Thứ bảy 14/03/2026 14:58
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Kiện toàn các tổ chức pháp chế để triển khai hiệu quả công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2021 - 2026

Sau khi Nghị định số 55/2011/NĐ-CP ngày 04/07/2011 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của tổ chức pháp chế (Nghị định số 55/2011/NĐ-CP)

1. Vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của các tổ chức pháp chế

Sau khi Nghị định số 55/2011/NĐ-CP ngày 04/07/2011 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của tổ chức pháp chế (Nghị định số 55/2011/NĐ-CP) có hiệu lực thi hành, các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp nhà nước đã quan tâm thành lập, củng cố, kiện toàn tổ chức pháp chế theo quy định và từng bước hoạt động có hiệu quả; công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp nhỏ và vừa nói riêng được coi trọng. Vị trí, chức năng, nhiệm vụ quyền hạn và tổ chức bộ máy của các tổ chức pháp chế được ban hành, thành lập theo quy định tại Nghị định số 55/2011/NĐ-CP[1].

- Ở các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, từ khi Nghị định số 122/2004/NĐ-CP ngày 18/5/2004 của Chính phủ quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức pháp chế các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và doanh nghiệp nhà nước có hiệu lực, các tổ chức pháp chế về cơ bản được hình thành. Đến khi Nghị định số 55/2011/NĐ-CP được triển khai thực hiện, tất cả các bộ, cơ quan ngang bộ đều đã thành lập Vụ Pháp chế.

- Ở địa phương, hầu hết UBND các tỉnh, thành phố đã giao Sở Nội vụ chủ trì, phối hợp với Sở Tư pháp rà soát, xây dựng Đề án thành lập các Phòng Pháp chế tại các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, trong đó xác định rõ việc thành lập tổ chức, bố trí cán bộ, giao chỉ tiêu biên chế cán bộ làm công tác pháp chế. Theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Nghị định số 55/2011/NĐ-CP, 14 cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh phải thành lập Phòng Pháp chế[2] và theo khoản 2 Điều 9, căn cứ vào nhu cầu công tác pháp chế, Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định việc thành lập Phòng Pháp chế hoặc quyết định việc bố trí công chức pháp chế chuyên trách ở các cơ quan chuyên môn. Kết quả, một loạt các Phòng Pháp chế trên toàn quốc đã được thành lập. Ở những nơi không có đủ biên chế thì trước mắt bố trí 01 cán bộ pháp chế chuyên trách hoặc kiêm nhiệm.

Sau 09 năm thực hiện Điều 9 Nghị định số 55/2011/NĐ-CP, do điều kiện khách quan và nhu cầu trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn, tại mỗi địa phương, tổ chức pháp chế ở các cơ quan chuyên môn thuộc cấp tỉnh được tổ chức theo mô hình: Phòng Pháp chế độc lập thuộc cơ quan chuyên môn cấp Sở; Phòng Pháp chế - An toàn thuộc Sở Giao thông - Vận tải; Phòng Tổ chức - Pháp chế thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Một số cơ quan chuyên môn khác bố trí cán bộ chuyên trách làm công tác pháp chế thuộc biên chế của Văn phòng hoặc chỉ bố trí cán bộ kiêm nhiệm để thực hiện nhiệm vụ này.

Kết quả, tính đến đầu năm 2019, theo số liệu thống kê của Bộ Tư pháp, cả nước đã thành lập được 150 Phòng Pháp chế tại các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, trong đó có 126 Phòng Pháp chế được thành lập theo khoản 1 Điều 9 Nghị định số 55/2011/NĐ-CP[3].

- Ở các doanh nghiệp nhà nước, trên cơ sở Nghị định số 55/2011/NĐ-CP và nhu cầu của doanh nghiệp, các tổ chức pháp chế trong doanh nghiệp nhà nước được kiện toàn; ở các công ty thành viên của Tập đoàn, Tổng Công ty, công tác pháp chế đã được lãnh đạo quan tâm hơn và chỉ đạo việc thành lập tổ chức, bố trí, nâng cao năng lực cán bộ làm công tác pháp chế. Đến nay, doanh nghiệp nhà nước ở trung ương đã thành lập Ban Pháp chế, Phòng Pháp chế, Phòng Thanh tra - Pháp chế… Ở địa phương, các doanh nghiệp nhà nước bước đầu đã bố trí người làm công tác pháp chế. Tuy nhiên, hầu hết DNNVV chưa có tổ chức pháp chế, cán bộ làm công tác pháp chế còn rất ít.

2. Vai trò của các tổ chức pháp chế trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

- Tổ chức pháp chế ở bộ, ngành, địa phương đã tổ chức thực hiện đồng bộ các hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp với nhiều hình thức phong phú, đa dạng như đăng tải văn bản quy phạm pháp luật. Đặc biệt, từ năm 2010, Chương trình Hỗ trợ pháp lý liên ngành dành cho doanh nghiệp giai đoạn 2010 - 2014 và tiếp tục thực hiện giai đoạn 2015 - 2020 đã thực hiện nhiều hoạt động hỗ trợ cho doanh nghiệp. Hiện nay, 100% bộ, ngành và địa phương đã ban hành kế hoạch/Chương trình hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp trong phạm vi ngành, lĩnh vực và địa phương.

- Công tác pháp chế doanh nghiệp giữ vai trò quan trọng, đóng góp vào sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cải cách tư pháp, cải cách hành chính, thực hiện quản lý nhà nước và xã hội bằng pháp luật, thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, tái cấu trúc nền kinh tế, cơ cấu lại các doanh nghiệp…, nhất là yêu cầu thực hiện Hiến pháp năm 2013, các chính sách, pháp luật; trong tham mưu, tư vấn về những vấn đề pháp lý liên quan đến tổ chức, quản lý và hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.

- Tổ chức pháp chế và cán bộ pháp chế trong doanh nghiệp giúp lãnh đạo doanh nghiệp nghiên cứu, tiếp cận với pháp luật, nắm chắc chủ trương của Đảng, các quy định pháp luật của Nhà nước để chỉ đạo sản xuất, kinh doanh đúng pháp luật; giúp lãnh đạo doanh nghiệp trong đàm phán, soạn thảo, ký kết hợp đồng kinh tế, thương mại, nhất là với đối tác nước ngoài, bảo đảm an toàn pháp lý và lợi ích kinh tế. Khi xảy ra tranh chấp, cán bộ pháp chế đại diện cho doanh nghiệp tham gia giải quyết tranh chấp; tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện theo ủy quyền của lãnh đạo doanh nghiệp.

- Tổ chức pháp chế trong doanh nghiệp có nhiệm vụ, quyền hạn chính như:

+ Chủ trì, phối hợp trong việc xây dựng, sửa đổi, bổ sung điều lệ của doanh nghiệp, xây dựng và ban hành nội quy, quy chế của doanh nghiệp, kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.

+ Chủ trì hoặc tham gia soạn thảo các loại mẫu hợp đồng, có ý kiến về mặt pháp lý và thẩm định dự thảo các hợp đồng do các bộ phận khác soạn thảo, tham gia đàm phán, ký kết hợp đồng.

+ Chủ trì, phối hợp, góp ý dự thảo văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan, tổ chức gửi xin ý kiến; tổng kết, đánh giá pháp luật liên quan đến lĩnh vực sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.

+ Chủ trì hoặc phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật, điều lệ, nội quy, quy chế của doanh nghiệp cho người lao động.

+ Chủ trì, phối hợp theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện pháp luật, điều lệ, nội quy của doanh nghiệp; tổng kết, đánh giá thực trạng hiểu biết pháp luật, ý thức chấp hành pháp luật của người lao động trong doanh nghiệp.

+ Tư vấn hoặc tham mưu việc thuê tư vấn pháp luật đối với các vấn đề liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp; đánh giá rủi ro môi trường đầu tư kinh doanh đối với các dự án đầu tư của doanh nghiệp ra nước ngoài; có ý kiến về mặt pháp lý đối với các quyết định về tổ chức, quản lý của doanh nghiệp.

+ Chủ trì hoặc phối hợp tham gia giải quyết tranh chấp để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp và của người lao động; tham gia tố tụng hoặc tham mưu thuê luật sư tham gia tố tụng với tư cách người đại diện theo ủy quyền của chủ doanh nghiệp để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp.

Bên cạnh những kết quả đã đạt được trong việc thành lập, củng cố, kiện toàn các tổ chức pháp chế và thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định, thực tiễn triển khai công tác này còn nhiều hạn chế, cụ thể:

- Việc thành lập và củng cố, kiện toàn các tổ chức pháp chế ở một số địa phương còn chậm; mô hình tổ chức ở một số cơ quan chưa thống nhất.

- Trình độ, năng lực của đội ngũ những người làm công tác pháp chế chưa đồng đều; còn nhiều người làm công tác pháp chế chưa có trình độ cử nhân luật; công tác pháp chế liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực, tuy nhiên, ở một số lĩnh vực chuyên sâu như tài chính, ngân hàng, khoa học công nghệ, sở hữu trí tuệ… đòi hỏi người làm công tác pháp chế phải được trang bị thêm kiến thức chuyên ngành, trong khi đó, phần lớn người làm công tác pháp chế chỉ được đào tạo kiến thức pháp luật thuần túy, cho nên chất lượng công việc của người làm công tác pháp chế chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu đặt ra, chất lượng tham mưu còn mờ nhạt.

- Thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp còn hình thức, chưa thật sự đạt kết quả đối với các đối tượng được hưởng các chính sách hỗ trợ về pháp luật… làm ảnh hưởng đến hiệu quả công tác pháp chế.

- Chế độ, chính sách đối với người làm công tác pháp chế chưa được quan tâm đúng mức.

- Một số bộ, ngành, địa phương triển khai Nghị định số 55/2019/NĐ-CP còn chậm, nhất là công tác tuyên truyền, phổ biến để các doanh nghiệp thuộc đối tượng hỗ trợ được biết và sử dụng dịch vụ hỗ trợ pháp lý, hiệu quả của một số hoạt động chưa cao, chưa đáp ứng được nhu cầu cần hỗ trợ của doanh nghiệp.

3. Đề xuất giải pháp kiện toàn các tổ chức pháp chế trên cả nước để triển khai hiệu quả công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2021 - 2025

- Nâng cao nhận thức về vai trò, vị trí tổ chức pháp chế, cán bộ làm công tác pháp chế trong hỗ trợ pháp lý cho DNNVV.

- Tiếp tục củng cố, kiện toàn tổ chức pháp chế ở các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp và căn cứ tình hình cụ thể từng nơi để sắp xếp, bố trí, ổn định đội ngũ cán bộ bảo đảm đủ về số lượng, có trình độ, chất lượng phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ. Tổ chức pháp chế phân công cán bộ chuyên trách công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp. Đối với DNNVV, quan tâm bố trí cán bộ làm chuyên trách hoặc kiêm nhiệm công tác pháp chế.

- Hoàn thiện thể chế về tổ chức và hoạt động pháp chế của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh. Quy định thống nhất việc thực hiện nhiệm vụ pháp chế, mô hình tổ chức pháp chế và hướng dẫn về biên chế, vị trí việc làm đối với công chức pháp chế ở các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh.

- Tăng cường vai trò chỉ đạo, hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ của Bộ Tư pháp đối với công tác pháp chế ở địa phương; đề cao vai trò chỉ đạo, điều hành của UBND tỉnh và thủ trưởng các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh trong công tác pháp chế; gắn kết trong thực hiện nhiệm vụ công tác pháp chế giữa các bộ, ngành với sở, ngành ở địa phương.

- Chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ pháp chế, trong đó công tác đào tạo, bồi dưỡng kiến thức pháp luật, kỹ năng công tác pháp chế, đạo đức, trách nhiệm nghề nghiệp cho cán bộ pháp chế. Đổi mới hình thức bồi dưỡng, tập huấn thông qua mạng internet, online…

- Tổ chức các đoàn kiểm tra liên ngành về tình hình thực hiện công tác pháp chế tại các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp nhằm giải quyết kịp thời các vướng mắc của công tác pháp chế và nâng cao nhận thức, sự quan tâm chỉ đạo của lãnh đạo đối với công tác pháp chế.

Tăng cường công tác kiểm tra của UBND cấp tỉnh về tình hình thực hiện công tác pháp chế tại các cơ quan chuyên môn. Thông qua kiểm tra để đánh giá đúng thực trạng triển khai thực hiện, từ đó kịp thời hướng dẫn về nghiệp vụ, giải quyết những khó khăn, vướng mắc và đề ra biện pháp khắc phục những hạn chế, tồn tại trong công tác pháp chế của các cơ quan chuyên môn.

- Khuyến khích DNNVV nghiên cứu luật, nghị định và các văn bản liên quan công tác hỗ trợ pháp lý cho DNNVV để nắm chắc quy định, biết quyền được hỗ trợ và yêu cầu được hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp mình; sử dụng luật sư, mạng lưới tư vấn pháp luật trong sản xuất, kinh doanh.

Việc kiện toàn các tổ chức pháp chế từ trung ương đến địa phương và doanh nghiệp, đổi mới và hoàn thiện cơ chế quản lý, tổ chức bộ máy; xây dựng đội ngũ cán bộ pháp chế có chuyên môn, có năng lực và trách nhiệm công vụ là việc làm hết sức cần thiết, bảo đảm cho công tác hỗ trợ pháp lý cho DNNVV được triển khai có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, hội nhập quốc tế, Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh đúng pháp luật, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của cả nước.

Luật sư Nguyễn Duy Lãm

Chủ nhiệm Câu lạc bộ Pháp chế doanh nghiệp



[1]. Xem: Điều 2, 3, 4, 5, 6, 7 Nghị định số 55/2011/NĐ-CP ngày 04/7/2011 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của tổ chức pháp chế.

[2]. Phòng Pháp chế ở 14 cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh gồm: Sở Nội vụ, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính, Sở Công Thương, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Giao thông vận tải, Sở Xây dựng, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Thông tin và Truyền thông, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Giáo dục và Đào tạo và Sở Y tế.

[3]. Phòng Pháp chế được thành lập ở 14 cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: