Thứ ba 06/10/2026 16:46
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Kinh nghiệm lựa chọn hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật trong đồng bào dân tộc thiểu số ở các tỉnh duyên hải miền Trung

Tóm tắt: Qua bài viết, tác giả chia sẻ những kinh nghiệm phổ biến, giáo dục pháp luật trong đồng bào dân tộc thiểu số ở các tỉnh duyên hải miền Trung thông qua việc lựa chọn hình thức tuyên truyền phù hợp.

Tóm tắt: Qua bài viết, tác giả chia sẻ những kinh nghiệm phổ biến, giáo dục pháp luật trong đồng bào dân tộc thiểu số ở các tỉnh duyên hải miền Trung thông qua việc lựa chọn hình thức tuyên truyền phù hợp.

Abstract: By this article, the author shares experience of legal dissemination, education in ethnic people groups in middle costal provinces through of selecting suitable forms.

Vùng duyên hải Miền Trung gồm 08 tỉnh: Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận và TP. Đà Nẵng với diện tích tự nhiên là 49.409,7 km2, chiếm 14,93% diện tích cả nước. Đây cũng là nơi sinh cơ lập nghiệp của hầu hết các dân tộc thiểu số, chủ yếu sinh sống ở các huyện, các xã miền núi, vùng khó khăn của các tỉnh trong vùng.

Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09/12/2003 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân xác định: “Phổ biến, giáo dục pháp luật là một bộ phận của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, là nhiệm vụ của toàn bộ hệ thống chính trị đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng”. Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 (gồm 05 chương, 41 điều, có hiệu lực từ ngày 01/01/2013) và các văn bản hướng dẫn thi hành xác định 06 đối tượng đặc thù trong phổ biến, giáo dục pháp luật trong đó có người dân ở vùng dân tộc thiểu số, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, ven biển, hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và ngư dân. Theo đó, nhiều năm qua, các cấp ủy, chính quyền các cấp ở các tỉnh duyên hải miền Trung đều có chương trình, kế hoạch tổ chức triển khai bằng những hình thức, nội dung thiết thực, liên quan trực tiếp đến các đối tượng đặc thù dân tộc thiểu số; gắn với thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số của các tỉnh trong vùng. Qua thực tiễn triển khai các hoạt động, tác giả khái quát một số kinh nghiệm trong việc lựa chọn hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật phù hợp đặc thù vùng dân tộc thiểu số các tỉnh duyên hải miền Trung như sau:

1. Tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật trực tiếp tại các làng, thôn, nhất là tuyên truyền miệng, phổ biến bằng ngôn ngữ, tài liệu bằng tiếng dân tộc thiểu số: Đây là cách thức tuyên truyền trực tiếp bằng lời nói để thuyết phục bà con dân tộc thiểu số nhằm nâng cao nhận thức, củng cố niềm tin và làm theo pháp luật. Tại các nhà Rông, nhà văn hóa của làng, các báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật trực tiếp nói chuyện pháp luật cho hội viên, nông dân, bà con dân tộc thiểu số theo định kỳ. Bằng cách trực tiếp tiếp xúc, trao đổi, thảo luận, sinh hoạt của chi hội, tổ hội lồng ghép nói chuyện pháp luật với từng hộ gia đình, từng đối tượng kết hợp xử lý cụ thể tình huống thực tiễn, giải đáp pháp luật, theo chuyên đề pháp luật phù hợp để bà con dân tộc thiểu số tìm hiểu. Vì thế, hình thức tuyên truyền pháp luật này mang tính chất gần gũi, dễ thực hiện, dễ đi vào lòng người và cũng là hình thức tuyên truyền hiệu quả nhất. Chẳng hạn, Hội nghị phổ biến pháp luật do Ban Dân tộc tỉnh Thừa Thiên Huế phối hợp với Ủy ban nhân dân huyện A Lưới tổ chức cho 60 cán bộ xã, thôn bản, người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số của 20 xã, thị trấn của huyện A Lưới bằng trình chiếu Powerpoint, kèm theo những hình ảnh minh họa sống động về các quy định pháp luật, phù hợp với những hình ảnh sinh hoạt đời thường đồng bào dân tộc thiểu số Tà Ôi. Do vậy, không khí hội nghị tuyên truyền pháp luật sôi động, cuốn hút bà con dân tộc thiểu số tập trung lắng nghe.

2. Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua các loại hình văn hóa, văn nghệ, bằng các hình ảnh, truyền thanh, truyền hình: Thông qua các áp phích, biểu ngữ, tranh cổ động… bằng tiếng dân tộc thiểu số phù hợp từng vùng, từng làng cũng là cách làm sáng tạo tại các huyện miền núi các tỉnh Bình Định, Ninh Thuận, Quảng Ngãi, Quảng Nam… Các khẩu hiệu vận động sống, làm việc theo pháp luật, nghiêm chỉnh thực hiện Luật Bảo vệ và phát triển rừng, Luật Hôn nhân và gia đình... được kẻ vẽ, trưng bày khu vực đông dân cư của bà con dân tộc thiểu số để bà con dễ nhìn thấy, nhớ và vận dụng thực hiện.

Các tỉnh duyên hải miền Trung là nơi “phát tích” và nuôi dưỡng phát triển nhiều loại hình văn hóa nghệ thuật, do vậy, việc lồng ghép các quy định pháp luật, một văn bản pháp luật bằng “ngôn ngữ” của một loại hình văn hóa, văn nghệ như thơ, hò, vè, nhạc, kịch, bài chòi, hát Bả trạo, hát Bội (tuồng), múa Katê của dân tộc Chăm... Thông qua tổ chức các cuộc thi cồng chiêng và hát dân ca giữa các dân tộc thiểu số, các quy định pháp luật được tuyên truyền lồng ghép trong việc thực hiện Đề án bảo tồn văn hóa dân tộc thiểu số của các tỉnh trong vùng.

Kinh nghiệm cho thấy, sử dụng hình thức tuyên truyền pháp luật thông qua các phương tiện thông tin, các loại hình văn hóa, nghệ thuật, vừa trực tiếp, vừa gián tiếp không những đem lại hiệu quả mà còn tạo ra sức lan tỏa sâu rộng, nhất là thông qua chuyên mục “pháp luật và đời sống” bằng tiếng dân tộc thiểu số phát sóng hàng ngày, hàng tuần. Bên cạnh đó, các quy định pháp luật được biên soạn ngắn gọn, các tiểu phẩm nghệ thuật pháp luật ngắn, dễ hiểu, dễ thực hiện để tuyên truyền phù hợp cho từng đối tượng, từng lứa tuổi. Đây là hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật đặc thù được áp dụng rộng rãi, gần gũi với bà con dân tộc thiểu số và đóng một vai trò quan trọng trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.

3. Tài liệu phổ biến, giáo dục pháp luật được biên soạn bằng tiếng dân tộc: Tài liệu tuyên truyền pháp luật gồm đề cương tuyên truyền, văn bản pháp luật, sách hướng dẫn, sách pháp luật bỏ túi, sách hỏi đáp pháp luật, tờ rơi, tờ gấp, bản tin pháp luật, băng cassette hoặc đĩa VCD… được các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Ninh Thuận biên soạn, dịch và phát hành bằng tiếng dân tộc thiểu số (như tiếng Chăm, Ba Na), phong phú, hấp dẫn, thiết thực hướng tới từng đối tượng. Đây cũng là cẩm nang, phương tiện hoạt động của những người làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong đồng bào dân tộc thiểu số. Hiệu quả của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong đồng bào dân tộc thiểu số chịu sự tác động nhất định của chất lượng các tài liệu pháp luật, vì vậy, việc biên soạn, phát hành các tài liệu bằng tiếng dân tộc thiểu số cũng cần chú trọng cả hình thức và nội dung.

4. Phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua tủ sách pháp luật được đặt tại nhà Rông của các làng có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống: Thông qua việc tìm hiểu, nghiên cứu, đọc các sách, tài liệu pháp luật của tủ sách, bà con dân tộc thiểu số tra cứu, tìm hiểu và vận dụng các quy định của pháp luật vào thực tế một cách đầy đủ, có hệ thống, chính xác và thống nhất.

5. Phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua sinh hoạt câu lạc bộ pháp luật: Sinh hoạt câu lạc bộ pháp luật trong đồng bào dân tộc thiểu số cũng được Đoàn Thanh niên ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số các tỉnh duyên hải miền Trung xây dựng, khai thác có hiệu quả. Đó là hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật thích hợp cho thanh niên thông qua sinh hoạt định kỳ, khách mời để giao lưu, học tập, trao đổi kiến thức pháp luật cần thiết, tạo điều kiện để thanh niên đồng bào dân tộc thiểu số cùng trao đổi, chia sẻ những vấn đề có liên quan đến công tác xây dựng, tuyên truyền, phổ biến và thực thi pháp luật.

6. Thi tìm hiểu pháp luật là một trong hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật thường được tổ chức thực hiện trong đồng bào dân tộc thiểu số: Bằng việc triển khai hình thức thi khác nhau đối với mỗi đối tượng cụ thể trong đồng bào dân tộc thiểu số như thi viết, thi sân khấu… Thi tìm hiểu pháp luật là cầu nối chuyển tải những nội dung pháp luật vào cuộc sống đồng bào dân tộc thiểu số một cách tự nhiên, là hình thức sinh hoạt văn hóa pháp lý cho đồng bào dân tộc thiểu số có sức hấp dẫn và hiệu quả. Đây là một trong những hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật hấp dẫn, có hiệu quả cao và được sử dụng nhiều ở các tỉnh Quảng Nam, Bình Định, Bình Thuận... Những nội dung pháp luật được chuyển tải đến bà con dân tộc thiểu số qua hội thi một cách đơn giản, ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ, sinh động, tránh sự cứng nhắc, khô cứng.

7. Phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua các loại hình tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý miễn phí cho đồng bào dân tộc thiểu số: Đây là hình thức được các tỉnh duyên hải miền Trung thường xuyên tổ chức thực hiện, bởi qua đó để giải đáp pháp luật, hướng dẫn ứng xử đúng pháp luật, cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí nhằm giúp đồng bào dân tộc thiểu số thực hiện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ. Qua đó, góp phần tuyên truyền, phổ biến, giải thích pháp luật nhằm nâng cao văn hóa pháp lý đồng bào dân tộc thiểu số trong cộng đồng xã hội.

Thông qua hoạt động tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý còn giúp đồng bào dân tộc thiểu số nắm bắt được các thông tin pháp lý, hiểu được quyền và nghĩa vụ của mình trong thực hiện pháp luật, hướng dẫn ứng xử trong cuộc sống phù hợp pháp luật và tránh được những hậu quả pháp lý bất lợi, tăng cường ý thức tôn trọng và thi hành nghiêm chỉnh pháp luật, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật.

8. Phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động hòa giải ở cơ sở: Thông qua hoạt động hòa giải ở cơ sở trong đồng bào dân tộc thiểu số là việc già làng, tổ trưởng tổ hòa giải bằng uy tín, hiểu biết pháp luật của mình bồi dưỡng kiến thức, tình cảm pháp luật cho các bên tranh chấp, nhằm hình thành sự hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng pháp luật và thói quen hành động theo pháp luật trong đồng bào dân tộc thiểu số, từ đó làm thay đổi dần các phong tục, tập quán lạc hậu.

Kinh nghiệm lựa chọn hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật phù hợp trong đồng bào dân tộc thiểu số ở các tỉnh duyên hải miền Trung là cách thức tổ chức hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cụ thể, đặc thù, nhằm hình thành trong đồng bào dân tộc thiểu số những tình cảm, tri thức và hành vi pháp lý phù hợp với yêu cầu, đòi hỏi của thực hiện pháp luật trong thực tiễn. Qua thực tiễn hoạt động công tác phổ biến pháp luật cho cán bộ, đồng bào dân tộc thiểu số của các tỉnh duyên hải miền Trung cho thấy, các tỉnh, thành trong vùng đã lựa chọn nhiều hình thức phổ biến, giáo dục đặc thù, mỗi hình thức đều xuất phát từ sự phù hợp với một hoặc một số đối tượng nhất định, phù hợp với từng địa bàn, điều kiện kinh tế - xã hội nhất định, lấy hiệu quả nhận thức của đồng bào dân tộc thiểu số làm mục tiêu. Đó là việc lựa chọn hình thức tuyên truyền phải thiết thực, hiệu quả, đúng đối tượng, phù hợp, kịp thời, chính xác, dễ hiểu, dễ thực hiện, kết hợp thực hiện lồng ghép có hiệu quả với các chương trình công tác dân tộc và chính sách dân tộc có liên quan. Với những kết quả đạt được, những kinh nghiệm từ thực tiễn hoạt động phổ biến, tuyên truyền pháp luật trong đồng bào dân tộc thiểu số ở các tỉnh duyên hải miền Trung sẽ được tiếp tục vận dụng, phát huy trong tương lai.

TS. Nguyễn Huỳnh Huyện

Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Bình Định

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: