Thứ sáu 01/05/2026 23:21
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Kinh nghiệm của Hoa Kỳ sử dụng các thiết chế truyền thông trong việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân

Hiến pháp Hoa Kỳ, hệ thống thị trường tự do và một số giả định chống lại việc kiểm soát hình thành nền tự do báo chí ở Hoa Kỳ. Điều luật Bổ sung số một, Dự luật về các quyền, Hiến pháp Hoa Kỳ năm 1791 quy định: Quốc hội sẽ không đưa ra luật nào hạn chế tự do ngôn luận hay báo chí. Những từ ngữ này đảm bảo sự tự do báo chí trong Hiến pháp Hoa Kỳ, văn bản hình thành nên cơ cấu Chính phủ và là cơ sở cho luật pháp của Hoa Kỳ.

Với việc tự do báo chí được bảo vệ trong Dự luật về các quyền năm 1791, thì báo chí đã trở thành một lực lượng quyết đoán trong suốt những thập kỷ đầu của thời kỳ hình thành quốc gia. Ngày nay, báo chí Hoa Kỳ thường được người ta biết đến như là “quyền lực thứ tư”, một tên gọi cho thấy báo chí có vị thế ngang bằng với ba cơ quan của Chính phủ do Hiến pháp xây dựng nên.

1. Vai trò của báo chí trong xây dựng cộng đồng[1]

Ngày nay, ở Hoa Kỳ đang sống trong một kỷ nguyên trong đó cả nhà báo lẫn công chúng đang đấu tranh để đạt được một sự nhất trí về vấn đề thế nào là báo chí đúng đắn. Nếu chỉ các nhà báo nghĩ rằng họ đang làm việc tốt thì không đủ. Để cho báo chí tiếp tục nhận được sự bảo vệ của Hiến pháp và tiếp tục thu hút được độc giả và khán giả, độc giả và khán giả phải nhất trí rằng báo chí đóng vai trò cốt yếu trong xã hội dân chủ. Cựu Bộ trưởng ngoại giao Hoa Kỳ, Colin Powell đã phát biểu với Hội Báo chí Hoa Kỳ (ngày 25/3/2001) rằng, báo chí đô thị Mỹ, dù lớn hay nhỏ, đều phản ánh cuộc sống hàng ngày của đất nước ta, nhân dân ta... tựu trung lại, báo chí của cộng đồng không chỉ thông tin về nền tự do Mỹ, đó chính là nền tự do Mỹ[2].

Tuy nhiên, gần đây đã có những dữ liệu đáng lo ngại cho thấy rằng tình hình hiện nay không phải là như vậy. Các cuộc điều tra quốc gia là những căn cứ chứng minh rằng, có sự phẫn nộ dữ dội đối với báo chí Hoa Kỳ và hoạt động của nó. Ngạo mạn, thiếu nhạy cảm, thiên vị, không chính xác, giật gân là những từ mà công chúng sử dụng để miêu tả đặc trưng của báo chí. Ngày càng có nhiều người nhất trí là tin tức không còn mới mẻ và chính xác. Vấn đề lớn đặt ra hiện nay là liệu các nhà báo có biết làm thế nào để đính chính lại những điều này không?

Báo chí công dân định nghĩa lại sự cân bằng. Các nhà báo thường đưa tin về cả hai mặt của một sự việc và tin rằng như vậy là công bằng và cân bằng. Các nhà báo công dân cho rằng, cách nói đưa tin hai chiều thích hợp hơn là “đưa tin cân bằng”. Cân bằng là ở giữa, không ở các thái cực. Các nhà báo công dân cố gắng đảm bảo rằng, tất cả những người có ảnh hưởng bởi một vấn đề đều có một tiếng nói trong bài báo, chứ không phải chỉ là những người đề xướng những quan điểm cực đoan nhất gửi thông cáo báo chí đến cho chúng ta. Và các nhà báo công dân không sợ đưa tin về một tình hình mơ hồ, khi mà người dân còn đang nghĩ xem họ cảm thấy thế nào. Báo chí công dân cũng sẽ là nơi cho người dân tham gia và khuyến khích sự tương tác giữa nhà báo và công dân. Báo chí công dân cố gắng tạo nên đối thoại hai chiều đối với độc giả, ngược lại với việc truyền tải thông tin một chiều, bỏ qua nhiều tin tức về công chúng như thường thấy trong báo chí truyền thống. Sự tác động qua lại lẫn nhau có thể diễn ra trên các trang tin tức, trên sóng truyền hình, trong không gian điện tử và đôi khi cả ở không gian thực tại là các diễn đàn và các cuộc họp ở Tòa thị chính.

Những điểm chính của báo chí công dân là: Đối với cộng đồng, chúng ta thấy đây là báo chí có chất lượng, nó cải thiện khả năng giải quyết các vấn đề của cộng đồng. Những nỗ lực của báo chí công dân làm gia tăng đáng kể kiến thức của người đọc về một vấn đề cụ thể và có ảnh hưởng một cách tích cực tới quan niệm của người dân về truyền thông đại chúng; đối với báo chí, chúng ta thấy rằng, đó là cách đưa tin sâu, phản ánh cộng đồng một cách thực chất, chứ không phải là loại báo chí phản ánh máy móc chỉ hai mặt của một vấn đề. Các phóng viên đang tái khám phá cộng đồng mình và phá bỏ một số khuôn mẫu cũ.

2. Vai trò của báo chí, truyền thông trong việc bảo vệ quyền con người ở Hoa Kỳ

Những đảm bảo trong Hiến pháp Hoa Kỳ đối với tự do báo chí và tự do ngôn luận đã bảo đảm một nền báo chí đa phần không bị Chính phủ quản lý. Các cơ quan truyền thông đại chúng thuộc quyền sở hữu và được điều hành bởi các công dân, các tổ chức tư nhân, các công ty tư nhân và các tập đoàn công, chứ không phải chính quyền. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là một nền báo chí không có chuẩn mực. Trong hệ thống xã hội Hoa Kỳ, nền báo chí tự do là một nguồn cơ bản cung cấp thông tin - trung tâm của một xã hội tự do. Vai trò quan trọng này tạo ra cho báo chí những quyền lực của riêng mình. Ở nhiều quốc gia, Chính phủ đóng vai trò là người quản lý chủ yếu đối với báo chí. Ở Hoa Kỳ, giải pháp họ lựa chọn là dựa vào sức mạnh của thị trường, sự cạnh tranh, trách nhiệm xã hội và một loạt các yếu tố tự kiểm soát đã phát triển cao mà chúng ta gọi là đạo đức báo chí. Đạo đức báo chí tạo ra một quy trình, theo đó những sai phạm thái quá của cá nhân sẽ được uốn nắn mà không làm phương hại đến mục tiêu cuối cùng của nền báo chí tự do là tạo ra một sự kiểm soát lành mạnh đối với các trung tâm quyền lực nhằm duy trì một xã hội tự do.

Một là, vai trò của báo chí trong nền dân chủ Hoa Kỳ đã tiến tới bao gồm cả chức năng là một tổ chức giám sát Chính phủ, nghĩa là các nhà báo có thể điều tra các quan chức dân cử vi phạm quyền và sự tự do của dân thường. Trong một bài báo đăng trên tờ Columbia Journalism Review, Jane E Kirtley (Giáo sư về đạo đức và luật báo chí ở trường Đại học Minnesota) tuyên bố: “Đối với các nhà báo, điều hiển nhiên là những phóng sự điều tra cung cấp thông tin cho công chúng, phơi bày tệ nạn tham nhũng và những gì đúng, sai”[3].

Hai là, báo chí chính là công cụ đắc lực trong việc trình bày mọi quan điểm khác nhau về các vấn đề chính trị, văn hóa, xã hội. Báo chí cũng ảnh hưởng một cách trực tiếp đến việc sống và sinh hoạt như những cá thể tự do trong một xã hội mở, khai phóng, nhưng đặt nền trên một hệ thống pháp lý chặt chẽ. Mối quan hệ này cần được nghiên cứu và khai thác sâu xa hơn nữa trong định hướng phát triển cộng đồng và xã hội.

Ba là, người dân Hoa Kỳ dựa vào khu vực truyền thông tự do và độc lập này để được cung cấp thông tin về tất cả các chiều của một sự kiện hay vấn đề nào đó, họ có thể lựa chọn thông tin từ các nguồn khác nhau, cho phép tiếp cận với các quan điểm khác nhau. Chẳng hạn, như ở thành phố lớn Chicago, bang Illinois ở miền trung tây Hoa Kỳ, người dân được tiếp cận với không ít hơn 15 tờ nhật báo hay tuần báo, 12 kênh truyền hình, 04 đài phát thanh và 01 tạp chí tin tức, tất cả đều được thực hiện tại địa phương. Theo tờ Mondo Times, một hãng truyền thông có hoạt động trên toàn cầu, các nhà xuất bản đặt tại Chicago phát hành đến 16 tờ báo và 19 tạp chí bổ sung đáp ứng mọi thị hiếu của người dân địa phương, từ giải trí, thể thao cho đến kinh doanh và khoa học. Thông qua các tạp chí được phát hành trên toàn quốc, kênh truyền hình cáp, đài phát thanh vệ tinh và tất nhiên cả mạng Internet nữa, người dân Chicago - cũng như tất cả những người dân Mỹ khác - được tiếp cận với vô số nguồn thông tin trên khắp đất nước và trên toàn cầu[4].

Phần lớn người dân Mỹ ít nhất đều xem một số bản tin trên tivi. Trước năm 1980, ba kênh truyền hình lớn (American Broadcasting Company - ABC, National Broadcasting Company - NBC và Columbia Broadcasting System - CBS) là nơi phát sóng bản tin truyền hình lớn nhất Hoa Kỳ. Các mạng lưới này phát sóng các chương trình giải trí và tin tức hàng ngày. Năm 1980, Cable News Network (CNN) đã tiến hành một cuộc cách mạng trong ngành truyền hình với dịch vụ phát sóng 24 giờ một ngày, bảy ngày một tuần và hiện diện trên phạm vi quốc tế. Sự thành công của CNN đã dẫn đến sự hình thành của các kênh truyền hình cáp chuyên về tin tức theo mô hình phát sóng 24/7 khác.

Các tờ nhật báo ở đô thị và các đài phát tin tức một thời đã thống soái hình thức truyền tin tức, nhưng giờ các tin qua kênh truyền hình cáp đã nắm giữ một thị phần đáng kể khán thính giả theo dõi tin tức. Một phần là do các kênh truyền hình cáp ngày nay phát sóng tin tức và bình luận theo một quan điểm xác định sẵn và nhắm tới những phân khúc khán thính giả nhất định. Theo một khảo sát được Trung tâm Nghiên cứu Pew Phục vụ Báo chí và Nhân dân thực hiện, thì 74% người xem cho rằng ba chương trình tin tức lớn nnhất có nội dung “gần như giống nhau”, trong khi đó có 48% thấy có sự “khác biệt rõ rệt” trong các bản tin mà ba hãng tin tức truyền hình cáp phát sóng.

Ở Mỹ, với những tờ báo nghiêm túc đề ra các nguyên tắc nghề nghiệp:

- Sự tự do của báo chí phải được bảo vệ như một quyền sống còn của con người. Đó là một quyền mặc nhiên khi ta muốn thảo luận về bất kì điều gì mà luật pháp không cấm đoán một cách rõ ràng, kể cả tính đúng đắn của các luật lệ quy định.

- Tính trọng luật: Một tờ báo không được công bố những lời tố cáo không chính thức ảnh hưởng đến uy tín và đạo đức mà không tạo cơ hội cho kẻ bị cáo buộc được dịp phát biểu; cách làm đúng đắn đòi hỏi phải tạo được cơ hội như thế trong mọi vụ tố cáo nghiêm trọng nằm ngoài các thủ tục pháp lý. Một tờ báo không được xâm phạm vào tâm tình hoặc quyền lợi riêng tư mà không chứng minh được việc làm đó là vì lợi ích công chúng, chứ không phải vì tính tò mò của công chúng. Quyền lợi và cũng là nghĩa vụ của một tờ báo là phải đính chính đầy đủ và kịp thời các sai lầm lớn của mình về sự kiện hay ý kiến, cho dù nguyên nhân sai lầm đó là gì.

Chính quyền sẵn sàng can thiệp, trừng phạt nếu báo chí vi phạm vào các lĩnh vực sau: Đăng bài viết phương hại đến nền an ninh quốc gia; đăng bài gián tiếp xúi giục bạo động, gây bất ổn xã hội; đăng bài miệt thị và kỳ thị tôn giáo, chủng tộc; đăng bài bôi nhọ cá nhân hay tập thể; đăng bài xâm phạm đời tư cá nhân; đăng bài viết có ảnh hưởng xấu đến xã hội; đăng bài viết gây nguy hiểm rõ ràng và tức thời cho cộng đồng; đăng bài viết có ngôn ngữ thô tục; đăng bài viết gây công phẫn dư luận.

3. Kết luận

Dù ở bất kỳ quốc gia nào, thì truyền thông cũng đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền con người và quyền công dân. Do vậy, các phương tiện truyền thông cần phản ánh trung thực tình hình nhân quyền ở quốc gia đó cả mặt tích cực và mặt tiêu cực. Trên các phương tiện thông tin đại chúng cần phản ảnh các kết quả tốt, tích cực về thực hiện quyền con người, quyền công dân của các địa phương, các cơ quan, tổ chức và các nhà chức trách. Từ đây, có thể tạo ra phong trào, nếp sống, thói quen, ý thức tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người ở mỗi quốc gia.

Báo chí cần phản ảnh những mặt trái, tiêu cực, thậm chí những vi phạm quyền con người, quyền công dân. Cần chỉ ra nguyên nhân dẫn đến tình trạng này để từ đó có được những kiến nghị có giá trị góp phần vào công cuộc đấu tranh vì quyền con người, quyền công dân.

Thông qua dư luận xã hội, báo chí cần tạo ra sức ép đối với chính quyền trong việc thực hiện chính sách, pháp luật, xây dựng và thực hiện các cam kết, các chương trình, các kế hoạch, giải pháp, biện pháp về tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người.

Để nâng cao hiệu quả của thiết chế truyền thông trong việc bảo vệ quyền con người ở Việt Nam, cần áp dụng nhiều biện pháp khác nhau và tiến hành các biện pháp này đồng bộ. Theo đó, cần nâng cao chất lượng của thiết chế truyền thông trong việc bảo vệ quyền con người; các văn bản luật, văn bản dưới luật, các chính sách của Đảng và Nhà nước ta về quyền con người, bảo vệ quyền con người cần được phổ biến rộng rãi; có những giải pháp triệt để cho hoạt động đăng bài viết, phát tán thông tin, đưa tin, truyền thanh, phát thanh, báo hình, báo in, báo viết… khi những loại hình truyền thông báo chí đưa tin sai sự thật, xuyên tạc sự việc, vi phạm quy định pháp luật về báo chí hoặc có những hành vi nói xấu, bôi nhọ các tổ chức, cá nhân liên quan khác; tăng cường chuyên môn, nghiệp vụ về nhân quyền cho đội ngũ cán bộ, công chức Nhà nước và đội ngũ phóng viên, biên tập viên báo chí.

Nhóm nghiên cứu Đề tài
(Bài viết là sản phẩm của Đề tài khoa học cấp Bộ "Tăng cường vai trò của thiết chế truyền thông trong bảo vệ quyền con người và quyền công dân ở Việt Nam").


[1] Vai trò của báo chí trong xây dựng cộng đồng, Jan Schaffer - Giám đốc điều hành Trung tâm Báo chí công dân Pew, Tạp chí điện tử của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, Chuyên đề Báo chí và Đạo đức, Số 4/2001.

[2] Tạp chí điện tử của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, Chuyên đề Báo chí và Đạo đức, Số 4/2001.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tóm tắt: Chương VII dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) quy định về tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo gần như giữ nguyên nội dung Chương VII Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Tuy nhiên, phân tích từ góc độ liên thông giữa Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 với Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Đất đai năm 2024, cho thấy có một số bất cập, nếu được hoàn thiện trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) sẽ giúp hệ thống pháp luật liên quan đến chế định này được hoàn thiện, đồng bộ hơn.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.

Theo dõi chúng tôi trên: