Thứ ba 06/10/2026 16:15
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Kiện toàn các tổ chức pháp chế để triển khai hiệu quả công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2021 - 2026

Sau khi Nghị định số 55/2011/NĐ-CP ngày 04/07/2011 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của tổ chức pháp chế (Nghị định số 55/2011/NĐ-CP)

1. Vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của các tổ chức pháp chế

Sau khi Nghị định số 55/2011/NĐ-CP ngày 04/07/2011 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của tổ chức pháp chế (Nghị định số 55/2011/NĐ-CP) có hiệu lực thi hành, các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp nhà nước đã quan tâm thành lập, củng cố, kiện toàn tổ chức pháp chế theo quy định và từng bước hoạt động có hiệu quả; công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp nhỏ và vừa nói riêng được coi trọng. Vị trí, chức năng, nhiệm vụ quyền hạn và tổ chức bộ máy của các tổ chức pháp chế được ban hành, thành lập theo quy định tại Nghị định số 55/2011/NĐ-CP[1].

- Ở các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, từ khi Nghị định số 122/2004/NĐ-CP ngày 18/5/2004 của Chính phủ quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức pháp chế các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và doanh nghiệp nhà nước có hiệu lực, các tổ chức pháp chế về cơ bản được hình thành. Đến khi Nghị định số 55/2011/NĐ-CP được triển khai thực hiện, tất cả các bộ, cơ quan ngang bộ đều đã thành lập Vụ Pháp chế.

- Ở địa phương, hầu hết UBND các tỉnh, thành phố đã giao Sở Nội vụ chủ trì, phối hợp với Sở Tư pháp rà soát, xây dựng Đề án thành lập các Phòng Pháp chế tại các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, trong đó xác định rõ việc thành lập tổ chức, bố trí cán bộ, giao chỉ tiêu biên chế cán bộ làm công tác pháp chế. Theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Nghị định số 55/2011/NĐ-CP, 14 cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh phải thành lập Phòng Pháp chế[2] và theo khoản 2 Điều 9, căn cứ vào nhu cầu công tác pháp chế, Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định việc thành lập Phòng Pháp chế hoặc quyết định việc bố trí công chức pháp chế chuyên trách ở các cơ quan chuyên môn. Kết quả, một loạt các Phòng Pháp chế trên toàn quốc đã được thành lập. Ở những nơi không có đủ biên chế thì trước mắt bố trí 01 cán bộ pháp chế chuyên trách hoặc kiêm nhiệm.

Sau 09 năm thực hiện Điều 9 Nghị định số 55/2011/NĐ-CP, do điều kiện khách quan và nhu cầu trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn, tại mỗi địa phương, tổ chức pháp chế ở các cơ quan chuyên môn thuộc cấp tỉnh được tổ chức theo mô hình: Phòng Pháp chế độc lập thuộc cơ quan chuyên môn cấp Sở; Phòng Pháp chế - An toàn thuộc Sở Giao thông - Vận tải; Phòng Tổ chức - Pháp chế thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Một số cơ quan chuyên môn khác bố trí cán bộ chuyên trách làm công tác pháp chế thuộc biên chế của Văn phòng hoặc chỉ bố trí cán bộ kiêm nhiệm để thực hiện nhiệm vụ này.

Kết quả, tính đến đầu năm 2019, theo số liệu thống kê của Bộ Tư pháp, cả nước đã thành lập được 150 Phòng Pháp chế tại các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, trong đó có 126 Phòng Pháp chế được thành lập theo khoản 1 Điều 9 Nghị định số 55/2011/NĐ-CP[3].

- Ở các doanh nghiệp nhà nước, trên cơ sở Nghị định số 55/2011/NĐ-CP và nhu cầu của doanh nghiệp, các tổ chức pháp chế trong doanh nghiệp nhà nước được kiện toàn; ở các công ty thành viên của Tập đoàn, Tổng Công ty, công tác pháp chế đã được lãnh đạo quan tâm hơn và chỉ đạo việc thành lập tổ chức, bố trí, nâng cao năng lực cán bộ làm công tác pháp chế. Đến nay, doanh nghiệp nhà nước ở trung ương đã thành lập Ban Pháp chế, Phòng Pháp chế, Phòng Thanh tra - Pháp chế… Ở địa phương, các doanh nghiệp nhà nước bước đầu đã bố trí người làm công tác pháp chế. Tuy nhiên, hầu hết DNNVV chưa có tổ chức pháp chế, cán bộ làm công tác pháp chế còn rất ít.

2. Vai trò của các tổ chức pháp chế trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

- Tổ chức pháp chế ở bộ, ngành, địa phương đã tổ chức thực hiện đồng bộ các hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp với nhiều hình thức phong phú, đa dạng như đăng tải văn bản quy phạm pháp luật. Đặc biệt, từ năm 2010, Chương trình Hỗ trợ pháp lý liên ngành dành cho doanh nghiệp giai đoạn 2010 - 2014 và tiếp tục thực hiện giai đoạn 2015 - 2020 đã thực hiện nhiều hoạt động hỗ trợ cho doanh nghiệp. Hiện nay, 100% bộ, ngành và địa phương đã ban hành kế hoạch/Chương trình hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp trong phạm vi ngành, lĩnh vực và địa phương.

- Công tác pháp chế doanh nghiệp giữ vai trò quan trọng, đóng góp vào sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cải cách tư pháp, cải cách hành chính, thực hiện quản lý nhà nước và xã hội bằng pháp luật, thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, tái cấu trúc nền kinh tế, cơ cấu lại các doanh nghiệp…, nhất là yêu cầu thực hiện Hiến pháp năm 2013, các chính sách, pháp luật; trong tham mưu, tư vấn về những vấn đề pháp lý liên quan đến tổ chức, quản lý và hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.

- Tổ chức pháp chế và cán bộ pháp chế trong doanh nghiệp giúp lãnh đạo doanh nghiệp nghiên cứu, tiếp cận với pháp luật, nắm chắc chủ trương của Đảng, các quy định pháp luật của Nhà nước để chỉ đạo sản xuất, kinh doanh đúng pháp luật; giúp lãnh đạo doanh nghiệp trong đàm phán, soạn thảo, ký kết hợp đồng kinh tế, thương mại, nhất là với đối tác nước ngoài, bảo đảm an toàn pháp lý và lợi ích kinh tế. Khi xảy ra tranh chấp, cán bộ pháp chế đại diện cho doanh nghiệp tham gia giải quyết tranh chấp; tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện theo ủy quyền của lãnh đạo doanh nghiệp.

- Tổ chức pháp chế trong doanh nghiệp có nhiệm vụ, quyền hạn chính như:

+ Chủ trì, phối hợp trong việc xây dựng, sửa đổi, bổ sung điều lệ của doanh nghiệp, xây dựng và ban hành nội quy, quy chế của doanh nghiệp, kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.

+ Chủ trì hoặc tham gia soạn thảo các loại mẫu hợp đồng, có ý kiến về mặt pháp lý và thẩm định dự thảo các hợp đồng do các bộ phận khác soạn thảo, tham gia đàm phán, ký kết hợp đồng.

+ Chủ trì, phối hợp, góp ý dự thảo văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan, tổ chức gửi xin ý kiến; tổng kết, đánh giá pháp luật liên quan đến lĩnh vực sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.

+ Chủ trì hoặc phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật, điều lệ, nội quy, quy chế của doanh nghiệp cho người lao động.

+ Chủ trì, phối hợp theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện pháp luật, điều lệ, nội quy của doanh nghiệp; tổng kết, đánh giá thực trạng hiểu biết pháp luật, ý thức chấp hành pháp luật của người lao động trong doanh nghiệp.

+ Tư vấn hoặc tham mưu việc thuê tư vấn pháp luật đối với các vấn đề liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp; đánh giá rủi ro môi trường đầu tư kinh doanh đối với các dự án đầu tư của doanh nghiệp ra nước ngoài; có ý kiến về mặt pháp lý đối với các quyết định về tổ chức, quản lý của doanh nghiệp.

+ Chủ trì hoặc phối hợp tham gia giải quyết tranh chấp để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp và của người lao động; tham gia tố tụng hoặc tham mưu thuê luật sư tham gia tố tụng với tư cách người đại diện theo ủy quyền của chủ doanh nghiệp để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp.

Bên cạnh những kết quả đã đạt được trong việc thành lập, củng cố, kiện toàn các tổ chức pháp chế và thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định, thực tiễn triển khai công tác này còn nhiều hạn chế, cụ thể:

- Việc thành lập và củng cố, kiện toàn các tổ chức pháp chế ở một số địa phương còn chậm; mô hình tổ chức ở một số cơ quan chưa thống nhất.

- Trình độ, năng lực của đội ngũ những người làm công tác pháp chế chưa đồng đều; còn nhiều người làm công tác pháp chế chưa có trình độ cử nhân luật; công tác pháp chế liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực, tuy nhiên, ở một số lĩnh vực chuyên sâu như tài chính, ngân hàng, khoa học công nghệ, sở hữu trí tuệ… đòi hỏi người làm công tác pháp chế phải được trang bị thêm kiến thức chuyên ngành, trong khi đó, phần lớn người làm công tác pháp chế chỉ được đào tạo kiến thức pháp luật thuần túy, cho nên chất lượng công việc của người làm công tác pháp chế chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu đặt ra, chất lượng tham mưu còn mờ nhạt.

- Thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp còn hình thức, chưa thật sự đạt kết quả đối với các đối tượng được hưởng các chính sách hỗ trợ về pháp luật… làm ảnh hưởng đến hiệu quả công tác pháp chế.

- Chế độ, chính sách đối với người làm công tác pháp chế chưa được quan tâm đúng mức.

- Một số bộ, ngành, địa phương triển khai Nghị định số 55/2019/NĐ-CP còn chậm, nhất là công tác tuyên truyền, phổ biến để các doanh nghiệp thuộc đối tượng hỗ trợ được biết và sử dụng dịch vụ hỗ trợ pháp lý, hiệu quả của một số hoạt động chưa cao, chưa đáp ứng được nhu cầu cần hỗ trợ của doanh nghiệp.

3. Đề xuất giải pháp kiện toàn các tổ chức pháp chế trên cả nước để triển khai hiệu quả công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2021 - 2025

- Nâng cao nhận thức về vai trò, vị trí tổ chức pháp chế, cán bộ làm công tác pháp chế trong hỗ trợ pháp lý cho DNNVV.

- Tiếp tục củng cố, kiện toàn tổ chức pháp chế ở các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp và căn cứ tình hình cụ thể từng nơi để sắp xếp, bố trí, ổn định đội ngũ cán bộ bảo đảm đủ về số lượng, có trình độ, chất lượng phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ. Tổ chức pháp chế phân công cán bộ chuyên trách công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp. Đối với DNNVV, quan tâm bố trí cán bộ làm chuyên trách hoặc kiêm nhiệm công tác pháp chế.

- Hoàn thiện thể chế về tổ chức và hoạt động pháp chế của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh. Quy định thống nhất việc thực hiện nhiệm vụ pháp chế, mô hình tổ chức pháp chế và hướng dẫn về biên chế, vị trí việc làm đối với công chức pháp chế ở các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh.

- Tăng cường vai trò chỉ đạo, hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ của Bộ Tư pháp đối với công tác pháp chế ở địa phương; đề cao vai trò chỉ đạo, điều hành của UBND tỉnh và thủ trưởng các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh trong công tác pháp chế; gắn kết trong thực hiện nhiệm vụ công tác pháp chế giữa các bộ, ngành với sở, ngành ở địa phương.

- Chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ pháp chế, trong đó công tác đào tạo, bồi dưỡng kiến thức pháp luật, kỹ năng công tác pháp chế, đạo đức, trách nhiệm nghề nghiệp cho cán bộ pháp chế. Đổi mới hình thức bồi dưỡng, tập huấn thông qua mạng internet, online…

- Tổ chức các đoàn kiểm tra liên ngành về tình hình thực hiện công tác pháp chế tại các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp nhằm giải quyết kịp thời các vướng mắc của công tác pháp chế và nâng cao nhận thức, sự quan tâm chỉ đạo của lãnh đạo đối với công tác pháp chế.

Tăng cường công tác kiểm tra của UBND cấp tỉnh về tình hình thực hiện công tác pháp chế tại các cơ quan chuyên môn. Thông qua kiểm tra để đánh giá đúng thực trạng triển khai thực hiện, từ đó kịp thời hướng dẫn về nghiệp vụ, giải quyết những khó khăn, vướng mắc và đề ra biện pháp khắc phục những hạn chế, tồn tại trong công tác pháp chế của các cơ quan chuyên môn.

- Khuyến khích DNNVV nghiên cứu luật, nghị định và các văn bản liên quan công tác hỗ trợ pháp lý cho DNNVV để nắm chắc quy định, biết quyền được hỗ trợ và yêu cầu được hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp mình; sử dụng luật sư, mạng lưới tư vấn pháp luật trong sản xuất, kinh doanh.

Việc kiện toàn các tổ chức pháp chế từ trung ương đến địa phương và doanh nghiệp, đổi mới và hoàn thiện cơ chế quản lý, tổ chức bộ máy; xây dựng đội ngũ cán bộ pháp chế có chuyên môn, có năng lực và trách nhiệm công vụ là việc làm hết sức cần thiết, bảo đảm cho công tác hỗ trợ pháp lý cho DNNVV được triển khai có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, hội nhập quốc tế, Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh đúng pháp luật, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của cả nước.

Luật sư Nguyễn Duy Lãm

Chủ nhiệm Câu lạc bộ Pháp chế doanh nghiệp



[1]. Xem: Điều 2, 3, 4, 5, 6, 7 Nghị định số 55/2011/NĐ-CP ngày 04/7/2011 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của tổ chức pháp chế.

[2]. Phòng Pháp chế ở 14 cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh gồm: Sở Nội vụ, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính, Sở Công Thương, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Giao thông vận tải, Sở Xây dựng, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Thông tin và Truyền thông, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Giáo dục và Đào tạo và Sở Y tế.

[3]. Phòng Pháp chế được thành lập ở 14 cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: