Thứ hai 20/04/2026 07:20
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Kinh nghiệm của Hoa Kỳ sử dụng các thiết chế truyền thông trong việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân

Hiến pháp Hoa Kỳ, hệ thống thị trường tự do và một số giả định chống lại việc kiểm soát hình thành nền tự do báo chí ở Hoa Kỳ. Điều luật Bổ sung số một, Dự luật về các quyền, Hiến pháp Hoa Kỳ năm 1791 quy định: Quốc hội sẽ không đưa ra luật nào hạn chế tự do ngôn luận hay báo chí. Những từ ngữ này đảm bảo sự tự do báo chí trong Hiến pháp Hoa Kỳ, văn bản hình thành nên cơ cấu Chính phủ và là cơ sở cho luật pháp của Hoa Kỳ.

Với việc tự do báo chí được bảo vệ trong Dự luật về các quyền năm 1791, thì báo chí đã trở thành một lực lượng quyết đoán trong suốt những thập kỷ đầu của thời kỳ hình thành quốc gia. Ngày nay, báo chí Hoa Kỳ thường được người ta biết đến như là “quyền lực thứ tư”, một tên gọi cho thấy báo chí có vị thế ngang bằng với ba cơ quan của Chính phủ do Hiến pháp xây dựng nên.

1. Vai trò của báo chí trong xây dựng cộng đồng[1]

Ngày nay, ở Hoa Kỳ đang sống trong một kỷ nguyên trong đó cả nhà báo lẫn công chúng đang đấu tranh để đạt được một sự nhất trí về vấn đề thế nào là báo chí đúng đắn. Nếu chỉ các nhà báo nghĩ rằng họ đang làm việc tốt thì không đủ. Để cho báo chí tiếp tục nhận được sự bảo vệ của Hiến pháp và tiếp tục thu hút được độc giả và khán giả, độc giả và khán giả phải nhất trí rằng báo chí đóng vai trò cốt yếu trong xã hội dân chủ. Cựu Bộ trưởng ngoại giao Hoa Kỳ, Colin Powell đã phát biểu với Hội Báo chí Hoa Kỳ (ngày 25/3/2001) rằng, báo chí đô thị Mỹ, dù lớn hay nhỏ, đều phản ánh cuộc sống hàng ngày của đất nước ta, nhân dân ta... tựu trung lại, báo chí của cộng đồng không chỉ thông tin về nền tự do Mỹ, đó chính là nền tự do Mỹ[2].

Tuy nhiên, gần đây đã có những dữ liệu đáng lo ngại cho thấy rằng tình hình hiện nay không phải là như vậy. Các cuộc điều tra quốc gia là những căn cứ chứng minh rằng, có sự phẫn nộ dữ dội đối với báo chí Hoa Kỳ và hoạt động của nó. Ngạo mạn, thiếu nhạy cảm, thiên vị, không chính xác, giật gân là những từ mà công chúng sử dụng để miêu tả đặc trưng của báo chí. Ngày càng có nhiều người nhất trí là tin tức không còn mới mẻ và chính xác. Vấn đề lớn đặt ra hiện nay là liệu các nhà báo có biết làm thế nào để đính chính lại những điều này không?

Báo chí công dân định nghĩa lại sự cân bằng. Các nhà báo thường đưa tin về cả hai mặt của một sự việc và tin rằng như vậy là công bằng và cân bằng. Các nhà báo công dân cho rằng, cách nói đưa tin hai chiều thích hợp hơn là “đưa tin cân bằng”. Cân bằng là ở giữa, không ở các thái cực. Các nhà báo công dân cố gắng đảm bảo rằng, tất cả những người có ảnh hưởng bởi một vấn đề đều có một tiếng nói trong bài báo, chứ không phải chỉ là những người đề xướng những quan điểm cực đoan nhất gửi thông cáo báo chí đến cho chúng ta. Và các nhà báo công dân không sợ đưa tin về một tình hình mơ hồ, khi mà người dân còn đang nghĩ xem họ cảm thấy thế nào. Báo chí công dân cũng sẽ là nơi cho người dân tham gia và khuyến khích sự tương tác giữa nhà báo và công dân. Báo chí công dân cố gắng tạo nên đối thoại hai chiều đối với độc giả, ngược lại với việc truyền tải thông tin một chiều, bỏ qua nhiều tin tức về công chúng như thường thấy trong báo chí truyền thống. Sự tác động qua lại lẫn nhau có thể diễn ra trên các trang tin tức, trên sóng truyền hình, trong không gian điện tử và đôi khi cả ở không gian thực tại là các diễn đàn và các cuộc họp ở Tòa thị chính.

Những điểm chính của báo chí công dân là: Đối với cộng đồng, chúng ta thấy đây là báo chí có chất lượng, nó cải thiện khả năng giải quyết các vấn đề của cộng đồng. Những nỗ lực của báo chí công dân làm gia tăng đáng kể kiến thức của người đọc về một vấn đề cụ thể và có ảnh hưởng một cách tích cực tới quan niệm của người dân về truyền thông đại chúng; đối với báo chí, chúng ta thấy rằng, đó là cách đưa tin sâu, phản ánh cộng đồng một cách thực chất, chứ không phải là loại báo chí phản ánh máy móc chỉ hai mặt của một vấn đề. Các phóng viên đang tái khám phá cộng đồng mình và phá bỏ một số khuôn mẫu cũ.

2. Vai trò của báo chí, truyền thông trong việc bảo vệ quyền con người ở Hoa Kỳ

Những đảm bảo trong Hiến pháp Hoa Kỳ đối với tự do báo chí và tự do ngôn luận đã bảo đảm một nền báo chí đa phần không bị Chính phủ quản lý. Các cơ quan truyền thông đại chúng thuộc quyền sở hữu và được điều hành bởi các công dân, các tổ chức tư nhân, các công ty tư nhân và các tập đoàn công, chứ không phải chính quyền. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là một nền báo chí không có chuẩn mực. Trong hệ thống xã hội Hoa Kỳ, nền báo chí tự do là một nguồn cơ bản cung cấp thông tin - trung tâm của một xã hội tự do. Vai trò quan trọng này tạo ra cho báo chí những quyền lực của riêng mình. Ở nhiều quốc gia, Chính phủ đóng vai trò là người quản lý chủ yếu đối với báo chí. Ở Hoa Kỳ, giải pháp họ lựa chọn là dựa vào sức mạnh của thị trường, sự cạnh tranh, trách nhiệm xã hội và một loạt các yếu tố tự kiểm soát đã phát triển cao mà chúng ta gọi là đạo đức báo chí. Đạo đức báo chí tạo ra một quy trình, theo đó những sai phạm thái quá của cá nhân sẽ được uốn nắn mà không làm phương hại đến mục tiêu cuối cùng của nền báo chí tự do là tạo ra một sự kiểm soát lành mạnh đối với các trung tâm quyền lực nhằm duy trì một xã hội tự do.

Một là, vai trò của báo chí trong nền dân chủ Hoa Kỳ đã tiến tới bao gồm cả chức năng là một tổ chức giám sát Chính phủ, nghĩa là các nhà báo có thể điều tra các quan chức dân cử vi phạm quyền và sự tự do của dân thường. Trong một bài báo đăng trên tờ Columbia Journalism Review, Jane E Kirtley (Giáo sư về đạo đức và luật báo chí ở trường Đại học Minnesota) tuyên bố: “Đối với các nhà báo, điều hiển nhiên là những phóng sự điều tra cung cấp thông tin cho công chúng, phơi bày tệ nạn tham nhũng và những gì đúng, sai”[3].

Hai là, báo chí chính là công cụ đắc lực trong việc trình bày mọi quan điểm khác nhau về các vấn đề chính trị, văn hóa, xã hội. Báo chí cũng ảnh hưởng một cách trực tiếp đến việc sống và sinh hoạt như những cá thể tự do trong một xã hội mở, khai phóng, nhưng đặt nền trên một hệ thống pháp lý chặt chẽ. Mối quan hệ này cần được nghiên cứu và khai thác sâu xa hơn nữa trong định hướng phát triển cộng đồng và xã hội.

Ba là, người dân Hoa Kỳ dựa vào khu vực truyền thông tự do và độc lập này để được cung cấp thông tin về tất cả các chiều của một sự kiện hay vấn đề nào đó, họ có thể lựa chọn thông tin từ các nguồn khác nhau, cho phép tiếp cận với các quan điểm khác nhau. Chẳng hạn, như ở thành phố lớn Chicago, bang Illinois ở miền trung tây Hoa Kỳ, người dân được tiếp cận với không ít hơn 15 tờ nhật báo hay tuần báo, 12 kênh truyền hình, 04 đài phát thanh và 01 tạp chí tin tức, tất cả đều được thực hiện tại địa phương. Theo tờ Mondo Times, một hãng truyền thông có hoạt động trên toàn cầu, các nhà xuất bản đặt tại Chicago phát hành đến 16 tờ báo và 19 tạp chí bổ sung đáp ứng mọi thị hiếu của người dân địa phương, từ giải trí, thể thao cho đến kinh doanh và khoa học. Thông qua các tạp chí được phát hành trên toàn quốc, kênh truyền hình cáp, đài phát thanh vệ tinh và tất nhiên cả mạng Internet nữa, người dân Chicago - cũng như tất cả những người dân Mỹ khác - được tiếp cận với vô số nguồn thông tin trên khắp đất nước và trên toàn cầu[4].

Phần lớn người dân Mỹ ít nhất đều xem một số bản tin trên tivi. Trước năm 1980, ba kênh truyền hình lớn (American Broadcasting Company - ABC, National Broadcasting Company - NBC và Columbia Broadcasting System - CBS) là nơi phát sóng bản tin truyền hình lớn nhất Hoa Kỳ. Các mạng lưới này phát sóng các chương trình giải trí và tin tức hàng ngày. Năm 1980, Cable News Network (CNN) đã tiến hành một cuộc cách mạng trong ngành truyền hình với dịch vụ phát sóng 24 giờ một ngày, bảy ngày một tuần và hiện diện trên phạm vi quốc tế. Sự thành công của CNN đã dẫn đến sự hình thành của các kênh truyền hình cáp chuyên về tin tức theo mô hình phát sóng 24/7 khác.

Các tờ nhật báo ở đô thị và các đài phát tin tức một thời đã thống soái hình thức truyền tin tức, nhưng giờ các tin qua kênh truyền hình cáp đã nắm giữ một thị phần đáng kể khán thính giả theo dõi tin tức. Một phần là do các kênh truyền hình cáp ngày nay phát sóng tin tức và bình luận theo một quan điểm xác định sẵn và nhắm tới những phân khúc khán thính giả nhất định. Theo một khảo sát được Trung tâm Nghiên cứu Pew Phục vụ Báo chí và Nhân dân thực hiện, thì 74% người xem cho rằng ba chương trình tin tức lớn nnhất có nội dung “gần như giống nhau”, trong khi đó có 48% thấy có sự “khác biệt rõ rệt” trong các bản tin mà ba hãng tin tức truyền hình cáp phát sóng.

Ở Mỹ, với những tờ báo nghiêm túc đề ra các nguyên tắc nghề nghiệp:

- Sự tự do của báo chí phải được bảo vệ như một quyền sống còn của con người. Đó là một quyền mặc nhiên khi ta muốn thảo luận về bất kì điều gì mà luật pháp không cấm đoán một cách rõ ràng, kể cả tính đúng đắn của các luật lệ quy định.

- Tính trọng luật: Một tờ báo không được công bố những lời tố cáo không chính thức ảnh hưởng đến uy tín và đạo đức mà không tạo cơ hội cho kẻ bị cáo buộc được dịp phát biểu; cách làm đúng đắn đòi hỏi phải tạo được cơ hội như thế trong mọi vụ tố cáo nghiêm trọng nằm ngoài các thủ tục pháp lý. Một tờ báo không được xâm phạm vào tâm tình hoặc quyền lợi riêng tư mà không chứng minh được việc làm đó là vì lợi ích công chúng, chứ không phải vì tính tò mò của công chúng. Quyền lợi và cũng là nghĩa vụ của một tờ báo là phải đính chính đầy đủ và kịp thời các sai lầm lớn của mình về sự kiện hay ý kiến, cho dù nguyên nhân sai lầm đó là gì.

Chính quyền sẵn sàng can thiệp, trừng phạt nếu báo chí vi phạm vào các lĩnh vực sau: Đăng bài viết phương hại đến nền an ninh quốc gia; đăng bài gián tiếp xúi giục bạo động, gây bất ổn xã hội; đăng bài miệt thị và kỳ thị tôn giáo, chủng tộc; đăng bài bôi nhọ cá nhân hay tập thể; đăng bài xâm phạm đời tư cá nhân; đăng bài viết có ảnh hưởng xấu đến xã hội; đăng bài viết gây nguy hiểm rõ ràng và tức thời cho cộng đồng; đăng bài viết có ngôn ngữ thô tục; đăng bài viết gây công phẫn dư luận.

3. Kết luận

Dù ở bất kỳ quốc gia nào, thì truyền thông cũng đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền con người và quyền công dân. Do vậy, các phương tiện truyền thông cần phản ánh trung thực tình hình nhân quyền ở quốc gia đó cả mặt tích cực và mặt tiêu cực. Trên các phương tiện thông tin đại chúng cần phản ảnh các kết quả tốt, tích cực về thực hiện quyền con người, quyền công dân của các địa phương, các cơ quan, tổ chức và các nhà chức trách. Từ đây, có thể tạo ra phong trào, nếp sống, thói quen, ý thức tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người ở mỗi quốc gia.

Báo chí cần phản ảnh những mặt trái, tiêu cực, thậm chí những vi phạm quyền con người, quyền công dân. Cần chỉ ra nguyên nhân dẫn đến tình trạng này để từ đó có được những kiến nghị có giá trị góp phần vào công cuộc đấu tranh vì quyền con người, quyền công dân.

Thông qua dư luận xã hội, báo chí cần tạo ra sức ép đối với chính quyền trong việc thực hiện chính sách, pháp luật, xây dựng và thực hiện các cam kết, các chương trình, các kế hoạch, giải pháp, biện pháp về tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người.

Để nâng cao hiệu quả của thiết chế truyền thông trong việc bảo vệ quyền con người ở Việt Nam, cần áp dụng nhiều biện pháp khác nhau và tiến hành các biện pháp này đồng bộ. Theo đó, cần nâng cao chất lượng của thiết chế truyền thông trong việc bảo vệ quyền con người; các văn bản luật, văn bản dưới luật, các chính sách của Đảng và Nhà nước ta về quyền con người, bảo vệ quyền con người cần được phổ biến rộng rãi; có những giải pháp triệt để cho hoạt động đăng bài viết, phát tán thông tin, đưa tin, truyền thanh, phát thanh, báo hình, báo in, báo viết… khi những loại hình truyền thông báo chí đưa tin sai sự thật, xuyên tạc sự việc, vi phạm quy định pháp luật về báo chí hoặc có những hành vi nói xấu, bôi nhọ các tổ chức, cá nhân liên quan khác; tăng cường chuyên môn, nghiệp vụ về nhân quyền cho đội ngũ cán bộ, công chức Nhà nước và đội ngũ phóng viên, biên tập viên báo chí.

Nhóm nghiên cứu Đề tài
(Bài viết là sản phẩm của Đề tài khoa học cấp Bộ "Tăng cường vai trò của thiết chế truyền thông trong bảo vệ quyền con người và quyền công dân ở Việt Nam").


[1] Vai trò của báo chí trong xây dựng cộng đồng, Jan Schaffer - Giám đốc điều hành Trung tâm Báo chí công dân Pew, Tạp chí điện tử của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, Chuyên đề Báo chí và Đạo đức, Số 4/2001.

[2] Tạp chí điện tử của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, Chuyên đề Báo chí và Đạo đức, Số 4/2001.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.
Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Bài viết phân tích các vấn đề cốt lõi về hợp đồng tiếp thị liên kết, đánh giá thực tiễn áp dụng và chỉ ra những bất cập trong quy định pháp luật, đặc biệt liên quan đến khái niệm pháp lý, cơ chế giao kết và hiệu lực phụ lục hợp đồng. Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng tiếp thị liên kết, nhằm bảo đảm tính minh bạch, công bằng trong quan hệ hợp đồng và góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của hoạt động tiếp thị liên kết trong môi trường thương mại điện tử tại Việt Nam.
Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự gia tăng của quan hệ hôn nhân xuyên biên giới, vấn đề giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn ngày càng trở nên cấp thiết. Bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá quy định hiện hành về xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch (lex patriae). Qua đó, nhận diện một số bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thực thi nguyên tắc này tại Việt Nam hiện nay.
Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Tóm tắt: Ở Việt Nam, chế định Hội thẩm nhân dân là phương thức thể chế hóa quyền làm chủ của Nhân dân trong hoạt động xét xử. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy, chế định này tồn tại một số hạn chế, dẫn đến sự tham gia của Nhân dân trong nhiều trường hợp còn hình thức. Bài viết phân tích vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử, nhận diện những hạn chế trong quy định pháp luật hiện hành về cơ chế lựa chọn, phân công, tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm pháp lý; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của Hội thẩm nhân dân, đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách tư pháp trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.

Theo dõi chúng tôi trên: