Thứ bảy 14/03/2026 00:48
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Kinh nghiệm một số nước trong việc hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa - Bài học cho Việt Nam

Kinh nghiệm triển khai hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp tại một số quốc gia trên thế giới cho thấy, hầu hết các nước thuộc Cộng đồng chung châu Âu

1. Kinh nghiệm một số nước về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Kinh nghiệm triển khai hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp tại một số quốc gia trên thế giới cho thấy, hầu hết các nước thuộc Cộng đồng chung châu Âu coi việc thông tin và hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp là trách nhiệm của Nhà nước. Năm 1978, Cộng hòa Pháp đã ban hành Luật số 78 - 753 quy định cơ quan nhà nước có trách nhiệm trả lời chính xác mọi câu hỏi của cá nhân và doanh nghiệp có liên quan đến các quy định pháp luật[1]. Tại nhiều quốc gia có nền kinh tế phát triển như: Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan..., bên cạnh việc hỗ trợ trực tiếp về tài chính, kỹ thuật, cơ chế hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) đang được vận hành hiệu quả, đặt trọng tâm vào các giải pháp phòng tránh rủi ro pháp lý trong kinh doanh, hỗ trợ cung cấp thông tin, nâng cao nhận thức, ý thức tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp, qua đó giúp doanh nghiệp tại các quốc gia này tránh những thua thiệt không đáng có, ngày càng khẳng định vị thế không chỉ tại thị trường nội địa mà ngày càng phát triển vững bền vững trên thị trường quốc tế.

Hiện nay, trên thế giới tồn tại song song các quan điểm khác nhau về hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp[2] như sau:

Quan điểm thứ nhất, quan điểm của một số quốc gia và vùng lãnh thổ (như: Đài Loan, Singapore, Úc…): Trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu và khu vực, các quốc gia đa số là thành viên của các tổ chức quốc tế, tham gia ký kết các điều ước quốc tế song phương hoặc đa phương, trong đó thể hiện rõ sự cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế là phù hợp với xu thế chung của nhân loại. Vì vậy, mọi hoạt động bao gồm hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp không thuộc trách nhiệm, nghĩa vụ quốc gia, vấn đề này thuộc nội tại của từng doanh nghiệp. Theo quan điểm này, doanh nghiệp phải tự tìm hiểu, trang bị kiến thức pháp luật hoặc khi có vấn đề pháp lý xảy ra trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, đầu tư của mình, doanh nghiệp chủ động tìm tới các văn phòng luật sư, công ty luật, nơi thực hiện các dịch vụ pháp lý chuyên nghiệp để ký hợp đồng dịch vụ pháp lý.

Quan điểm thứ hai, trái với quan điểm nêu trên, các quốc gia (như: Hàn Quốc, Nhật Bản, Mỹ, Thái Lan…) luôn coi doanh nghiệp là đối tượng phục vụ của Nhà nước, vì vậy, song song với những hỗ trợ về tài chính, kỹ thuật, khoa học công nghệ, khởi nghiệp doanh nghiệp..., Nhà nước, Chính phủ các nước này cho rằng, việc hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp là điều vô cùng quan trọng, nó ảnh hưởng đến chiến lược phát triển kinh tế, xã hội của đất nước qua từng giai đoạn, thời kỳ khác nhau. Việc hỗ trợ của Nhà nước được thực hiện dưới những hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp dưới nhiều hình thức khác nhau, tuy nhiên, nhóm đối tượng thụ hưởng chủ yếu là DNNVV.

Nhìn chung, các nước đã phát triển như: Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, các nước thuộc Liên minh châu Âu và các nước đang phát triển trong khu vực như: Malaixia, Thái Lan, Trung Quốc, Ấn Độ… đều coi trọng vai trò của khu vực DNNVV đối với sự phát triển của nền kinh tế và luôn có cách chính sách hỗ trợ gián tiếp cho DNNVV.

Nhìn nhận một cách tổng quan chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong những năm gần đây cho thấy, Đảng và Nhà nước xác định chuyển doanh nghiệp từ đối tượng quản lý sang đối tượng được Nhà nước phục vụ.

Trong lịch sử lập hiến của Việt Nam, lần đầu tiên vấn đề về nền kinh tế thị trường của Việt Nam đã được quy định chính thức trong Hiến pháp năm 2013[3] và đây cũng là lần đầu tiên Hiến pháp Việt Nam quy định về doanh nhân, quyền đầu tư, sản xuất, kinh doanh của doanh nhân, doanh nghiệp[4].

Ngày 20/9/2004, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 990/QĐ-TTg về Ngày Doanh nhân Việt Nam, hàng năm lấy ngày 13/10 là “Ngày Doanh nhân Việt Nam”, nhằm phát huy vai trò, truyền thống của đội ngũ doanh nhân Việt Nam. Ngày Doanh nhân Việt Nam mang ý nghĩa lịch sử sâu sắc, bởi vì, chính ngày này gần 75 năm về trước (13/10/1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho giới công thương Việt Nam ngay sau khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Thời gian qua, Chính phủ cũng đã ban hành một loạt các nghị quyết để hỗ trợ doanh nghiệp như: Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16/5/2016 về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020; Nghị quyết số 19-2017/NQ-CP ngày 06/02/2017 về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2017, định hướng đến năm 2020… Trên tinh thần đó, khi nghiên cứu về các cơ chế hỗ trợ của Nhà nước đối với doanh nghiệp hiện nay và học hỏi kinh nghiệm nước ngoài, tác giả cũng đồng tình với quan điểm thứ hai này, việc hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp không đồng nghĩa với việc làm thay toàn bộ mà chỉ góp phần tạo ra những cú hích, đòn bẩy để thay đổi nhận thức, ý thức tuân thủ pháp luật của các doanh nghiệp, nhất là DNNVV, doanh nghiệp khởi nghiệp.

Ngoài ra, theo thống kê của Bộ Nội vụ, hiện nay, Việt Nam có khoảng trên 300 hội có phạm vi hoạt động toàn quốc và hơn 2000 hội hoạt động trong phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, trong đó, theo nghiên cứu của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) thì số lượng tổ chức đại diện cho doanh nghiệp trên cả nước có khoảng trên 300 tổ chức[5], trong đó chủ yếu tập trung tại các trung tâm kinh tế lớn của cả nước như: TP. Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, TP. Đà Nẵng, TP. Hải Phòng. Chỉ riêng TP. Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh đã chiếm hơn 42% trên tổng số các tổ chức đại diện cho doanh nghiệp trên cả nước. Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay chỉ có hơn 30% tổ chức đại diện cho doanh nghiệp đang hoạt động tốt, số còn lại đang hoạt động cầm chừng và thực sự chưa phát huy hết vai trò của mình trong các hoạt động đại diện cho các doanh nghiệp thành viên, trong đó, theo báo cáo của các Hiệp hội doanh nghiệp cho thấy, vai trò hỗ trợ doanh nghiệp hội viên thông qua việc hỗ trợ pháp lý để bảo vệ quyền lợi hội viên là nhiệm vụ quan trọng, đáp ứng được nhu cầu của doanh nghiệp tham gia hội. Nhiều tổ chức đại diện cho doanh nghiệp đưa nhiệm vụ này là nhiệm vụ hàng đầu và trọng tâm hoạt động của tổ chức mình như Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam, Liên minh Hợp tác xã Việt Nam, Câu lạc bộ Pháp chế doanh nghiệp...[6].

2. Bài học cho Việt Nam

Thứ nhất, cần xác định đối tượng được Nhà nước hỗ trợ pháp lý một cách thật sự khoa học

Các quốc gia sử dụng các tiêu chí khác nhau để hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, theo quy định của Hàn Quốc, tiêu chí DNNVV là tiêu chí phổ biến và có căn cứ nhất để thực hiện công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, tuy nhiên, tiêu chí để xác định DNNVV ở các quốc gia khác nhau là khác nhau. Thực tế cho thấy, đến nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều đưa ra một định nghĩa hoặc tiêu chí thống nhất về DNNVV, song có điểm chung là tiêu chí để xác định DNNVV căn cứ vào doanh thu và số lao động, được chia thành 3 mức độ quy mô: Doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa trong 3 lĩnh vực của nền kinh tế như nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; công nghiệp và xây dựng; thương mại và dịch vụ.

Việc xác định tiêu chí doanh nghiệp nhằm xác định rõ đối tượng Nhà nước hỗ trợ pháp lý cho hiệu quả, đúng đối tượng, bảo đảm sự cạnh tranh bình đẳng, công bằng giữa các doanh nghiệp. Nghị định số 55/2019/NĐ-CP ngày 24/6/2019 của Chính phủ về hỗ trợ pháp lý cho DNNVV xác định đối tượng hỗ trợ pháp lý của Nhà nước là DNNVV và tổ chức, cá nhân kinh doanh. Vì thế, các công trình nghiên cứu trong nước cũng mới chỉ tập trung phân tích sự cần thiết hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, nhất là DNNVV là đối tượng cần được hỗ trợ hơn hết. Cách tiếp cận này mang tính cứng nhắc, thiếu chính xác, không đủ để phản ánh chính xác công tác hỗ trợ pháp lý và khả năng tác động đến nền kinh tế trong tương lai. Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 xác định rõ đối tượng được Nhà nước hỗ trợ là DNNVV. Việc nghiên cứu để phân tích, áp dụng các tiêu chí DNNVV để xác định đối tượng hỗ trợ pháp lý của Nhà nước cho thống nhất giữa các văn bản pháp luật hiện hành của Nhà nước.

Thứ hai, cần xác định đầy đủ, hợp lý nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp

Các nước thuộc Cộng đồng chung châu Âu xác định trách nhiệm thông tin pháp lý cho doanh nghiệp là trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức. Các văn bản pháp luật hiện hành của Việt Nam liệt kê các đối tượng thực hiện công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp. Những đối tượng được liệt kê như vậy là khác nhau giữa các hệ thống pháp luật, giữa các nền kinh tế nhưng nhìn chung là đều mang tính mô tả, minh họa cho suy đoán của các nhà làm luật dựa trên thực tiễn hoạt động nhưng không đủ khả năng bao quát hết những đối tượng thực hiện công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp trên thực tế. Việc liệt kê thường bị coi là sẽ dẫn tới khả năng bỏ sót đối tượng có cùng bản chất và các hành động được liệt kê. Một số nghiên cứu đã cố gắng dựa trên các hành động nhằm xây dựng khái niệm đối tượng làm công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp có thể bao quát được tất cả. Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017, Nghị định số 55/2019/NĐ-CP (kể cả Nghị định số 66/2008/NĐ-CP ngày 28/5/2008 của Chính phủ về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp trước đây), Chương trình Hỗ trợ pháp lý liên ngành dành cho doanh nghiệp và các chương trình hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp ở các bộ, ngành, địa phương cũng lựa chọn cách liệt kê và mô tả các đối tượng thực hiện công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp thay vì xây dựng một khái niệm mang tính bao quát và xác định thẩm quyền của các cơ quan có liên quan trong việc hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp.

Thứ ba, cần quan tâm nghiên cứu về kinh phí dành cho công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp

Như trên đã phân tích và chỉ ra, pháp luật Việt Nam xây dựng các đối tượng thực hiện công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp theo hướng liệt kê và mô tả hành vi, chưa xác định rõ thẩm quyền của các cơ quan này, do đó, việc nhận diện đối tượng và thẩm quyền thực hiện hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp mang tính hình thức. Vấn đề phân tích để xây dựng các đặc điểm nhận dạng phản ánh được bản chất của hành vi hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp là hết sức cần thiết, nó quyết định đến vấn đề quan trọng nữa là kinh phí dành cho công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp được lấy từ nguồn nhà nước là chủ yếu hay huy động từ các nguồn khác ngoài nhà nước; vai trò của kinh phí trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp như thế nào. Các công trình nước ngoài như: Nhật Bản, Hàn Quốc… dành nhiều sự quan tâm thích đáng cho việc nghiên cứu kinh phí dành cho công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp.

Thứ tư, cần nghiên cứu các hình thức hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp phù hợp với thực tiễn Việt Nam

Kinh nghiệm nước ngoài cho thấy, các hình thức hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp mặc dù rất đa dạng nhưng đều hướng tới mục tiêu là triển khai đồng bộ các hoạt động hỗ trợ pháp lý cho DNNVV, tạo chuyển biến căn bản về nhận thức pháp lý, ý thức pháp luật và thói quen tuân thủ pháp luật của DNNVV; tạo lập các điều kiện cần thiết phục vụ hoạt động thực thi pháp luật để giúp DNNVV kinh doanh có hiệu quả; phòng chống rủi ro pháp lý và tăng cường năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp; góp phần nâng cao công tác quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với doanh nghiệp. Do đó, có thể xếp các hình thức hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp thành 2 nhóm cơ bản căn cứ vào hình thức hỗ trợ, đó là nhóm hình thức hỗ trợ trực tiếp và nhóm hình thức hỗ trợ gián tiếp. Việc phân biệt các hình thức hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp như trên là hết sức cần thiết do chúng có đối tượng hỗ trợ khác nhau và kết quả tiếp nhận được khác nhau nên có các hình thức hỗ trợ pháp lý khác nhau.

Thứ năm, cần nghiên cứu một cách đầy đủ các bước trong việc thực hiện công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp; chú trọng đến công tác đánh giá kết quả và tổng kết công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp

Kinh nghiệm nước ngoài cho thấy, việc xác định hành vi hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp ở các hệ thống pháp luật khác nhau nhưng đều có cách tiếp cận khá giống nhau, theo đó, việc thực hiện các bước trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp phải thực hiện từ việc nghiên cứu nhu cầu cần hỗ trợ pháp lý của doanh nghiệp; đối tượng doanh nghiệp cần hỗ trợ pháp lý; thực hiện công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp; thanh tra, kiểm tra; đánh giá kết quả công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp và việc tiếp nhận các phản hồi của doanh nghiệp về các chính sách, pháp luật để hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh doanh cho doanh nghiệp tại Việt Nam.

Việc nghiên cứu kinh nghiệm hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp của các nước và áp dụng cho Việt Nam phải dựa trên các nguyên tắc như các biện pháp hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp được áp dụng cho mọi loại hình chủ thể kinh doanh, không phân biệt hình thức sở hữu, quy mô kinh doanh và lĩnh vực hoạt động nhưng phải lấy DNNVV làm đối tượng chủ yếu; các biện pháp hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp cần bảo đảm nguyên tắc Nhà nước không làm thay công việc của doanh nghiệp, mặt khác cũng phải bảo đảm việc hỗ trợ của Nhà nước không làm hạn chế sự phát triển của thị trường dịch vụ tư vấn pháp lý nói chung và thị trường dịch vụ tư vấn pháp lý cho doanh nghiệp nói riêng; nội dung của các biện pháp hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp được quy định trên cơ sở có tính đến điều kiện kinh tế, xã hội cụ thể của từng ngành, từng địa phương trong từng thời kỳ, bảo đảm sự hài hòa giữa trách nhiệm hỗ trợ với nguồn lực thực tế về tài chính, nhân sự của các cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương và địa phương; tăng cường đầu tư, đổi mới các hình thức, phương thức hỗ trợ pháp lý theo hướng xã hội hóa, huy động sức mạnh của các tổ chức xã hội, đoàn thể, các tổ chức đại diện cho doanh nghiệp và công tác hỗ trợ pháp lý.

Cao Trang Thu

Công ty Cổ phần tư vấn chính sách Hà Nội - Berlin







[1]. Nguồn: Báo cáo của Chương trình hỗ trợ kỹ thuật của EC cho Việt Nam (ETV2) tại Hội thảo: “Kinh nghiệm một số nước về trợ giúp pháp luật cho doanh nghiệp và nghiên cứu vận dụng tại Bộ Tài chính” ngày 15/11/2007.

[2]. Công văn 145/BTP-PLDSKT ngày 16/02/2013 của Bộ Tư pháp về kết quả khảo sát kinh nghiệm nước ngoài về công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp và ý kiến của GS. Steve Van Houten (Quốc tịch Canada), cố vấn cao cấp Ngân hàng phát triển châu Á - ADB (hỗ trợ kỹ thuật, tư vấn cho Bộ Tư pháp Việt Nam kinh nghiệm nhằm nâng cao hiệu quả công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp tại Việt Nam).

[3]. Khoản 1 Điều 51 Hiến pháp năm 2013 tuyên bố: “Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế; kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo”.

[4]. Khoản 3 Điều 51 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện để doanh nhân, doanh nghiệp và cá nhân, tổ chức khác đầu tư, sản xuất, kinh doanh…”.

[5]. Báo cáo của Bộ Nội vụ về công tác hội năm 2016.

[6]. Sau khi có Nghị định số 66/2008/NĐ-CP nhiều tổ chức đại diện cho doanh nghiệp đã thành lập hoặc nâng cấp các đơn vị trực thuộc chuyên triển khai công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp hội viên. Ví dụ: Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam có Trung tâm Hỗ trợ pháp luật và phát triển nguồn nhân lực; Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam có Ban Pháp chế; Liên minh Hợp tác xã Việt Nam có Trung tâm tư vấn pháp luật; Câu lạc bộ pháp chế doanh nghiệp có Trung tâm tư vấn pháp luật và bồi dưỡng nghiệp vụ…

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: