư pháp trong Luật Lý lịch tư pháp và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật.

Thứ hai, về lâu dài, đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền nghiên cứu, ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định chung về công tác kiểm tra, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, toàn diện cho công tác kiểm tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước được giao. Văn bản quy phạm pháp luật quy định chung về công tác kiểm tra cần được nghiên cứu, quy định cụ thể về các vấn đề như: Nội dung kiểm tra; thẩm quyền kiểm tra; các trường hợp kiểm tra; hình thức kiểm tra; quyền và nghĩa vụ của đoàn kiểm tra, quyền và nghĩa vụ của đối tượng được kiểm tra; trình tự, thủ tục tiến hành kiểm tra (chuẩn bị kiểm tra, tiến hành kiểm tra, kết thúc kiểm tra)...

Bên cạnh việc quy định chung về các nội dung kiểm tra, đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền nghiên cứu, quy định cụ thể về việc thực hiện kết luận kiểm tra như: Trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện kết luận kiểm tra; theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kết luận kiểm tra (trách nhiệm chỉ đạo và tổ chức việc theo dõi, đôn đốc, kiểm tra; đối tượng theo dõi, đôn đốc, kiểm tra; nội dung theo dõi, đôn đốc, kiểm tra; trình tự, thủ tục theo dõi, đôn đốc, kiểm tra).

ThS. Nguyễn Thị Minh Phương

Bộ Tư pháp

Tài liệu tham khảo:

[1]. Theo quy định tại Điều 9 Luật Lý lịch tư pháp, nội dung quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp bao gồm:

a) Trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền văn bản quy phạm pháp luật về lý lịch tư pháp;

b) Chỉ đạo và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về lý lịch tư pháp, tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật về lý lịch tư pháp; đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho công chức làm công tác lý lịch tư pháp;

c) Quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp;

d) Bảo đảm về biên chế, cơ sở vật chất và phương tiện làm việc cho hoạt động quản lý lý lịch tư pháp;

đ) Chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ về lý lịch tư pháp;

e) Kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm và giải quyết theo thẩm quyền các khiếu nại, tố cáo trong việc thực hiện pháp luật về lý lịch tư pháp;

g) Ban hành và quản lý thống nhất các biểu mẫu, giấy tờ, sổ sách về lý lịch tư pháp;

h) Triển khai việc ứng dụng công nghệ thông tin trong xây dựng cơ sở dữ liệu và quản lý lý lịch tư pháp;

i) Thực hiện hợp tác quốc tế về lĩnh vực lý lịch tư pháp;

k) Báo cáo về hoạt động quản lý lý lịch tư pháp.

[2]. Điều 9 Luật Lý lịch tư pháp.

[3]. Báo cáo số 173/BC-BTP ngày 20/6/2017 của Bộ Tư pháp về tổng kết 06 năm thi hành Luật Lý lịch tư pháp.

[4]. Khoản 5 Điều 96 Hiến pháp năm 2013 quy định Chính phủ có nhiệm vụ, quyền hạn “tổ chức công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống quan liêu, tham nhũng trong bộ máy nhà nước”.

Khoản 1 Điều 24 Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015 quy định Chính phủ “thống nhất quản lý nhà nước về công tác thanh tra, kiểm tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong bộ máy nhà nước”.

Điều 15 Nghị định số 123/2016/NĐ-CP ngày 01/9/2016 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ, cơ quan ngang Bộ thì về thanh tra, kiểm tra các bộ có nhiệm vụ, quyền hạn:

“1. Kiểm tra, thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật về ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ.

2. Kiểm tra, thanh tra các Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp trong việc thực hiện pháp luật về ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ.

3. Giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của tổ chức, cá nhân liên quan đến ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ; tổ chức việc tiếp công dân theo quy định của pháp luật”.

[5]. Điểm e khoản 3 Điều 9 và điểm c khoản 5 Điều 9 Luật Lý lịch tư pháp.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Để bảo đảm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng được triển khai kịp thời, thống nhất và hiệu quả trên phạm vi cả nước, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu đã ký Quyết định số 925/QĐ-TTg ngày 25/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.
Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 1111/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch tổ chức "Ngày Văn hóa Việt Nam" giai đoạn 2026 - 2030 (Kế hoạch), đánh dấu bước triển khai quan trọng Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 130/2025/QH15 (Luật năm 2025) được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10 (ngày 10/12/2025), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 gồm 11 Chương và 107 Điều quy định về hoạt động hàng không dân dụng, bao gồm các quy định về tàu bay, cảng hàng không, nhân viên hàng không, hoạt động bay, vận tải hàng không thương mại, hàng không chuyên dùng, hàng không chung, an toàn hàng không, an ninh hàng không, trách nhiệm dân sự và các hoạt động khác có liên quan đến hàng không dân dụng.
Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Quy định mới tại Nghị quyết số 254/2025/QH15 và Nghị định số 49/2026/NĐ-CP với cơ chế đồng thuận trên 75% được kỳ vọng khơi thông hàng nghìn dự án, sẽ tháo gỡ một trong những vướng mắc lớn nhất trong quá trình triển khai các dự án có sử dụng đất.
Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Ngày 10/12/2025, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 chính thức thông qua Luật số 132/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026).
Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 thay thế Pháp lệnh Dân số số 06/2004/PL-UBTVQH11 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Pháp lệnh số 07/2025/UBTVQH15). Một trong những thay đổi căn bản của Luật Dân số năm 2025 là chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển. Những nội dung liên quan đến dân số và phát triển đã được thể hiện trong việc hướng tới giải quyết đồng bộ các vấn đề về quy mô dân số, cơ cấu dân số, thích ứng với già hóa dân số, nâng cao chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của từng địa phương, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.
Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.

Theo dõi chúng tôi trên: