Thứ hai 19/01/2026 18:53
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Ký kết hợp đồng lao động với lao động giúp việc gia đình

Tóm tắt: Lao động giúp việc gia đình là một nhu cầu khách quan trong đời sống xã hội, tuy nhiên chưa được quan tâm thỏa đáng về nhiều phương diện. Hợp đồng lao động với lao động giúp việc gia đình là hình thức pháp lý để điều chỉnh mối quan hệ này, tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế chưa đạt hiệu quả như mong muốn. Bài viết đánh giá thực trạng quy định và thực hiện pháp luật về ký kết hợp đồng lao động với lao động giúp việc gia đình ở nước ta hiện nay.

Abstract: Using domestic workers remains objective and necessary in the society but not yet receiving a sufficient consideration in many aspects. The employment contract with domestic workers is the legal basis to establish such working relation. There are, however, still many drawbacks in its effectiveness. This article assesses the current legislation and implementation of the law on signing employment contract with domestic workers in Vietnam for the time being.

Lao động giúp việc gia đình là một công việc xuất hiện rất sớm, có đóng góp đáng kể trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở nhiều nước trên thế giới và được ghi nhận trong pháp luật nhiều quốc gia, nhưng tại một số nước, nghề này không được đề cập trong pháp luật hoặc có nhưng còn rất lỏng lẻo. Ở Việt Nam, khi nền kinh tế ngày càng phát triển, thì nhu cầu về lao động giúp việc gia đình lại càng lớn, đặc biệt là những khu đô thị lớn và những vùng kinh tế phát triển. Hoạt động giúp việc gia đình đã phần nào đáp ứng được nhu cầu của những gia đình sử dụng lao động và những gia đình có người đi giúp việc. Các hoạt động giúp việc gia đình cũng góp phần giải quyết tình trạng thiếu việc làm ở một bộ phận dân cư, trong đó có nhiều phụ nữ nông thôn.

Bộ luật Lao động năm 1994 ra đời đã có quy định về “lao động giúp việc gia đình” tại Điều 28, Điều 139, nhưng còn khá hạn chế, chung chung và chưa có hướng dẫn cụ thể. Đến khi Bộ luật Lao động năm 2012 được ban hành, lần đầu tiên lao động giúp việc gia đình được công nhận như một nghề chính thức. Cụ thể, lao động giúp việc gia đình đã được dành riêng một mục (Mục 5 gồm 5 điều, từ Điều 179 đến Điều 183 thuộc Chương XI), được hướng dẫn thực hiện tại Nghị định số 27/2014/NĐ-CP ngày 07/4/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về lao động là người giúp việc gia đình và Thông tư số 19/2014/TT-BLĐTBXH ngày 15/8/2014 của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 27/2014/NĐ-CP.

Theo quy định của pháp luật, hình thức pháp lý của quan hệ lao động giúp việc gia đình cũng là hợp đồng lao động, nhưng bên cạnh việc tuân thủ những quy định chung về hợp đồng lao động, thì hợp đồng lao động với người giúp việc gia đình có những đặc điểm riêng.

Một là, về chủ thể ký kết hợp đồng lao động:

Về phía người lao động giúp việc gia đình, theo quy định của pháp luật lao động Việt Nam, lao động giúp việc gia đình là người lao động làm thường xuyên các công việc trong gia đình của một hoặc nhiều hộ gia đình. Các công việc gia đình bao gồm công việc nội trợ, quản gia, chăm sóc trẻ, chăm sóc người bệnh, chăm sóc người già, lái xe, làm vườn và các công việc khác cho hộ gia đình nhưng không liên quan đến hoạt động thương mại (Điều 179 Bộ luật Lao động năm 2012). Người ký kết hợp đồng lao động bên phía người lao động là người phải thuộc một trong số các trường hợp sau đây: (i) Người lao động từ đủ 18 tuổi trở lên; (ii) Người lao động từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 và có văn bản đồng ý của người đại diện theo pháp luật của người lao động (Điều 4 Nghị định số 27/2014/NĐ-CP). Người đại diện theo pháp luật của người lao động là cha đẻ hoặc mẹ đẻ, cha nuôi hoặc mẹ nuôi hoặc người giám hộ hợp pháp của người đó (khoản 2 Điều 3 Thông tư số 19/2014/TT-BLĐTBXH).

Theo số liệu khảo sát tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh, người lao động cho các gia đình hiện nay có độ tuổi từ 15 đến 70 tuổi, 90% là nữ giới, nam giới không đảm nhận công việc chăm sóc và làm việc nhà, mà chỉ giúp việc chăm sóc người ốm tại bệnh viện và việc kinh doanh cho hộ gia đình. Nhóm dưới 18 tuổi chiếm tỷ lệ (3%), nhóm 18 - 35 chiếm 29,2%, nhóm 36 - 55 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất là 56,2%, nhóm trên 56 tuổi là 11,7%. Về độ tuổi, phần lớn người lao động giúp việc bắt đầu làm việc này ở độ tuổi lao động (từ 18 - 55 đối với nữ). Tuy nhiên, có 17,3% người bắt đầu công việc giúp việc gia đình từ dưới 18 tuổi (độ tuổi thấp nhất là 8 tuổi) và 3% người bắt đầu công việc từ 56 tuổi trở lên (độ tuổi cao nhất là 60 tuổi)[1]. Như vậy, có thể thấy, vẫn còn một tỷ lệ nhỏ trẻ em tham gia công việc giúp việc gia đình có độ tuổi dưới 18 tuổi và một tỷ lệ người ngoài độ tuổi lao động đang tiếp tục làm công việc này.

Về người sử dụng lao động giúp việc gia đình, theo quy định tại Điều 4 Nghị định số 27/2014/NĐ-CP và khoản 1 Điều 3 Thông tư số 19/2014/TT-BLĐTBXH, người sử dụng lao động giúp việc gia đình là người thuộc một trong số các trường hợp sau đây: (i) Chủ hộ là người đại diện của hộ gia đình có thuê mướn, sử dụng lao động là người giúp việc gia đình theo quy định của pháp luật; (ii) Người được chủ hộ hoặc các chủ hộ vùng thuê mướn, sử dụng lao động là người giúp việc gia đình ủy quyền bằng văn bản; (iii) Người được các thành viên trong hộ gia đình hoặc được các thành viên của các hộ gia đình cùng thuê mướn, sử dụng lao động là người giúp việc gia đình ủy quyền bằng văn bản.

Trên thực tế, việc giao kết hợp đồng thường được diễn ra giữa người lao động với một cá nhân trong hộ gia đình. Theo điều tra, trong số những trường hợp hợp đồng lao động giúp việc gia đình ký bằng văn bản, đa số người trực tiếp ký kết là nữ giới (61,5%). Đa phần những gia đình sử dụng lao động giúp việc gia đình đều có mức sống từ trung bình trở lên. Theo khảo sát có 53,7% hộ gia đình thuê lao động giúp việc gia đình sống cùng có mức sống trung bình, 38% là mức sống khá hơn trung bình, 7,3 % có mức sống giàu có[2].

Hai là, về hình thức pháp lý:

Theo quy định của pháp luật, người sử dụng lao động phải ký kết hợp đồng lao động bằng văn bản với người giúp việc gia đình (khoản 1 Điều 180 Bộ luật Lao động năm 2012). Tuy nhiên, theo thống kê thu thập thông tin từ người lao động giúp việc, thì chỉ có 42,7% là có hợp đồng lao động bằng văn bản. Lý do không có hợp đồng lao động ngoại trừ những người lựa chọn lý do khác, có 57,9% người lao động cho biết cả bản thân và chủ nhà thấy việc ký hợp đồng lao động là không cần thiết, 39,5% người lao động cho biết bản thân họ không thấy cần thiết, chỉ có 2,6% người lựa chọn lý do chủ nhà thấy không cần thiết. Đối với những trường hợp có hợp đồng, đa số chỉ là thỏa thuận với chủ nhà bằng hợp đồng miệng (69,8%). Số lao động có hợp đồng bằng văn bản chiếm 30,2%. Theo thống kê thu thập thông tin từ phía đại diện hộ gia đình cũng cho thấy 60% gia đình có ký hợp đồng lao động với người giúp việc. Tuy nhiên, trong số gia đình có hợp đồng với người lao động thì có 72% gia đình chỉ ký hợp đồng bằng lời nói. Có 27,3% gia đình ký hợp đồng bằng văn bản. Về nguyên nhân không ký kết hợp đồng lao động, có 42% gia đình lựa chọn phương án cả bản thân và người giúp việc đều không thấy cần thiết. Còn lại 16% gia đình cho rằng việc không ký hợp đồng là do bản thân người lao động thấy không cần thiết[3].

Ba là, về nội dung hợp đồng lao động:

Về thực trạng tiền lương của người lao động giúp việc gia đình: Theo số liệu thống kê năm 2012, mức thu nhập bình quân tháng của người lao động hoạt động làm thuê của các công việc trong hộ gia đình năm 2012 là 2.800.000 đồng. Theo một khảo sát của Trung tâm Nghiên cứu giới, gia đình và phát triển cộng đồng (GFCD) được nghiên cứu thực hiện từ 12/2013 - 7/2014 ở 05 tỉnh, thành phố gồm: Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Khánh Hòa, Hồ Chí Minh với khoảng 500 người lao động, 500 đại diện hộ sử dụng lao động, 97 đại diện hộ có người lao động và 20 cán bộ quản lý cấp xã, phường... cho thấy, người giúp việc có thu nhập bình quân khoảng 3.000.000 đồng/tháng, còn đối với người lao động giúp việc không sống cùng có thấp hơn 2.933.000 đồng/tháng. Những người đã qua đào tạo có mức lương cao hơn người chưa qua đào tạo gần 300.000 đồng/tháng. Mức thu nhập này bao gồm tiền công và một số khoản chi phí khác như đi lại, tiền điện thoại. Người giúp việc gia đình ở Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh có thu nhập cao hơn 03 tỉnh còn lại. Thu nhập của người giúp việc cao hơn 02 lần so với lao động làm nông nghiệp tại địa phương với mức bình quân là 1.340.000 triệu đồng/tháng. Điều này phù hợp với kết quả nghiên cứu khi có đến 57% người được phỏng vấn cho biết, họ chọn công việc giúp việc gia đình vì có thu nhập cao hơn hẳn so với công việc từng làm trước đó.

Về điều kiện làm việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, theo quy định của Bộ luật Lao động năm 2012 (khoản 4 Điều 181), người sử dụng lao động phải bố trí chỗ ăn, ở, hợp vệ sinh cho người giúp việc gia đình nếu có thỏa thuận. Với những người lao động giúp việc sống cùng chủ nhà, họ làm việc và nghỉ ngơi, sinh hoạt ngay tại đó, chi phí ăn, ở của người lao động do người sử dụng lao động đài thọ hoặc trừ vào tiền công. Về vấn đề đảm bảo sức khỏe cho người lao động, người sử dụng lao động phải bố trí để người lao động khám sức khỏe định kỳ ít nhất một năm một lần (Điều 19 Thông tư số 19/2017/TT-BLĐTBXH). Trường hợp cần thiết, người sử dụng lao động yêu cầu người lao động thực hiện khám sức khỏe tại cơ sở y tế và chi phí khám sức khỏe sẽ do người sử dụng lao động chi trả. Hầu hết người lao động giúp việc xuất thân từ nông thôn, tìm đến các thành phố, đô thị tìm việc làm, do đó, họ ít hoặc không có người nhà, bà con thân thích tại thành phố. Lúc ốm đau, bệnh tật hay tai nạn, họ không thể nương nhờ vào người thân mà phải tự mình vượt qua. Những lúc đó, người sử dụng lao động có trách nhiệm chăm sóc, giúp đỡ người lao động để họ sớm hồi phục sức khỏe có thể tiếp tục làm việc.

Ngoài các nghĩa vụ phải thực hiện, người sử dụng lao động không được ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động, dùng vũ lực đối với lao động là người giúp việc gia đình; giao việc cho người giúp việc gia đình không theo hợp đồng lao động; giữ giấy tờ tùy thân của người lao động (Điều 181 Bộ luật Lao động năm 2012).

Về trách nhiệm bồi thường, Thông tư số 19/2014/TT-BLĐTBXH có quy định về trách nhiệm bồi thường của người lao động trong hợp đồng lao động rất chi tiết. Theo đó, trường hợp người lao động do sơ suất gây thiệt hại cho người sử dụng lao động với giá trị không quá 10 tháng lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định áp dụng đối với địa bàn nơi người lao động làm việc, thì người lao động phải bồi thường nhiều nhất là 03 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động bằng hình thức khấu trừ tiền lương hàng tháng. Mức khấu trừ do hai bên thỏa thuận nhưng không quá 30% mức tiền lương hàng tháng đối với người lao động không sống tại gia đình người sử dụng lao động; không quá 60% mức tiền lương còn lại sau khi trừ chi phí ăn, ở hàng tháng của người lao động (nếu có) đối với người lao động sống tại gia đình người sử dụng lao động. Trường hợp, người lao động không phải do sơ suất hoặc gây thiệt hại với giá trị trên 10 tháng lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định áp dụng đối với địa bàn nơi người lao động làm việc thì người sử dụng lao động căn cứ vào lỗi, mức độ thiệt hại thực tế, hoàn cảnh thực tế gia đình, nhân thân và tài sản của người lao động để xem xét, quyết định mức bồi thường, thời hạn bồi thường và phương thức bồi thường thiệt hại. Trường hợp người lao động không đồng ý với quyết định của người sử dụng lao động thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết. Trường hợp thiệt hại do thiên tai, hỏa hoạn, địch họa, dịch bệnh hoặc nguyên nhân khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được dù người lao động đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép thì không phải bồi thường.

ThS. Lữ Bỉnh Huy

Tài liệu tham khảo:

[1]. MOLISA và ILO (2012), Việc làm bền vững đối với lao động giúp việc gia đình ở Việt Nam. Nxb. Lao động - Xã hội, Hà Nội, tr.45.

[2]. MOLISA và ILO (2012), Việc làm bền vững đối với lao động giúp việc gia đình ở Việt Nam. Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội, tr.51.

[3]. TS. Ngô Thị Ngọc Anh, (Chủ nhiệm), Hà Việt Hùng, TS. Trần Thị Minh Ngọc, TS. Lê Văn Toàn, ThS. và những người khác (2009), Một số loại hình giúp việc gia đình ở Hà Nội hiện nay và các giải pháp quản lý; Nxb. Lao động - Xã hội, Hà Nội, tr. 10.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.

Theo dõi chúng tôi trên: