Chủ nhật 15/03/2026 18:30
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Ký kết hợp đồng lao động với lao động giúp việc gia đình

Tóm tắt: Lao động giúp việc gia đình là một nhu cầu khách quan trong đời sống xã hội, tuy nhiên chưa được quan tâm thỏa đáng về nhiều phương diện. Hợp đồng lao động với lao động giúp việc gia đình là hình thức pháp lý để điều chỉnh mối quan hệ này, tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế chưa đạt hiệu quả như mong muốn. Bài viết đánh giá thực trạng quy định và thực hiện pháp luật về ký kết hợp đồng lao động với lao động giúp việc gia đình ở nước ta hiện nay.

Abstract: Using domestic workers remains objective and necessary in the society but not yet receiving a sufficient consideration in many aspects. The employment contract with domestic workers is the legal basis to establish such working relation. There are, however, still many drawbacks in its effectiveness. This article assesses the current legislation and implementation of the law on signing employment contract with domestic workers in Vietnam for the time being.

Lao động giúp việc gia đình là một công việc xuất hiện rất sớm, có đóng góp đáng kể trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở nhiều nước trên thế giới và được ghi nhận trong pháp luật nhiều quốc gia, nhưng tại một số nước, nghề này không được đề cập trong pháp luật hoặc có nhưng còn rất lỏng lẻo. Ở Việt Nam, khi nền kinh tế ngày càng phát triển, thì nhu cầu về lao động giúp việc gia đình lại càng lớn, đặc biệt là những khu đô thị lớn và những vùng kinh tế phát triển. Hoạt động giúp việc gia đình đã phần nào đáp ứng được nhu cầu của những gia đình sử dụng lao động và những gia đình có người đi giúp việc. Các hoạt động giúp việc gia đình cũng góp phần giải quyết tình trạng thiếu việc làm ở một bộ phận dân cư, trong đó có nhiều phụ nữ nông thôn.

Bộ luật Lao động năm 1994 ra đời đã có quy định về “lao động giúp việc gia đình” tại Điều 28, Điều 139, nhưng còn khá hạn chế, chung chung và chưa có hướng dẫn cụ thể. Đến khi Bộ luật Lao động năm 2012 được ban hành, lần đầu tiên lao động giúp việc gia đình được công nhận như một nghề chính thức. Cụ thể, lao động giúp việc gia đình đã được dành riêng một mục (Mục 5 gồm 5 điều, từ Điều 179 đến Điều 183 thuộc Chương XI), được hướng dẫn thực hiện tại Nghị định số 27/2014/NĐ-CP ngày 07/4/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về lao động là người giúp việc gia đình và Thông tư số 19/2014/TT-BLĐTBXH ngày 15/8/2014 của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 27/2014/NĐ-CP.

Theo quy định của pháp luật, hình thức pháp lý của quan hệ lao động giúp việc gia đình cũng là hợp đồng lao động, nhưng bên cạnh việc tuân thủ những quy định chung về hợp đồng lao động, thì hợp đồng lao động với người giúp việc gia đình có những đặc điểm riêng.

Một là, về chủ thể ký kết hợp đồng lao động:

Về phía người lao động giúp việc gia đình, theo quy định của pháp luật lao động Việt Nam, lao động giúp việc gia đình là người lao động làm thường xuyên các công việc trong gia đình của một hoặc nhiều hộ gia đình. Các công việc gia đình bao gồm công việc nội trợ, quản gia, chăm sóc trẻ, chăm sóc người bệnh, chăm sóc người già, lái xe, làm vườn và các công việc khác cho hộ gia đình nhưng không liên quan đến hoạt động thương mại (Điều 179 Bộ luật Lao động năm 2012). Người ký kết hợp đồng lao động bên phía người lao động là người phải thuộc một trong số các trường hợp sau đây: (i) Người lao động từ đủ 18 tuổi trở lên; (ii) Người lao động từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 và có văn bản đồng ý của người đại diện theo pháp luật của người lao động (Điều 4 Nghị định số 27/2014/NĐ-CP). Người đại diện theo pháp luật của người lao động là cha đẻ hoặc mẹ đẻ, cha nuôi hoặc mẹ nuôi hoặc người giám hộ hợp pháp của người đó (khoản 2 Điều 3 Thông tư số 19/2014/TT-BLĐTBXH).

Theo số liệu khảo sát tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh, người lao động cho các gia đình hiện nay có độ tuổi từ 15 đến 70 tuổi, 90% là nữ giới, nam giới không đảm nhận công việc chăm sóc và làm việc nhà, mà chỉ giúp việc chăm sóc người ốm tại bệnh viện và việc kinh doanh cho hộ gia đình. Nhóm dưới 18 tuổi chiếm tỷ lệ (3%), nhóm 18 - 35 chiếm 29,2%, nhóm 36 - 55 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất là 56,2%, nhóm trên 56 tuổi là 11,7%. Về độ tuổi, phần lớn người lao động giúp việc bắt đầu làm việc này ở độ tuổi lao động (từ 18 - 55 đối với nữ). Tuy nhiên, có 17,3% người bắt đầu công việc giúp việc gia đình từ dưới 18 tuổi (độ tuổi thấp nhất là 8 tuổi) và 3% người bắt đầu công việc từ 56 tuổi trở lên (độ tuổi cao nhất là 60 tuổi)[1]. Như vậy, có thể thấy, vẫn còn một tỷ lệ nhỏ trẻ em tham gia công việc giúp việc gia đình có độ tuổi dưới 18 tuổi và một tỷ lệ người ngoài độ tuổi lao động đang tiếp tục làm công việc này.

Về người sử dụng lao động giúp việc gia đình, theo quy định tại Điều 4 Nghị định số 27/2014/NĐ-CP và khoản 1 Điều 3 Thông tư số 19/2014/TT-BLĐTBXH, người sử dụng lao động giúp việc gia đình là người thuộc một trong số các trường hợp sau đây: (i) Chủ hộ là người đại diện của hộ gia đình có thuê mướn, sử dụng lao động là người giúp việc gia đình theo quy định của pháp luật; (ii) Người được chủ hộ hoặc các chủ hộ vùng thuê mướn, sử dụng lao động là người giúp việc gia đình ủy quyền bằng văn bản; (iii) Người được các thành viên trong hộ gia đình hoặc được các thành viên của các hộ gia đình cùng thuê mướn, sử dụng lao động là người giúp việc gia đình ủy quyền bằng văn bản.

Trên thực tế, việc giao kết hợp đồng thường được diễn ra giữa người lao động với một cá nhân trong hộ gia đình. Theo điều tra, trong số những trường hợp hợp đồng lao động giúp việc gia đình ký bằng văn bản, đa số người trực tiếp ký kết là nữ giới (61,5%). Đa phần những gia đình sử dụng lao động giúp việc gia đình đều có mức sống từ trung bình trở lên. Theo khảo sát có 53,7% hộ gia đình thuê lao động giúp việc gia đình sống cùng có mức sống trung bình, 38% là mức sống khá hơn trung bình, 7,3 % có mức sống giàu có[2].

Hai là, về hình thức pháp lý:

Theo quy định của pháp luật, người sử dụng lao động phải ký kết hợp đồng lao động bằng văn bản với người giúp việc gia đình (khoản 1 Điều 180 Bộ luật Lao động năm 2012). Tuy nhiên, theo thống kê thu thập thông tin từ người lao động giúp việc, thì chỉ có 42,7% là có hợp đồng lao động bằng văn bản. Lý do không có hợp đồng lao động ngoại trừ những người lựa chọn lý do khác, có 57,9% người lao động cho biết cả bản thân và chủ nhà thấy việc ký hợp đồng lao động là không cần thiết, 39,5% người lao động cho biết bản thân họ không thấy cần thiết, chỉ có 2,6% người lựa chọn lý do chủ nhà thấy không cần thiết. Đối với những trường hợp có hợp đồng, đa số chỉ là thỏa thuận với chủ nhà bằng hợp đồng miệng (69,8%). Số lao động có hợp đồng bằng văn bản chiếm 30,2%. Theo thống kê thu thập thông tin từ phía đại diện hộ gia đình cũng cho thấy 60% gia đình có ký hợp đồng lao động với người giúp việc. Tuy nhiên, trong số gia đình có hợp đồng với người lao động thì có 72% gia đình chỉ ký hợp đồng bằng lời nói. Có 27,3% gia đình ký hợp đồng bằng văn bản. Về nguyên nhân không ký kết hợp đồng lao động, có 42% gia đình lựa chọn phương án cả bản thân và người giúp việc đều không thấy cần thiết. Còn lại 16% gia đình cho rằng việc không ký hợp đồng là do bản thân người lao động thấy không cần thiết[3].

Ba là, về nội dung hợp đồng lao động:

Về thực trạng tiền lương của người lao động giúp việc gia đình: Theo số liệu thống kê năm 2012, mức thu nhập bình quân tháng của người lao động hoạt động làm thuê của các công việc trong hộ gia đình năm 2012 là 2.800.000 đồng. Theo một khảo sát của Trung tâm Nghiên cứu giới, gia đình và phát triển cộng đồng (GFCD) được nghiên cứu thực hiện từ 12/2013 - 7/2014 ở 05 tỉnh, thành phố gồm: Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Khánh Hòa, Hồ Chí Minh với khoảng 500 người lao động, 500 đại diện hộ sử dụng lao động, 97 đại diện hộ có người lao động và 20 cán bộ quản lý cấp xã, phường... cho thấy, người giúp việc có thu nhập bình quân khoảng 3.000.000 đồng/tháng, còn đối với người lao động giúp việc không sống cùng có thấp hơn 2.933.000 đồng/tháng. Những người đã qua đào tạo có mức lương cao hơn người chưa qua đào tạo gần 300.000 đồng/tháng. Mức thu nhập này bao gồm tiền công và một số khoản chi phí khác như đi lại, tiền điện thoại. Người giúp việc gia đình ở Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh có thu nhập cao hơn 03 tỉnh còn lại. Thu nhập của người giúp việc cao hơn 02 lần so với lao động làm nông nghiệp tại địa phương với mức bình quân là 1.340.000 triệu đồng/tháng. Điều này phù hợp với kết quả nghiên cứu khi có đến 57% người được phỏng vấn cho biết, họ chọn công việc giúp việc gia đình vì có thu nhập cao hơn hẳn so với công việc từng làm trước đó.

Về điều kiện làm việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, theo quy định của Bộ luật Lao động năm 2012 (khoản 4 Điều 181), người sử dụng lao động phải bố trí chỗ ăn, ở, hợp vệ sinh cho người giúp việc gia đình nếu có thỏa thuận. Với những người lao động giúp việc sống cùng chủ nhà, họ làm việc và nghỉ ngơi, sinh hoạt ngay tại đó, chi phí ăn, ở của người lao động do người sử dụng lao động đài thọ hoặc trừ vào tiền công. Về vấn đề đảm bảo sức khỏe cho người lao động, người sử dụng lao động phải bố trí để người lao động khám sức khỏe định kỳ ít nhất một năm một lần (Điều 19 Thông tư số 19/2017/TT-BLĐTBXH). Trường hợp cần thiết, người sử dụng lao động yêu cầu người lao động thực hiện khám sức khỏe tại cơ sở y tế và chi phí khám sức khỏe sẽ do người sử dụng lao động chi trả. Hầu hết người lao động giúp việc xuất thân từ nông thôn, tìm đến các thành phố, đô thị tìm việc làm, do đó, họ ít hoặc không có người nhà, bà con thân thích tại thành phố. Lúc ốm đau, bệnh tật hay tai nạn, họ không thể nương nhờ vào người thân mà phải tự mình vượt qua. Những lúc đó, người sử dụng lao động có trách nhiệm chăm sóc, giúp đỡ người lao động để họ sớm hồi phục sức khỏe có thể tiếp tục làm việc.

Ngoài các nghĩa vụ phải thực hiện, người sử dụng lao động không được ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động, dùng vũ lực đối với lao động là người giúp việc gia đình; giao việc cho người giúp việc gia đình không theo hợp đồng lao động; giữ giấy tờ tùy thân của người lao động (Điều 181 Bộ luật Lao động năm 2012).

Về trách nhiệm bồi thường, Thông tư số 19/2014/TT-BLĐTBXH có quy định về trách nhiệm bồi thường của người lao động trong hợp đồng lao động rất chi tiết. Theo đó, trường hợp người lao động do sơ suất gây thiệt hại cho người sử dụng lao động với giá trị không quá 10 tháng lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định áp dụng đối với địa bàn nơi người lao động làm việc, thì người lao động phải bồi thường nhiều nhất là 03 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động bằng hình thức khấu trừ tiền lương hàng tháng. Mức khấu trừ do hai bên thỏa thuận nhưng không quá 30% mức tiền lương hàng tháng đối với người lao động không sống tại gia đình người sử dụng lao động; không quá 60% mức tiền lương còn lại sau khi trừ chi phí ăn, ở hàng tháng của người lao động (nếu có) đối với người lao động sống tại gia đình người sử dụng lao động. Trường hợp, người lao động không phải do sơ suất hoặc gây thiệt hại với giá trị trên 10 tháng lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định áp dụng đối với địa bàn nơi người lao động làm việc thì người sử dụng lao động căn cứ vào lỗi, mức độ thiệt hại thực tế, hoàn cảnh thực tế gia đình, nhân thân và tài sản của người lao động để xem xét, quyết định mức bồi thường, thời hạn bồi thường và phương thức bồi thường thiệt hại. Trường hợp người lao động không đồng ý với quyết định của người sử dụng lao động thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết. Trường hợp thiệt hại do thiên tai, hỏa hoạn, địch họa, dịch bệnh hoặc nguyên nhân khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được dù người lao động đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép thì không phải bồi thường.

ThS. Lữ Bỉnh Huy

Tài liệu tham khảo:

[1]. MOLISA và ILO (2012), Việc làm bền vững đối với lao động giúp việc gia đình ở Việt Nam. Nxb. Lao động - Xã hội, Hà Nội, tr.45.

[2]. MOLISA và ILO (2012), Việc làm bền vững đối với lao động giúp việc gia đình ở Việt Nam. Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội, tr.51.

[3]. TS. Ngô Thị Ngọc Anh, (Chủ nhiệm), Hà Việt Hùng, TS. Trần Thị Minh Ngọc, TS. Lê Văn Toàn, ThS. và những người khác (2009), Một số loại hình giúp việc gia đình ở Hà Nội hiện nay và các giải pháp quản lý; Nxb. Lao động - Xã hội, Hà Nội, tr. 10.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: