Thứ hai 14/09/2026 19:29
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Kiểm tra việc thực hiện pháp luật về lý lịch tư pháp - Thực tiễn và những vấn đề đặt ra

Theo quy định của Luật Lý lịch tư pháp[2], Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp. Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao có trách nhiệm phối hợp với Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp.

Để tạo cơ sở pháp lý xây dựng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước và nhu cầu cấp phiếu lý lịch tư pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, phù hợp với tiến trình cải cách tư pháp, xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp, hiện đại, ngày 17/6/2009, tại kỳ họp thứ năm, Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật Lý lịch tư pháp. Luật Lý lịch tư pháp được ban hành đã đặt cơ sở pháp lý cho sự phát triển của công tác quản lý lý lịch tư pháp ở Việt Nam. Lần đầu tiên, các nội dung quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp[1] được quy định một cách bao quát, toàn diện. Trong đó, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về lý lịch tư pháp là công việc được các cơ quan nhà nước tiến hành thường xuyên trong hoạt động quản lý nhằm nắm bắt kịp thời tình hình thực hiện Luật Lý lịch tư pháp và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật tại Sở Tư pháp và các cơ quan có liên quan trong việc phối hợp tra cứu, xác minh, trao đổi, cung cấp thông tin lý lịch tư pháp, phục vụ công tác xây dựng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp và cấp phiếu lý lịch tư pháp. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai thực hiện nhiệm vụ này cho thấy, bên cạnh những kết quả đạt được, còn có những khó khăn, bất cập cần kịp thời tháo gỡ nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác kiểm tra việc thực hiện pháp luật về lý lịch tư pháp.

1. Thực tiễn thực hiện các quy định của Luật Lý lịch tư pháp về kiểm tra việc thực hiện pháp luật về lý lịch tư pháp

1.1. Kết quả đạt được trong công tác kiểm tra việc thực hiện pháp luật về lý lịch tư pháp

Theo quy định của Luật Lý lịch tư pháp[2], Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp. Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao có trách nhiệm phối hợp với Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp.

Bộ Tư pháp là cơ quan chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp. Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Ngoại giao và các bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tư pháp thực hiện quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp. Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp tại địa phương.

Thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước được giao, trong đó có nhiệm vụ kiểm tra việc thực hiện pháp luật về lý lịch tư pháp, trong những năm qua, Bộ Tư pháp, các bộ, ngành đã tiến hành kiểm tra tình hình thực hiện các quy định của pháp luật về lý lịch tư pháp và đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận, cụ thể:

Thứ nhất, Bộ Tư pháp, các bộ, ngành đã có sự quan tâm, chú trọng đến công tác kiểm tra việc thực hiện pháp luật về lý lịch tư pháp. Theo đó, hàng năm, các đoàn kiểm tra và kiểm tra liên ngành về lý lịch tư pháp đều được tổ chức thực hiện.

Theo số liệu thống kê của Bộ Tư pháp[3], từ năm 2012 đến hết năm 2016, Bộ Tư pháp đã tiến hành kiểm tra tại 27 Sở Tư pháp. Từ năm 2013 đến hết năm 2016, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành có liên quan (Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng) tổ chức 09 Đoàn kiểm tra liên ngành tình hình thực hiện Luật Lý lịch tư pháp tại 20 tỉnh, thành phố.

Bên cạnh công tác kiểm tra, kiểm tra liên ngành của Bộ Tư pháp, trong những năm qua, các bộ, ngành có liên quan cũng đã tiến hành kiểm tra các cơ quan có liên quan thuộc phạm vi quản lý của bộ, ngành mình về công tác lý lịch tư pháp (Bộ Quốc phòng cũng đã tiến hành kiểm tra một số cơ quan tư pháp trong Quân đội...).

Thứ hai, thông qua công tác kiểm tra, một số khó khăn, vướng mắc của các cơ quan, đơn vị được kiểm tra đã kịp thời được đoàn kiểm tra hướng dẫn, giải đáp. Đồng thời, thông qua công tác kiểm tra, giúp cơ quan, người có thẩm quyền phát hiện, kịp thời chấn chỉnh những sai sót trong quá trình triển khai thi hành Luật Lý lịch tư pháp, kịp thời động viên, khuyến khích và nhân rộng những điển hình trong việc thực thi nhiệm vụ mà Luật Lý lịch tư pháp và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật quy định.

Thứ ba, công tác kiểm tra giúp các cơ quan, người có thẩm quyền nắm bắt được những khó khăn, vướng mắc nảy sinh trong thực tiễn, kịp thời kiến nghị với các cơ quan, người có thẩm quyền những giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực lý lịch tư pháp, từng bước đưa công tác này ngày càng đi vào nền nếp.

1.2. Những khó khăn, vướng mắc trong kiểm tra việc thực hiện pháp luật về lý lịch tư pháp và những nguyên nhân chủ yếu

Bên cạnh những kết quả đạt được như đã nêu trên, thực tiễn thực hiện nhiệm vụ kiểm tra việc thực hiện pháp luật về lý lịch tư pháp cho thấy công tác này còn có những khó khăn, vướng mắc như sau:

Thứ nhất, khó khăn, vướng mắc trong việc tổ chức tiến hành một cuộc kiểm tra (về trình tự, thủ tục kiểm tra; cách thức tiến hành một cuộc kiểm tra), trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quá trình kiểm tra việc thực hiện pháp luật về lý lịch tư pháp.

Thứ hai, các nội dung kiểm tra được đưa ra trong kế hoạch kiểm tra hàng năm căn cứ trên cơ sở thực tiễn thực hiện các nhiệm vụ được giao về lý lịch tư pháp, theo đó, nội dung kiểm tra chủ yếu tập trung kiểm tra về công tác phối hợp cung cấp thông tin lý lịch tư pháp; công tác xây dựng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp; công tác phối hợp tra cứu, xác minh thông tin lý lịch tư pháp, cấp phiếu lý lịch tư pháp...

Thứ ba, việc nắm bắt tình hình, thông tin của cơ quan kiểm tra đối với cơ quan, đơn vị được kiểm tra liên quan đến việc thực hiện các kết luận kiểm tra còn nhiều bất cập. Thực tế hiện nay, cơ quan kiểm tra đa phần không nắm được tình hình, kết quả thực hiện hay không thực hiện các nội dung nêu trong thông báo kết luận kiểm tra của cơ quan, đơn vị được kiểm tra. Xét trên khía cạnh đánh giá về hiệu quả thực hiện, có thể thấy, công tác kiểm tra việc thực hiện pháp luật về lý lịch tư pháp chưa thực sự đáp ứng yêu cầu thực tiễn quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp.

Những khó khăn, vướng mắc nêu trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau, trong đó có nguyên nhân xuất phát từ các quy định của pháp luật, cụ thể:

Một là, hiện nay, các quy định pháp luật liên quan đến công tác kiểm tra nói chung chỉ dừng lại ở những quy định chung[4] chưa có văn bản pháp luật quy định cụ thể, chi tiết về công tác kiểm tra.

Hai là, quy định của Luật Lý lịch tư pháp về công tác kiểm tra việc thực hiện pháp luật về lý lịch tư pháp còn rất chung chung, chưa đầy đủ, mới chỉ dừng lại ở quy định mang tính nguyên tắc “Kiểm tra… việc thực hiện pháp luật về lý lịch tư pháp”[5]. Ngoài quy định này của Luật Lý lịch tư pháp, các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật Lý lịch tư pháp không có bất kỳ hướng dẫn nào về công tác kiểm tra việc thực hiện pháp luật về lý lịch tư pháp như nội dung kiểm tra; trình tự, thủ tục thực hiện việc kiểm tra; quan hệ công tác của đoàn kiểm tra...

Ba là, kết luận kiểm tra về lý lịch tư pháp thường đề xuất rất nhiều các nội dung liên quan đến trách nhiệm của nhiều cơ quan, đơn vị trong việc tra cứu, xác minh, trao đổi, cung cấp thông tin lý lịch tư pháp để xây dựng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp và phục vụ công tác cấp phiếu lý lịch tư pháp. Tuy nhiên, hiện nay, do trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện kết luận kiểm tra; công tác theo dõi, đôn đốc việc thực hiện kết luận kiểm tra nói chung và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện kết luận kiểm tra, công tác theo dõi, đôn đốc việc thực hiện kết luận kiểm tra về lý lịch tư pháp chưa được quy định nên mặc dù hàng năm có rất nhiều đoàn kiểm tra, kiểm tra liên ngành về lý lịch tư pháp được thực hiện, song sau khi tiến hành kiểm tra, gửi thông báo kết luận tới cơ quan, đơn vị được kiểm tra, đoàn kiểm tra thường không nắm được tình hình, kết quả thực hiện hay không thực hiện các nội dung nêu trong thông báo kết luận kiểm tra của cơ quan, đơn vị được kiểm tra.

2. Đề xuất, kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về công tác kiểm tra nói chung và công tác kiểm tra việc thực hiện pháp luật về lý lịch tư pháp nói riêng

Luật Lý lịch tư pháp đặt ra những nhiệm vụ mới, phức tạp trong quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp. Việc chuẩn bị triển khai thực hiện những nhiệm vụ này đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ của các cơ quan Tòa án, Viện kiểm sát, Công an, Quốc phòng, Tư pháp trong việc phối hợp tra cứu, xác minh, trao đổi, cung cấp thông tin lý lịch tư pháp, phục vụ công tác xây dựng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp và cấp Phiếu lý lịch tư pháp. Trong thời gian tới, để tiếp tục thực hiện có hiệu quả những nhiệm vụ do Luật Lý lịch tư pháp đặt ra, việc hoàn thiện các quy định pháp luật về công tác kiểm tra, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước nói chung và quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp nói riêng cần tiếp tục được nghiên cứu để có những đề xuất, kiến nghị mang tính toàn diện và lâu dài hơn, cụ thể:

Thứ nhất, đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền nghiên cứu, quy định chi tiết, cụ thể các nội dung quy định về công tác kiểm tra việc thực hiện pháp luật về lý lịch tư pháp trong Luật Lý lịch tư pháp và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật.

Thứ hai, về lâu dài, đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền nghiên cứu, ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định chung về công tác kiểm tra, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, toàn diện cho công tác kiểm tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước được giao. Văn bản quy phạm pháp luật quy định chung về công tác kiểm tra cần được nghiên cứu, quy định cụ thể về các vấn đề như: Nội dung kiểm tra; thẩm quyền kiểm tra; các trường hợp kiểm tra; hình thức kiểm tra; quyền và nghĩa vụ của đoàn kiểm tra, quyền và nghĩa vụ của đối tượng được kiểm tra; trình tự, thủ tục tiến hành kiểm tra (chuẩn bị kiểm tra, tiến hành kiểm tra, kết thúc kiểm tra)...

Bên cạnh việc quy định chung về các nội dung kiểm tra, đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền nghiên cứu, quy định cụ thể về việc thực hiện kết luận kiểm tra như: Trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện kết luận kiểm tra; theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kết luận kiểm tra (trách nhiệm chỉ đạo và tổ chức việc theo dõi, đôn đốc, kiểm tra; đối tượng theo dõi, đôn đốc, kiểm tra; nội dung theo dõi, đôn đốc, kiểm tra; trình tự, thủ tục theo dõi, đôn đốc, kiểm tra).

ThS. Nguyễn Thị Minh Phương

Bộ Tư pháp

Tài liệu tham khảo:

[1]. Theo quy định tại Điều 9 Luật Lý lịch tư pháp, nội dung quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp bao gồm:

a) Trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền văn bản quy phạm pháp luật về lý lịch tư pháp;

b) Chỉ đạo và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về lý lịch tư pháp, tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật về lý lịch tư pháp; đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho công chức làm công tác lý lịch tư pháp;

c) Quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp;

d) Bảo đảm về biên chế, cơ sở vật chất và phương tiện làm việc cho hoạt động quản lý lý lịch tư pháp;

đ) Chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ về lý lịch tư pháp;

e) Kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm và giải quyết theo thẩm quyền các khiếu nại, tố cáo trong việc thực hiện pháp luật về lý lịch tư pháp;

g) Ban hành và quản lý thống nhất các biểu mẫu, giấy tờ, sổ sách về lý lịch tư pháp;

h) Triển khai việc ứng dụng công nghệ thông tin trong xây dựng cơ sở dữ liệu và quản lý lý lịch tư pháp;

i) Thực hiện hợp tác quốc tế về lĩnh vực lý lịch tư pháp;

k) Báo cáo về hoạt động quản lý lý lịch tư pháp.

[2]. Điều 9 Luật Lý lịch tư pháp.

[3]. Báo cáo số 173/BC-BTP ngày 20/6/2017 của Bộ Tư pháp về tổng kết 06 năm thi hành Luật Lý lịch tư pháp.

[4]. Khoản 5 Điều 96 Hiến pháp năm 2013 quy định Chính phủ có nhiệm vụ, quyền hạn “tổ chức công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống quan liêu, tham nhũng trong bộ máy nhà nước”.

Khoản 1 Điều 24 Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015 quy định Chính phủ “thống nhất quản lý nhà nước về công tác thanh tra, kiểm tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong bộ máy nhà nước”.

Điều 15 Nghị định số 123/2016/NĐ-CP ngày 01/9/2016 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ, cơ quan ngang Bộ thì về thanh tra, kiểm tra các bộ có nhiệm vụ, quyền hạn:

“1. Kiểm tra, thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật về ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ.

2. Kiểm tra, thanh tra các Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp trong việc thực hiện pháp luật về ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ.

3. Giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của tổ chức, cá nhân liên quan đến ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ; tổ chức việc tiếp công dân theo quy định của pháp luật”.

[5]. Điểm e khoản 3 Điều 9 và điểm c khoản 5 Điều 9 Luật Lý lịch tư pháp.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Trong bước chuyển mình của đất nước bước vào kỷ nguyên mới, văn hóa đang được đặt ở vị trí ngày càng quan trọng trong chiến lược phát triển quốc gia. Cùng với đó, con người được xác định là trung tâm của sự nghiệp phát triển văn hóa khi vừa là chủ thể sáng tạo, gìn giữ, vừa là lực lượng trực tiếp biến những giá trị ấy thành nguồn lực phát triển cho đất nước.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.

Theo dõi chúng tôi trên: