Chủ nhật 28/06/2026 01:01
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Ký kết hợp đồng lao động với lao động giúp việc gia đình

Tóm tắt: Lao động giúp việc gia đình là một nhu cầu khách quan trong đời sống xã hội, tuy nhiên chưa được quan tâm thỏa đáng về nhiều phương diện. Hợp đồng lao động với lao động giúp việc gia đình là hình thức pháp lý để điều chỉnh mối quan hệ này, tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế chưa đạt hiệu quả như mong muốn. Bài viết đánh giá thực trạng quy định và thực hiện pháp luật về ký kết hợp đồng lao động với lao động giúp việc gia đình ở nước ta hiện nay.

Abstract: Using domestic workers remains objective and necessary in the society but not yet receiving a sufficient consideration in many aspects. The employment contract with domestic workers is the legal basis to establish such working relation. There are, however, still many drawbacks in its effectiveness. This article assesses the current legislation and implementation of the law on signing employment contract with domestic workers in Vietnam for the time being.

Lao động giúp việc gia đình là một công việc xuất hiện rất sớm, có đóng góp đáng kể trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở nhiều nước trên thế giới và được ghi nhận trong pháp luật nhiều quốc gia, nhưng tại một số nước, nghề này không được đề cập trong pháp luật hoặc có nhưng còn rất lỏng lẻo. Ở Việt Nam, khi nền kinh tế ngày càng phát triển, thì nhu cầu về lao động giúp việc gia đình lại càng lớn, đặc biệt là những khu đô thị lớn và những vùng kinh tế phát triển. Hoạt động giúp việc gia đình đã phần nào đáp ứng được nhu cầu của những gia đình sử dụng lao động và những gia đình có người đi giúp việc. Các hoạt động giúp việc gia đình cũng góp phần giải quyết tình trạng thiếu việc làm ở một bộ phận dân cư, trong đó có nhiều phụ nữ nông thôn.

Bộ luật Lao động năm 1994 ra đời đã có quy định về “lao động giúp việc gia đình” tại Điều 28, Điều 139, nhưng còn khá hạn chế, chung chung và chưa có hướng dẫn cụ thể. Đến khi Bộ luật Lao động năm 2012 được ban hành, lần đầu tiên lao động giúp việc gia đình được công nhận như một nghề chính thức. Cụ thể, lao động giúp việc gia đình đã được dành riêng một mục (Mục 5 gồm 5 điều, từ Điều 179 đến Điều 183 thuộc Chương XI), được hướng dẫn thực hiện tại Nghị định số 27/2014/NĐ-CP ngày 07/4/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về lao động là người giúp việc gia đình và Thông tư số 19/2014/TT-BLĐTBXH ngày 15/8/2014 của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 27/2014/NĐ-CP.

Theo quy định của pháp luật, hình thức pháp lý của quan hệ lao động giúp việc gia đình cũng là hợp đồng lao động, nhưng bên cạnh việc tuân thủ những quy định chung về hợp đồng lao động, thì hợp đồng lao động với người giúp việc gia đình có những đặc điểm riêng.

Một là, về chủ thể ký kết hợp đồng lao động:

Về phía người lao động giúp việc gia đình, theo quy định của pháp luật lao động Việt Nam, lao động giúp việc gia đình là người lao động làm thường xuyên các công việc trong gia đình của một hoặc nhiều hộ gia đình. Các công việc gia đình bao gồm công việc nội trợ, quản gia, chăm sóc trẻ, chăm sóc người bệnh, chăm sóc người già, lái xe, làm vườn và các công việc khác cho hộ gia đình nhưng không liên quan đến hoạt động thương mại (Điều 179 Bộ luật Lao động năm 2012). Người ký kết hợp đồng lao động bên phía người lao động là người phải thuộc một trong số các trường hợp sau đây: (i) Người lao động từ đủ 18 tuổi trở lên; (ii) Người lao động từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 và có văn bản đồng ý của người đại diện theo pháp luật của người lao động (Điều 4 Nghị định số 27/2014/NĐ-CP). Người đại diện theo pháp luật của người lao động là cha đẻ hoặc mẹ đẻ, cha nuôi hoặc mẹ nuôi hoặc người giám hộ hợp pháp của người đó (khoản 2 Điều 3 Thông tư số 19/2014/TT-BLĐTBXH).

Theo số liệu khảo sát tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh, người lao động cho các gia đình hiện nay có độ tuổi từ 15 đến 70 tuổi, 90% là nữ giới, nam giới không đảm nhận công việc chăm sóc và làm việc nhà, mà chỉ giúp việc chăm sóc người ốm tại bệnh viện và việc kinh doanh cho hộ gia đình. Nhóm dưới 18 tuổi chiếm tỷ lệ (3%), nhóm 18 - 35 chiếm 29,2%, nhóm 36 - 55 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất là 56,2%, nhóm trên 56 tuổi là 11,7%. Về độ tuổi, phần lớn người lao động giúp việc bắt đầu làm việc này ở độ tuổi lao động (từ 18 - 55 đối với nữ). Tuy nhiên, có 17,3% người bắt đầu công việc giúp việc gia đình từ dưới 18 tuổi (độ tuổi thấp nhất là 8 tuổi) và 3% người bắt đầu công việc từ 56 tuổi trở lên (độ tuổi cao nhất là 60 tuổi)[1]. Như vậy, có thể thấy, vẫn còn một tỷ lệ nhỏ trẻ em tham gia công việc giúp việc gia đình có độ tuổi dưới 18 tuổi và một tỷ lệ người ngoài độ tuổi lao động đang tiếp tục làm công việc này.

Về người sử dụng lao động giúp việc gia đình, theo quy định tại Điều 4 Nghị định số 27/2014/NĐ-CP và khoản 1 Điều 3 Thông tư số 19/2014/TT-BLĐTBXH, người sử dụng lao động giúp việc gia đình là người thuộc một trong số các trường hợp sau đây: (i) Chủ hộ là người đại diện của hộ gia đình có thuê mướn, sử dụng lao động là người giúp việc gia đình theo quy định của pháp luật; (ii) Người được chủ hộ hoặc các chủ hộ vùng thuê mướn, sử dụng lao động là người giúp việc gia đình ủy quyền bằng văn bản; (iii) Người được các thành viên trong hộ gia đình hoặc được các thành viên của các hộ gia đình cùng thuê mướn, sử dụng lao động là người giúp việc gia đình ủy quyền bằng văn bản.

Trên thực tế, việc giao kết hợp đồng thường được diễn ra giữa người lao động với một cá nhân trong hộ gia đình. Theo điều tra, trong số những trường hợp hợp đồng lao động giúp việc gia đình ký bằng văn bản, đa số người trực tiếp ký kết là nữ giới (61,5%). Đa phần những gia đình sử dụng lao động giúp việc gia đình đều có mức sống từ trung bình trở lên. Theo khảo sát có 53,7% hộ gia đình thuê lao động giúp việc gia đình sống cùng có mức sống trung bình, 38% là mức sống khá hơn trung bình, 7,3 % có mức sống giàu có[2].

Hai là, về hình thức pháp lý:

Theo quy định của pháp luật, người sử dụng lao động phải ký kết hợp đồng lao động bằng văn bản với người giúp việc gia đình (khoản 1 Điều 180 Bộ luật Lao động năm 2012). Tuy nhiên, theo thống kê thu thập thông tin từ người lao động giúp việc, thì chỉ có 42,7% là có hợp đồng lao động bằng văn bản. Lý do không có hợp đồng lao động ngoại trừ những người lựa chọn lý do khác, có 57,9% người lao động cho biết cả bản thân và chủ nhà thấy việc ký hợp đồng lao động là không cần thiết, 39,5% người lao động cho biết bản thân họ không thấy cần thiết, chỉ có 2,6% người lựa chọn lý do chủ nhà thấy không cần thiết. Đối với những trường hợp có hợp đồng, đa số chỉ là thỏa thuận với chủ nhà bằng hợp đồng miệng (69,8%). Số lao động có hợp đồng bằng văn bản chiếm 30,2%. Theo thống kê thu thập thông tin từ phía đại diện hộ gia đình cũng cho thấy 60% gia đình có ký hợp đồng lao động với người giúp việc. Tuy nhiên, trong số gia đình có hợp đồng với người lao động thì có 72% gia đình chỉ ký hợp đồng bằng lời nói. Có 27,3% gia đình ký hợp đồng bằng văn bản. Về nguyên nhân không ký kết hợp đồng lao động, có 42% gia đình lựa chọn phương án cả bản thân và người giúp việc đều không thấy cần thiết. Còn lại 16% gia đình cho rằng việc không ký hợp đồng là do bản thân người lao động thấy không cần thiết[3].

Ba là, về nội dung hợp đồng lao động:

Về thực trạng tiền lương của người lao động giúp việc gia đình: Theo số liệu thống kê năm 2012, mức thu nhập bình quân tháng của người lao động hoạt động làm thuê của các công việc trong hộ gia đình năm 2012 là 2.800.000 đồng. Theo một khảo sát của Trung tâm Nghiên cứu giới, gia đình và phát triển cộng đồng (GFCD) được nghiên cứu thực hiện từ 12/2013 - 7/2014 ở 05 tỉnh, thành phố gồm: Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Khánh Hòa, Hồ Chí Minh với khoảng 500 người lao động, 500 đại diện hộ sử dụng lao động, 97 đại diện hộ có người lao động và 20 cán bộ quản lý cấp xã, phường... cho thấy, người giúp việc có thu nhập bình quân khoảng 3.000.000 đồng/tháng, còn đối với người lao động giúp việc không sống cùng có thấp hơn 2.933.000 đồng/tháng. Những người đã qua đào tạo có mức lương cao hơn người chưa qua đào tạo gần 300.000 đồng/tháng. Mức thu nhập này bao gồm tiền công và một số khoản chi phí khác như đi lại, tiền điện thoại. Người giúp việc gia đình ở Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh có thu nhập cao hơn 03 tỉnh còn lại. Thu nhập của người giúp việc cao hơn 02 lần so với lao động làm nông nghiệp tại địa phương với mức bình quân là 1.340.000 triệu đồng/tháng. Điều này phù hợp với kết quả nghiên cứu khi có đến 57% người được phỏng vấn cho biết, họ chọn công việc giúp việc gia đình vì có thu nhập cao hơn hẳn so với công việc từng làm trước đó.

Về điều kiện làm việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, theo quy định của Bộ luật Lao động năm 2012 (khoản 4 Điều 181), người sử dụng lao động phải bố trí chỗ ăn, ở, hợp vệ sinh cho người giúp việc gia đình nếu có thỏa thuận. Với những người lao động giúp việc sống cùng chủ nhà, họ làm việc và nghỉ ngơi, sinh hoạt ngay tại đó, chi phí ăn, ở của người lao động do người sử dụng lao động đài thọ hoặc trừ vào tiền công. Về vấn đề đảm bảo sức khỏe cho người lao động, người sử dụng lao động phải bố trí để người lao động khám sức khỏe định kỳ ít nhất một năm một lần (Điều 19 Thông tư số 19/2017/TT-BLĐTBXH). Trường hợp cần thiết, người sử dụng lao động yêu cầu người lao động thực hiện khám sức khỏe tại cơ sở y tế và chi phí khám sức khỏe sẽ do người sử dụng lao động chi trả. Hầu hết người lao động giúp việc xuất thân từ nông thôn, tìm đến các thành phố, đô thị tìm việc làm, do đó, họ ít hoặc không có người nhà, bà con thân thích tại thành phố. Lúc ốm đau, bệnh tật hay tai nạn, họ không thể nương nhờ vào người thân mà phải tự mình vượt qua. Những lúc đó, người sử dụng lao động có trách nhiệm chăm sóc, giúp đỡ người lao động để họ sớm hồi phục sức khỏe có thể tiếp tục làm việc.

Ngoài các nghĩa vụ phải thực hiện, người sử dụng lao động không được ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động, dùng vũ lực đối với lao động là người giúp việc gia đình; giao việc cho người giúp việc gia đình không theo hợp đồng lao động; giữ giấy tờ tùy thân của người lao động (Điều 181 Bộ luật Lao động năm 2012).

Về trách nhiệm bồi thường, Thông tư số 19/2014/TT-BLĐTBXH có quy định về trách nhiệm bồi thường của người lao động trong hợp đồng lao động rất chi tiết. Theo đó, trường hợp người lao động do sơ suất gây thiệt hại cho người sử dụng lao động với giá trị không quá 10 tháng lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định áp dụng đối với địa bàn nơi người lao động làm việc, thì người lao động phải bồi thường nhiều nhất là 03 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động bằng hình thức khấu trừ tiền lương hàng tháng. Mức khấu trừ do hai bên thỏa thuận nhưng không quá 30% mức tiền lương hàng tháng đối với người lao động không sống tại gia đình người sử dụng lao động; không quá 60% mức tiền lương còn lại sau khi trừ chi phí ăn, ở hàng tháng của người lao động (nếu có) đối với người lao động sống tại gia đình người sử dụng lao động. Trường hợp, người lao động không phải do sơ suất hoặc gây thiệt hại với giá trị trên 10 tháng lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định áp dụng đối với địa bàn nơi người lao động làm việc thì người sử dụng lao động căn cứ vào lỗi, mức độ thiệt hại thực tế, hoàn cảnh thực tế gia đình, nhân thân và tài sản của người lao động để xem xét, quyết định mức bồi thường, thời hạn bồi thường và phương thức bồi thường thiệt hại. Trường hợp người lao động không đồng ý với quyết định của người sử dụng lao động thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết. Trường hợp thiệt hại do thiên tai, hỏa hoạn, địch họa, dịch bệnh hoặc nguyên nhân khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được dù người lao động đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép thì không phải bồi thường.

ThS. Lữ Bỉnh Huy

Tài liệu tham khảo:

[1]. MOLISA và ILO (2012), Việc làm bền vững đối với lao động giúp việc gia đình ở Việt Nam. Nxb. Lao động - Xã hội, Hà Nội, tr.45.

[2]. MOLISA và ILO (2012), Việc làm bền vững đối với lao động giúp việc gia đình ở Việt Nam. Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội, tr.51.

[3]. TS. Ngô Thị Ngọc Anh, (Chủ nhiệm), Hà Việt Hùng, TS. Trần Thị Minh Ngọc, TS. Lê Văn Toàn, ThS. và những người khác (2009), Một số loại hình giúp việc gia đình ở Hà Nội hiện nay và các giải pháp quản lý; Nxb. Lao động - Xã hội, Hà Nội, tr. 10.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Để bảo đảm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng được triển khai kịp thời, thống nhất và hiệu quả trên phạm vi cả nước, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu đã ký Quyết định số 925/QĐ-TTg ngày 25/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.
Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 1111/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch tổ chức "Ngày Văn hóa Việt Nam" giai đoạn 2026 - 2030 (Kế hoạch), đánh dấu bước triển khai quan trọng Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 130/2025/QH15 (Luật năm 2025) được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10 (ngày 10/12/2025), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 gồm 11 Chương và 107 Điều quy định về hoạt động hàng không dân dụng, bao gồm các quy định về tàu bay, cảng hàng không, nhân viên hàng không, hoạt động bay, vận tải hàng không thương mại, hàng không chuyên dùng, hàng không chung, an toàn hàng không, an ninh hàng không, trách nhiệm dân sự và các hoạt động khác có liên quan đến hàng không dân dụng.
Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Quy định mới tại Nghị quyết số 254/2025/QH15 và Nghị định số 49/2026/NĐ-CP với cơ chế đồng thuận trên 75% được kỳ vọng khơi thông hàng nghìn dự án, sẽ tháo gỡ một trong những vướng mắc lớn nhất trong quá trình triển khai các dự án có sử dụng đất.
Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Ngày 10/12/2025, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 chính thức thông qua Luật số 132/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026).
Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 thay thế Pháp lệnh Dân số số 06/2004/PL-UBTVQH11 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Pháp lệnh số 07/2025/UBTVQH15). Một trong những thay đổi căn bản của Luật Dân số năm 2025 là chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển. Những nội dung liên quan đến dân số và phát triển đã được thể hiện trong việc hướng tới giải quyết đồng bộ các vấn đề về quy mô dân số, cơ cấu dân số, thích ứng với già hóa dân số, nâng cao chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của từng địa phương, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.
Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.

Theo dõi chúng tôi trên: