Thứ ba 10/02/2026 07:16
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Kinh nghiệm một số nước trong việc hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa - Bài học cho Việt Nam

Kinh nghiệm triển khai hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp tại một số quốc gia trên thế giới cho thấy, hầu hết các nước thuộc Cộng đồng chung châu Âu

1. Kinh nghiệm một số nước về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Kinh nghiệm triển khai hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp tại một số quốc gia trên thế giới cho thấy, hầu hết các nước thuộc Cộng đồng chung châu Âu coi việc thông tin và hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp là trách nhiệm của Nhà nước. Năm 1978, Cộng hòa Pháp đã ban hành Luật số 78 - 753 quy định cơ quan nhà nước có trách nhiệm trả lời chính xác mọi câu hỏi của cá nhân và doanh nghiệp có liên quan đến các quy định pháp luật[1]. Tại nhiều quốc gia có nền kinh tế phát triển như: Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan..., bên cạnh việc hỗ trợ trực tiếp về tài chính, kỹ thuật, cơ chế hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) đang được vận hành hiệu quả, đặt trọng tâm vào các giải pháp phòng tránh rủi ro pháp lý trong kinh doanh, hỗ trợ cung cấp thông tin, nâng cao nhận thức, ý thức tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp, qua đó giúp doanh nghiệp tại các quốc gia này tránh những thua thiệt không đáng có, ngày càng khẳng định vị thế không chỉ tại thị trường nội địa mà ngày càng phát triển vững bền vững trên thị trường quốc tế.

Hiện nay, trên thế giới tồn tại song song các quan điểm khác nhau về hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp[2] như sau:

Quan điểm thứ nhất, quan điểm của một số quốc gia và vùng lãnh thổ (như: Đài Loan, Singapore, Úc…): Trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu và khu vực, các quốc gia đa số là thành viên của các tổ chức quốc tế, tham gia ký kết các điều ước quốc tế song phương hoặc đa phương, trong đó thể hiện rõ sự cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế là phù hợp với xu thế chung của nhân loại. Vì vậy, mọi hoạt động bao gồm hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp không thuộc trách nhiệm, nghĩa vụ quốc gia, vấn đề này thuộc nội tại của từng doanh nghiệp. Theo quan điểm này, doanh nghiệp phải tự tìm hiểu, trang bị kiến thức pháp luật hoặc khi có vấn đề pháp lý xảy ra trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, đầu tư của mình, doanh nghiệp chủ động tìm tới các văn phòng luật sư, công ty luật, nơi thực hiện các dịch vụ pháp lý chuyên nghiệp để ký hợp đồng dịch vụ pháp lý.

Quan điểm thứ hai, trái với quan điểm nêu trên, các quốc gia (như: Hàn Quốc, Nhật Bản, Mỹ, Thái Lan…) luôn coi doanh nghiệp là đối tượng phục vụ của Nhà nước, vì vậy, song song với những hỗ trợ về tài chính, kỹ thuật, khoa học công nghệ, khởi nghiệp doanh nghiệp..., Nhà nước, Chính phủ các nước này cho rằng, việc hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp là điều vô cùng quan trọng, nó ảnh hưởng đến chiến lược phát triển kinh tế, xã hội của đất nước qua từng giai đoạn, thời kỳ khác nhau. Việc hỗ trợ của Nhà nước được thực hiện dưới những hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp dưới nhiều hình thức khác nhau, tuy nhiên, nhóm đối tượng thụ hưởng chủ yếu là DNNVV.

Nhìn chung, các nước đã phát triển như: Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, các nước thuộc Liên minh châu Âu và các nước đang phát triển trong khu vực như: Malaixia, Thái Lan, Trung Quốc, Ấn Độ… đều coi trọng vai trò của khu vực DNNVV đối với sự phát triển của nền kinh tế và luôn có cách chính sách hỗ trợ gián tiếp cho DNNVV.

Nhìn nhận một cách tổng quan chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong những năm gần đây cho thấy, Đảng và Nhà nước xác định chuyển doanh nghiệp từ đối tượng quản lý sang đối tượng được Nhà nước phục vụ.

Trong lịch sử lập hiến của Việt Nam, lần đầu tiên vấn đề về nền kinh tế thị trường của Việt Nam đã được quy định chính thức trong Hiến pháp năm 2013[3] và đây cũng là lần đầu tiên Hiến pháp Việt Nam quy định về doanh nhân, quyền đầu tư, sản xuất, kinh doanh của doanh nhân, doanh nghiệp[4].

Ngày 20/9/2004, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 990/QĐ-TTg về Ngày Doanh nhân Việt Nam, hàng năm lấy ngày 13/10 là “Ngày Doanh nhân Việt Nam”, nhằm phát huy vai trò, truyền thống của đội ngũ doanh nhân Việt Nam. Ngày Doanh nhân Việt Nam mang ý nghĩa lịch sử sâu sắc, bởi vì, chính ngày này gần 75 năm về trước (13/10/1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho giới công thương Việt Nam ngay sau khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Thời gian qua, Chính phủ cũng đã ban hành một loạt các nghị quyết để hỗ trợ doanh nghiệp như: Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16/5/2016 về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020; Nghị quyết số 19-2017/NQ-CP ngày 06/02/2017 về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2017, định hướng đến năm 2020… Trên tinh thần đó, khi nghiên cứu về các cơ chế hỗ trợ của Nhà nước đối với doanh nghiệp hiện nay và học hỏi kinh nghiệm nước ngoài, tác giả cũng đồng tình với quan điểm thứ hai này, việc hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp không đồng nghĩa với việc làm thay toàn bộ mà chỉ góp phần tạo ra những cú hích, đòn bẩy để thay đổi nhận thức, ý thức tuân thủ pháp luật của các doanh nghiệp, nhất là DNNVV, doanh nghiệp khởi nghiệp.

Ngoài ra, theo thống kê của Bộ Nội vụ, hiện nay, Việt Nam có khoảng trên 300 hội có phạm vi hoạt động toàn quốc và hơn 2000 hội hoạt động trong phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, trong đó, theo nghiên cứu của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) thì số lượng tổ chức đại diện cho doanh nghiệp trên cả nước có khoảng trên 300 tổ chức[5], trong đó chủ yếu tập trung tại các trung tâm kinh tế lớn của cả nước như: TP. Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, TP. Đà Nẵng, TP. Hải Phòng. Chỉ riêng TP. Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh đã chiếm hơn 42% trên tổng số các tổ chức đại diện cho doanh nghiệp trên cả nước. Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay chỉ có hơn 30% tổ chức đại diện cho doanh nghiệp đang hoạt động tốt, số còn lại đang hoạt động cầm chừng và thực sự chưa phát huy hết vai trò của mình trong các hoạt động đại diện cho các doanh nghiệp thành viên, trong đó, theo báo cáo của các Hiệp hội doanh nghiệp cho thấy, vai trò hỗ trợ doanh nghiệp hội viên thông qua việc hỗ trợ pháp lý để bảo vệ quyền lợi hội viên là nhiệm vụ quan trọng, đáp ứng được nhu cầu của doanh nghiệp tham gia hội. Nhiều tổ chức đại diện cho doanh nghiệp đưa nhiệm vụ này là nhiệm vụ hàng đầu và trọng tâm hoạt động của tổ chức mình như Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam, Liên minh Hợp tác xã Việt Nam, Câu lạc bộ Pháp chế doanh nghiệp...[6].

2. Bài học cho Việt Nam

Thứ nhất, cần xác định đối tượng được Nhà nước hỗ trợ pháp lý một cách thật sự khoa học

Các quốc gia sử dụng các tiêu chí khác nhau để hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, theo quy định của Hàn Quốc, tiêu chí DNNVV là tiêu chí phổ biến và có căn cứ nhất để thực hiện công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, tuy nhiên, tiêu chí để xác định DNNVV ở các quốc gia khác nhau là khác nhau. Thực tế cho thấy, đến nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều đưa ra một định nghĩa hoặc tiêu chí thống nhất về DNNVV, song có điểm chung là tiêu chí để xác định DNNVV căn cứ vào doanh thu và số lao động, được chia thành 3 mức độ quy mô: Doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa trong 3 lĩnh vực của nền kinh tế như nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; công nghiệp và xây dựng; thương mại và dịch vụ.

Việc xác định tiêu chí doanh nghiệp nhằm xác định rõ đối tượng Nhà nước hỗ trợ pháp lý cho hiệu quả, đúng đối tượng, bảo đảm sự cạnh tranh bình đẳng, công bằng giữa các doanh nghiệp. Nghị định số 55/2019/NĐ-CP ngày 24/6/2019 của Chính phủ về hỗ trợ pháp lý cho DNNVV xác định đối tượng hỗ trợ pháp lý của Nhà nước là DNNVV và tổ chức, cá nhân kinh doanh. Vì thế, các công trình nghiên cứu trong nước cũng mới chỉ tập trung phân tích sự cần thiết hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, nhất là DNNVV là đối tượng cần được hỗ trợ hơn hết. Cách tiếp cận này mang tính cứng nhắc, thiếu chính xác, không đủ để phản ánh chính xác công tác hỗ trợ pháp lý và khả năng tác động đến nền kinh tế trong tương lai. Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 xác định rõ đối tượng được Nhà nước hỗ trợ là DNNVV. Việc nghiên cứu để phân tích, áp dụng các tiêu chí DNNVV để xác định đối tượng hỗ trợ pháp lý của Nhà nước cho thống nhất giữa các văn bản pháp luật hiện hành của Nhà nước.

Thứ hai, cần xác định đầy đủ, hợp lý nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp

Các nước thuộc Cộng đồng chung châu Âu xác định trách nhiệm thông tin pháp lý cho doanh nghiệp là trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức. Các văn bản pháp luật hiện hành của Việt Nam liệt kê các đối tượng thực hiện công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp. Những đối tượng được liệt kê như vậy là khác nhau giữa các hệ thống pháp luật, giữa các nền kinh tế nhưng nhìn chung là đều mang tính mô tả, minh họa cho suy đoán của các nhà làm luật dựa trên thực tiễn hoạt động nhưng không đủ khả năng bao quát hết những đối tượng thực hiện công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp trên thực tế. Việc liệt kê thường bị coi là sẽ dẫn tới khả năng bỏ sót đối tượng có cùng bản chất và các hành động được liệt kê. Một số nghiên cứu đã cố gắng dựa trên các hành động nhằm xây dựng khái niệm đối tượng làm công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp có thể bao quát được tất cả. Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017, Nghị định số 55/2019/NĐ-CP (kể cả Nghị định số 66/2008/NĐ-CP ngày 28/5/2008 của Chính phủ về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp trước đây), Chương trình Hỗ trợ pháp lý liên ngành dành cho doanh nghiệp và các chương trình hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp ở các bộ, ngành, địa phương cũng lựa chọn cách liệt kê và mô tả các đối tượng thực hiện công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp thay vì xây dựng một khái niệm mang tính bao quát và xác định thẩm quyền của các cơ quan có liên quan trong việc hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp.

Thứ ba, cần quan tâm nghiên cứu về kinh phí dành cho công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp

Như trên đã phân tích và chỉ ra, pháp luật Việt Nam xây dựng các đối tượng thực hiện công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp theo hướng liệt kê và mô tả hành vi, chưa xác định rõ thẩm quyền của các cơ quan này, do đó, việc nhận diện đối tượng và thẩm quyền thực hiện hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp mang tính hình thức. Vấn đề phân tích để xây dựng các đặc điểm nhận dạng phản ánh được bản chất của hành vi hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp là hết sức cần thiết, nó quyết định đến vấn đề quan trọng nữa là kinh phí dành cho công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp được lấy từ nguồn nhà nước là chủ yếu hay huy động từ các nguồn khác ngoài nhà nước; vai trò của kinh phí trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp như thế nào. Các công trình nước ngoài như: Nhật Bản, Hàn Quốc… dành nhiều sự quan tâm thích đáng cho việc nghiên cứu kinh phí dành cho công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp.

Thứ tư, cần nghiên cứu các hình thức hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp phù hợp với thực tiễn Việt Nam

Kinh nghiệm nước ngoài cho thấy, các hình thức hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp mặc dù rất đa dạng nhưng đều hướng tới mục tiêu là triển khai đồng bộ các hoạt động hỗ trợ pháp lý cho DNNVV, tạo chuyển biến căn bản về nhận thức pháp lý, ý thức pháp luật và thói quen tuân thủ pháp luật của DNNVV; tạo lập các điều kiện cần thiết phục vụ hoạt động thực thi pháp luật để giúp DNNVV kinh doanh có hiệu quả; phòng chống rủi ro pháp lý và tăng cường năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp; góp phần nâng cao công tác quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với doanh nghiệp. Do đó, có thể xếp các hình thức hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp thành 2 nhóm cơ bản căn cứ vào hình thức hỗ trợ, đó là nhóm hình thức hỗ trợ trực tiếp và nhóm hình thức hỗ trợ gián tiếp. Việc phân biệt các hình thức hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp như trên là hết sức cần thiết do chúng có đối tượng hỗ trợ khác nhau và kết quả tiếp nhận được khác nhau nên có các hình thức hỗ trợ pháp lý khác nhau.

Thứ năm, cần nghiên cứu một cách đầy đủ các bước trong việc thực hiện công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp; chú trọng đến công tác đánh giá kết quả và tổng kết công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp

Kinh nghiệm nước ngoài cho thấy, việc xác định hành vi hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp ở các hệ thống pháp luật khác nhau nhưng đều có cách tiếp cận khá giống nhau, theo đó, việc thực hiện các bước trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp phải thực hiện từ việc nghiên cứu nhu cầu cần hỗ trợ pháp lý của doanh nghiệp; đối tượng doanh nghiệp cần hỗ trợ pháp lý; thực hiện công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp; thanh tra, kiểm tra; đánh giá kết quả công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp và việc tiếp nhận các phản hồi của doanh nghiệp về các chính sách, pháp luật để hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh doanh cho doanh nghiệp tại Việt Nam.

Việc nghiên cứu kinh nghiệm hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp của các nước và áp dụng cho Việt Nam phải dựa trên các nguyên tắc như các biện pháp hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp được áp dụng cho mọi loại hình chủ thể kinh doanh, không phân biệt hình thức sở hữu, quy mô kinh doanh và lĩnh vực hoạt động nhưng phải lấy DNNVV làm đối tượng chủ yếu; các biện pháp hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp cần bảo đảm nguyên tắc Nhà nước không làm thay công việc của doanh nghiệp, mặt khác cũng phải bảo đảm việc hỗ trợ của Nhà nước không làm hạn chế sự phát triển của thị trường dịch vụ tư vấn pháp lý nói chung và thị trường dịch vụ tư vấn pháp lý cho doanh nghiệp nói riêng; nội dung của các biện pháp hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp được quy định trên cơ sở có tính đến điều kiện kinh tế, xã hội cụ thể của từng ngành, từng địa phương trong từng thời kỳ, bảo đảm sự hài hòa giữa trách nhiệm hỗ trợ với nguồn lực thực tế về tài chính, nhân sự của các cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương và địa phương; tăng cường đầu tư, đổi mới các hình thức, phương thức hỗ trợ pháp lý theo hướng xã hội hóa, huy động sức mạnh của các tổ chức xã hội, đoàn thể, các tổ chức đại diện cho doanh nghiệp và công tác hỗ trợ pháp lý.

Cao Trang Thu

Công ty Cổ phần tư vấn chính sách Hà Nội - Berlin







[1]. Nguồn: Báo cáo của Chương trình hỗ trợ kỹ thuật của EC cho Việt Nam (ETV2) tại Hội thảo: “Kinh nghiệm một số nước về trợ giúp pháp luật cho doanh nghiệp và nghiên cứu vận dụng tại Bộ Tài chính” ngày 15/11/2007.

[2]. Công văn 145/BTP-PLDSKT ngày 16/02/2013 của Bộ Tư pháp về kết quả khảo sát kinh nghiệm nước ngoài về công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp và ý kiến của GS. Steve Van Houten (Quốc tịch Canada), cố vấn cao cấp Ngân hàng phát triển châu Á - ADB (hỗ trợ kỹ thuật, tư vấn cho Bộ Tư pháp Việt Nam kinh nghiệm nhằm nâng cao hiệu quả công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp tại Việt Nam).

[3]. Khoản 1 Điều 51 Hiến pháp năm 2013 tuyên bố: “Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế; kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo”.

[4]. Khoản 3 Điều 51 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện để doanh nhân, doanh nghiệp và cá nhân, tổ chức khác đầu tư, sản xuất, kinh doanh…”.

[5]. Báo cáo của Bộ Nội vụ về công tác hội năm 2016.

[6]. Sau khi có Nghị định số 66/2008/NĐ-CP nhiều tổ chức đại diện cho doanh nghiệp đã thành lập hoặc nâng cấp các đơn vị trực thuộc chuyên triển khai công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp hội viên. Ví dụ: Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam có Trung tâm Hỗ trợ pháp luật và phát triển nguồn nhân lực; Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam có Ban Pháp chế; Liên minh Hợp tác xã Việt Nam có Trung tâm tư vấn pháp luật; Câu lạc bộ pháp chế doanh nghiệp có Trung tâm tư vấn pháp luật và bồi dưỡng nghiệp vụ…

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Ngày 10/12/2025, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV thông qua Luật Bảo hiểm tiền gửi số 111/2025/QH15, thay thế Luật Bảo hiểm tiền gửi số 06/2012/QH13 với các quy định nhằm tạo hành lang pháp lý đầy đủ, rõ ràng để tổ chức bảo hiểm tiền gửi nâng cao năng lực tài chính và tham gia hiệu quả vào quá trình cơ cấu lại tổ chức tín dụng, qua đó bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền, bảo đảm duy trì sự ổn định của hệ thống tổ chức tín dụng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội theo định hướng tại Chiến lược phát triển bảo hiểm tiền gửi và Chiến lược ngành ngân hàng. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2026.
Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:

Theo dõi chúng tôi trên: