Thứ hai 15/06/2026 22:08
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Kỹ năng nghiệp vụ của chấp hành viên thi hành án dân sự

Chấp hành viên thi hành án dân sự là một chức danh tư pháp do cơ quan nhà nước có thẩm quyền bổ nhiệm theo quy trình, thủ tục nhất định khi đáp ứng đầy đủ các yêu cầu, tiêu chuẩn về chuyên môn, nghiệp vụ theo quy định của pháp luật;

Nhà nước giao nhiệm vụ tổ chức thi hành hoặc trực tiếp thi hành các bản án, quyết định theo quy định của pháp luật; được sử dụng quyền lực nhà nước để tổ chức thi hành án dân sự. Hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự được thực hiện chủ yếu thông qua hoạt động của đội ngũ chấp hành viên, về bản chất, là hoạt động áp dụng pháp luật; do đó, các hoạt động tác nghiệp của đội ngũ chấp hành viên phải tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật về nguyên tắc, trình tự, thủ tục thi hành án dân sự. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, trong một số trường hợp, việc áp dụng pháp luật một cách đơn giản, cứng nhắc lại không đạt được hiệu quả, kết quả như mong muốn, mà có khi lại dẫn đến tình trạng bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng không thể thi hành được trên thực tế hoặc có thi hành được thì hậu quả xã hội xảy ra lại rất khó khắc phục. Điều này rất dễ nhận thấy ở những vụ cưỡng chế thi hành án lớn mà gần đây các phương tiện truyền thông đưa tin. Nói như vậy không có nghĩa là để giải quyết được các vụ việc thi hành án dân sự thì chấp hành viên buộc phải vi phạm về mặt tố tụng hay lách luật, mà thực ra là đòi hỏi người chấp hành viên phải có năng lực chuyên môn, nghiệp vụ để có thể áp dụng pháp luật một cách năng động, linh hoạt, khéo léo. Năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của chấp hành viên thi hành án dân sự, về cơ bản, bao gồm các yếu tố như trình độ kiến thức, hiểu biết pháp luật; ý thức pháp luật nghề nghiệp; kỹ năng nghiệp vụ công tác; phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống... Trong phạm vi bài viết này, tác giả chỉ luận bàn về kỹ năng nghiệp vụ công tác thi hành án dân sự của chấp hành viên - một trong những yếu tố rất quan trọng tạo nên năng lực của chấp hành viên.

Trước hết, để có kỹ năng nghiệp vụ công tác thi hành án dân sự thì chấp hành viên, ngoài trình độ kiến thức, hiểu biết pháp luật, phải có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ là những kiến thức chuyên sâu về một lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp nào đó, được thể hiện qua những trình độ như sơ cấp, trung cấp, cao cấp... Đây là những kiến thức bắt buộc phải có đối với đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước nói chung, đội ngũ chấp hành viên nói riêng khi thực hiện các chức trách, nhiệm vụ được giao.
Kiến thức về kỹ năng nghiệp vụ trong một lĩnh vực công tác cụ thể là một trong những yếu tố đặc biệt quan trọng để đánh giá kỹ năng nghiệp vụ của mỗi người. Không thể nói một người cán bộ, công chức có kỹ năng nghiệp vụ công tác tốt mà lại thiếu kiến thức, hiểu biết về chuyên môn, nghiệp vụ thuộc lĩnh vực công tác mà họ đang đảm nhiệm. Hoạt động thi hành án dân sự là lĩnh vực hoạt động có tính chất nghề nghiệp chuyên biệt, chuyên sâu nên đòi hỏi đội ngũ chấp hành viên phải có kiến thức nghiệp vụ vững vàng. Vì vậy, theo quy định của pháp luật, để một người được bổ nhiệm làm chấp hành viên thì ngoài tiêu chuẩn phải có trình độ cử nhân chuyên ngành luật trở lên và có thời gian công tác nhất định trong lĩnh vực pháp luật, người đó còn phải có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ ngạch chấp hành viên cao cấp, trung cấp, sơ cấp theo nội dung, chương trình của Bộ Tư pháp[1]. Việc tham gia học tập đầy đủ, nghiêm túc các chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ sẽ giúp đội ngũ chấp hành viên có năng lực áp dụng thành thạo các nguyên tắc, chế độ, thủ tục về nghiệp vụ thi hành án dân sự[2]. Bên cạnh đó, chấp hành viên cần phải thường xuyên tìm hiểu, cập nhật, tích luỹ kiến thức về kỹ năng nghiệp vụ bằng cách tự học hỏi, tự đúc rút kinh nghiệm thông qua trao đổi chuyên môn, nghiệp vụ với đồng nghiệp cũng như qua hoạt động thực tiễn hoạt động thi hành án dân sự. Ngoài trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, chấp hành viên còn cần có sự hiểu biết rộng rãi về các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, theo quy định của pháp luật, chấp hành viên cao cấp phải am hiểu sâu rộng tình hình kinh tế, xã hội trong nước và quốc tế; chấp hành viên trung cấp phải nắm chắc tình hình kinh tế, xã hội của địa phương, của đất nước; còn chấp hành viên sơ cấp cần nắm được tình hình kinh tế, xã hội ở địa phương[3].
Để hỗ trợ đắc lực cho hoạt động nghiệp vụ, chấp hành viên còn cần có trình độ ngoại ngữ và tin học. Tùy theo yêu cầu công việc của từng ngạch chấp hành viên mà yêu cầu, kỹ năng sử dụng thành thạo ngoại ngữ và tin học là một trong những công cụ để chấp hành viên tăng cường giao lưu, hợp tác quốc tế, xử lý các vụ việc thi hành án dân sự có yếu tố nước ngoài, tra cứu thông tin trên mạng Internet và soạn thảo các văn bản, quyết định thi hành án... Vì lẽ đó, theo quy định tại Thông tư số 10/2010/TT-BNV ngày 28/10/2010 của Bộ Nội vụ quy định mã số, tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức chấp hành viên và thư ký thi hành án dân sự, về ngoại ngữ, chấp hành viên cao cấp cần có ngoại ngữ trình độ C trở lên; chấp hành viên trung cấp và sơ cấp cần có ngoại ngữ trình độ B trở lên (một trong năm thứ tiếng: Anh, Pháp, Nga, Đức, Trung Quốc) hoặc một ngoại ngữ khác theo yêu cầu của vị trí làm việc. Về tin học, chấp hành viên cần có trình độ tin học văn phòng với yêu cầu sử dụng thành thạo (đối với chấp hành viên cao cấp và trung cấp) hoặc sử dụng được (đối với chấp hành viên sơ cấp) các kỹ năng của Microsoft Word, Microsoft Excel, Internet để phục vụ công tác chuyên môn.
Kỹ năng nghiệp vụ công tác của chấp hành viên là khả năng vận dụng thành thạo và khéo léo tất cả những kiến thức và kinh nghiệm mà mình có được vào việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ tổ chức thi hành án dân sự nhằm đạt được hiệu quả cao nhất với mức chi phí thấp nhất cả về thời gian, công sức và kinh tế. Kỹ năng nghiệp vụ của chấp hành viên được biểu hiện cụ thể trên nhiều mặt, như kỹ năng soạn thảo văn bản và các quyết định về thi hành án; kỹ năng xây dựng kế hoạch tổ chức thi hành án, kỹ năng độc lập tổ chức thực hiện công việc được giao; kỹ năng vận động, thuyết phục người phải thi hành án tự nguyện thi hành án; kỹ năng hòa giải những mâu thuẫn giữa các bên đương sự; kỹ năng phối kết hợp với các đồng nghiệp và cơ quan hữu quan trong việc giải quyết thi hành án dân sự; kỹ năng lập kế hoạch và phương án cưỡng chế thi hành án, tổ chức cưỡng chế và chỉ huy lực lượng cưỡng chế thi hành án; kỹ năng tham mưu cho thủ trưởng đơn vị cũng như Ban chỉ đạo thi hành án địa phương trong công tác thi hành án dân sự... Trong số những kỹ năng nghiệp vụ cụ thể nêu trên thì chấp hành viên ít nhất phải thuần thục hai kỹ năng chính là: Kỹ năng thuyết phục, vận động người phải thi hành án tự nguyện thi hành án và kỹ năng lập kế hoạch, tổ chức cưỡng chế thi hành án.
Một là, kỹ năng thuyết phục,vận động người phải thi hành án tự nguyện thi hành án
Bản án, quyết định của Tòa án đã tuyên và có hiệu lực pháp luật là căn cứ, cơ sở pháp lý để tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, để có thể thi hành một cách có hiệu quả trên thực tế những bản án, quyết định đó thì đòi hỏi chấp hành viên phải biết kết hợp hài hòa giữa “cái tình” và “cái lý” sao cho “thấu tình đạt lý” trong quá trình giải quyết vụ việc. Điều này chỉ có thể được hiện thực hóa khi chấp hành viên có kỹ năng vận động, thuyết phục - một kỹ năng đặc biệt quan trọng, được coi là “chiếc chìa khóa vàng” trong giải quyết các tranh chấp dân sự nói chung và trong quá trình giải quyết việc thi hành án dân sự nói riêng. Đây cũng là một trong những kỹ năng được quy định trong tiêu chuẩn về năng lực của chấp hành viên thi hành án dân sự: “Có khả năng giáo dục, thuyết phục đương sự thi hành bản án, quyết định của Tòa án”[4].
Thông thường, để giải quyết một vấn đề hay công việc nào đó, mỗi người cần nhờ sự hợp tác, giúp đỡ của người khác. Điều đó đòi hỏi giữa các bên phải có sự thống nhất về quan điểm, lập trường giải quyết công việc. Tuy nhiên, thực tế tổ chức thi hành án dân sự cho thấy, giữa chấp hành viên với người phải thi hành án và các bên đương sự thường không cùng chung ý kiến, quan điểm với nhau; bởi vậy, việc tổ chức thi hành án dân sự có đạt được hiệu quả như mong muốn của các bên hay không sẽ phụ thuộc rất nhiều vào kỹ năng vận động, thuyết phục của chấp hành viên đối với các bên đương sự. Để tìm kiếm sự đồng thuận giữa các bên, chấp hành viên cần đưa ra được những tình tiết, sự kiện, lý lẽ để định hướng, phân tích, giải thích cho đối tượng thấy đúng đắn, hợp lý, hợp tình mà tin tưởng và làm theo. Để thực hiện tốt kỹ năng vận động, thuyết phục không phải là vấn đề đơn giản, đòi hỏi chấp hành viên thi hành án dân sự phải thực sự nhiệt tình, tâm huyết với công việc được giao. Việc vận động, thuyết phục đương sự chấp thuận thi hành án dân sự không chỉ là gặp gỡ, làm việc riêng với đương sự, mà trong nhiều trường hợp chấp hành viên còn phải tìm cách tác động đến gia đình, người thân của đương sự, bàn bạc với chính quyền địa phương nơi đương sự đang cư trú, với cơ quan nơi đương sự đang làm việc để cùng phối hợp vận động, thuyết phục. Chấp hành viên không chỉ đơn thuần giữ cương vị của người tổ chức thi hành bản án dân sự, mà có lúc còn phải đảm nhận vai trò tư vấn, trao đổi, gợi ý họ nên sử dụng tài sản nào để thi hành án một cách thuận tiện và có lợi nhất. Để nâng cao hiệu quả vận động, thuyết phục đương sự tự nguyện thi hành án, chấp hành viên cần biết cách phân tích, lý giải vấn đề, đánh giá, chỉ ra cho các bên đương sự thấy những lợi ích có được khi tự nguyện thỏa thuận với nhau và tự nguyện thi hành án.
Trong thực tế, có những trường hợp bản án, quyết định mà Tòa án đã tuyên không khả thi. Khi đó, nếu chấp hành viên cứ tiến hành theo đúng các quy trình, thủ tục mà pháp luật quy định để thi hành theo phán quyết của Tòa án thì không sớm thì muộn cũng sẽ đi đến bế tắc trong quá trình giải quyết. Do đó, để thi hành án thành công những vụ việc này, chấp hành viên cần phải vận động, thuyết phục và giải thích cho các bên đương sự biết rằng có thể mỗi bên phải chịu thiệt một phần so với những gì mà bản án đã tuyên để đạt được những lợi ích thực tế lớn hơn so với việc thi hành đúng theo bản án. Bí quyết của sự thành công ở đây chính là nắm vững các kỹ năng về giải quyết việc thi hành án, nắm vững các quy định của pháp luật và điều đặc biệt quan trọng là phải biết phân tích các quy định pháp luật một cách rõ ràng, dễ hiểu và “thấu tình đạt lý”.
Vận động, thuyết phục là một thủ tục không thể thiếu trong thực tiễn công tác thi hành án dân sự, vì vậy, bí quyết thành công trong thực hành kỹ năng này là chấp hành viên phải có kiến thức chuyên môn, đúc kết được kinh nghiệm thực tiễn, có sự kiên trì và linh hoạt, khôn khéo trong giải quyết từng vụ việc cụ thể. Thi hành án dân sự là lĩnh vực khó khăn, động chạm trực tiếp đến quyền lợi của các bên liên quan nên tùy từng vụ việc cụ thể chấp hành viên phải lựa chọn phương pháp, hình thức vận động, thuyết phục khác nhau. Để thành công, bên cạnh trách nhiệm còn đòi hỏi người chấp hành viên phải sự cảm thông, chia sẻ với các bên đương sự. Ngược lại, nếu việc vận động, thuyết phục không thành thì chấp hành viên phải cương quyết áp dụng biện pháp cưỡng chế, không thể lấy lý do đề cao hòa giải để trì hoãn, kéo dài thời gian thi hành án. Tuy nhiên, khi bắt buộc phải tiến hành cưỡng chế thi hành án không có nghĩa là chấm dứt việc vận động, thuyết phục. Vận động, thuyết phục phải được tiến hành ở mọi lúc, mọi nơi; trong nhiều trường hợp việc làm này mang lại thành công ngay trước thời điểm tổ chức cưỡng chế.
Hai là, kỹ năng tổ chức cưỡng chế thi hành án
Là người đưa các bản án, quyết định của Tòa án từ chỗ được “ghi nhận trên giấy tờ” trở thành được “thực hiện trong thực tiễn”, chấp hành viên là người đưa ra quyết định tạo cơ hội cho người phải thi hành án tự nguyện thi hành án trong thời gian luật định hoặc quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án - biện pháp cứng rắn và cương quyết nhất để xử lý tài sản của người phải thi hành án, buộc họ phải thi hành bản án, quyết định của Tòa án. Điều đó có ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý, cuộc sống, uy tín, danh dự... của người phải thi hành án. Vì lẽ đó, khả năng hành động khéo léo, mạnh mẽ, dứt khoát, triệt để là tố chất cần thiết mà chấp hành viên phải có trong kỹ năng cưỡng chế thi hành án. Khi áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án có huy động lực lượng khác phối hợp, chấp hành viên phải lên phương án huy động lực lượng bảo vệ và yêu cầu cơ quan công an cùng cấp lập kế hoạch tham gia bảo vệ hoạt động cưỡng chế; bởi vậy, “có khả năng phối hợp tốt với các cơ quan hữu quan trong việc thi hành án” là một yêu cầu đối với năng lực của đội ngũ chấp hành viên.
Để có được các kỹ năng nghiệp vụ trong công tác thi hành án, chấp hành viên phải luôn có ý thức học tập, không ngừng nâng cao trình độ về mọi mặt: Rèn luyện phong cách tư duy khoa học, xây dựng cho mình phương pháp làm việc khoa học, có kế hoạch, có sự chuẩn bị kỹ lưỡng về mọi mặt; luôn cầu thị thông qua trao đổi, học hỏi kinh nghiệm thực tiễn từ các đồng nghiệp... Chỉ khi đó, chấp hành viên mới có khả năng hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ được giao. Chấp hành viên, ngoài chức năng, nhiệm vụ chính là tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Toà án, còn phải thực hiện những nhiệm vụ khác theo sự phân công của thủ trưởng đơn vị, như tổng hợp, báo cáo, xây dựng các văn bản, tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương về công tác thi hành án dân sự, tiếp đương sự, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo liên quan đến việc thi hành án dân sự của đơn vị, tiếp nhận, xử lý tang vật... Nếu không thường xuyên trau dồi, nâng cao trình độ kiến thức, hiểu biết pháp luật, tri thức và kỹ năng nghiệp vụ công tác thi hành án dân sự thì chấp hành viên sẽ gặp nhiều khó khăn, vướng mắc trong công tác, ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng và hiệu quả công việc.

TS. Ngọ Văn Nhân
Đại học Luật Hà Nội

Tài liệu tham khảo:
Xem: Điểm b khoản 4 các Điều 4, 5 và 6 Thông tư số 10/2010/TT-BNV ngày 28/10/2010 của Bộ Nội vụ quy định mã số, tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức chấp hành viên và thư ký thi hành án dân sự.
Xem: Điểm d khoản 3 các Điều 4 và 5 Thông tư số 10/2010/TT-BNV ngày 28/10/2010 của Bộ Nội vụ quy định mã số, tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức chấp hành viên và thư ký thi hành án dân sự.
Xem: Điểm đ, khoản 3 các Điều 4, Điều 5 và Điều 6 Thông tư số 10/2010/TT-BNV ngày 28/10/2010 của Bộ Nội vụ quy định mã số, tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức chấp hành viên và thư ký thi hành án dân sự.
Xem: Điểm h khoản 3 Điều 4 và 5; điểm g khoản 3 Điều 6 Thông tư số 10/2010/TT-BNV ngày 28/10/2010 của Bộ Nội vụ quy định mã số, tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức chấp hành viên và thư ký thi hành án dân sự

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Ngày 10/12/2025, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 chính thức thông qua Luật số 132/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026).
Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 thay thế Pháp lệnh Dân số số 06/2004/PL-UBTVQH11 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Pháp lệnh số 07/2025/UBTVQH15). Một trong những thay đổi căn bản của Luật Dân số năm 2025 là chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển. Những nội dung liên quan đến dân số và phát triển đã được thể hiện trong việc hướng tới giải quyết đồng bộ các vấn đề về quy mô dân số, cơ cấu dân số, thích ứng với già hóa dân số, nâng cao chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của từng địa phương, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.
Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.

Theo dõi chúng tôi trên: