Chủ nhật 25/10/2026 08:14
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Kỹ năng nghiệp vụ của chấp hành viên thi hành án dân sự

Chấp hành viên thi hành án dân sự là một chức danh tư pháp do cơ quan nhà nước có thẩm quyền bổ nhiệm theo quy trình, thủ tục nhất định khi đáp ứng đầy đủ các yêu cầu, tiêu chuẩn về chuyên môn, nghiệp vụ theo quy định của pháp luật;

Nhà nước giao nhiệm vụ tổ chức thi hành hoặc trực tiếp thi hành các bản án, quyết định theo quy định của pháp luật; được sử dụng quyền lực nhà nước để tổ chức thi hành án dân sự. Hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự được thực hiện chủ yếu thông qua hoạt động của đội ngũ chấp hành viên, về bản chất, là hoạt động áp dụng pháp luật; do đó, các hoạt động tác nghiệp của đội ngũ chấp hành viên phải tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật về nguyên tắc, trình tự, thủ tục thi hành án dân sự. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, trong một số trường hợp, việc áp dụng pháp luật một cách đơn giản, cứng nhắc lại không đạt được hiệu quả, kết quả như mong muốn, mà có khi lại dẫn đến tình trạng bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng không thể thi hành được trên thực tế hoặc có thi hành được thì hậu quả xã hội xảy ra lại rất khó khắc phục. Điều này rất dễ nhận thấy ở những vụ cưỡng chế thi hành án lớn mà gần đây các phương tiện truyền thông đưa tin. Nói như vậy không có nghĩa là để giải quyết được các vụ việc thi hành án dân sự thì chấp hành viên buộc phải vi phạm về mặt tố tụng hay lách luật, mà thực ra là đòi hỏi người chấp hành viên phải có năng lực chuyên môn, nghiệp vụ để có thể áp dụng pháp luật một cách năng động, linh hoạt, khéo léo. Năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của chấp hành viên thi hành án dân sự, về cơ bản, bao gồm các yếu tố như trình độ kiến thức, hiểu biết pháp luật; ý thức pháp luật nghề nghiệp; kỹ năng nghiệp vụ công tác; phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống... Trong phạm vi bài viết này, tác giả chỉ luận bàn về kỹ năng nghiệp vụ công tác thi hành án dân sự của chấp hành viên - một trong những yếu tố rất quan trọng tạo nên năng lực của chấp hành viên.

Trước hết, để có kỹ năng nghiệp vụ công tác thi hành án dân sự thì chấp hành viên, ngoài trình độ kiến thức, hiểu biết pháp luật, phải có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ là những kiến thức chuyên sâu về một lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp nào đó, được thể hiện qua những trình độ như sơ cấp, trung cấp, cao cấp... Đây là những kiến thức bắt buộc phải có đối với đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước nói chung, đội ngũ chấp hành viên nói riêng khi thực hiện các chức trách, nhiệm vụ được giao.
Kiến thức về kỹ năng nghiệp vụ trong một lĩnh vực công tác cụ thể là một trong những yếu tố đặc biệt quan trọng để đánh giá kỹ năng nghiệp vụ của mỗi người. Không thể nói một người cán bộ, công chức có kỹ năng nghiệp vụ công tác tốt mà lại thiếu kiến thức, hiểu biết về chuyên môn, nghiệp vụ thuộc lĩnh vực công tác mà họ đang đảm nhiệm. Hoạt động thi hành án dân sự là lĩnh vực hoạt động có tính chất nghề nghiệp chuyên biệt, chuyên sâu nên đòi hỏi đội ngũ chấp hành viên phải có kiến thức nghiệp vụ vững vàng. Vì vậy, theo quy định của pháp luật, để một người được bổ nhiệm làm chấp hành viên thì ngoài tiêu chuẩn phải có trình độ cử nhân chuyên ngành luật trở lên và có thời gian công tác nhất định trong lĩnh vực pháp luật, người đó còn phải có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ ngạch chấp hành viên cao cấp, trung cấp, sơ cấp theo nội dung, chương trình của Bộ Tư pháp[1]. Việc tham gia học tập đầy đủ, nghiêm túc các chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ sẽ giúp đội ngũ chấp hành viên có năng lực áp dụng thành thạo các nguyên tắc, chế độ, thủ tục về nghiệp vụ thi hành án dân sự[2]. Bên cạnh đó, chấp hành viên cần phải thường xuyên tìm hiểu, cập nhật, tích luỹ kiến thức về kỹ năng nghiệp vụ bằng cách tự học hỏi, tự đúc rút kinh nghiệm thông qua trao đổi chuyên môn, nghiệp vụ với đồng nghiệp cũng như qua hoạt động thực tiễn hoạt động thi hành án dân sự. Ngoài trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, chấp hành viên còn cần có sự hiểu biết rộng rãi về các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, theo quy định của pháp luật, chấp hành viên cao cấp phải am hiểu sâu rộng tình hình kinh tế, xã hội trong nước và quốc tế; chấp hành viên trung cấp phải nắm chắc tình hình kinh tế, xã hội của địa phương, của đất nước; còn chấp hành viên sơ cấp cần nắm được tình hình kinh tế, xã hội ở địa phương[3].
Để hỗ trợ đắc lực cho hoạt động nghiệp vụ, chấp hành viên còn cần có trình độ ngoại ngữ và tin học. Tùy theo yêu cầu công việc của từng ngạch chấp hành viên mà yêu cầu, kỹ năng sử dụng thành thạo ngoại ngữ và tin học là một trong những công cụ để chấp hành viên tăng cường giao lưu, hợp tác quốc tế, xử lý các vụ việc thi hành án dân sự có yếu tố nước ngoài, tra cứu thông tin trên mạng Internet và soạn thảo các văn bản, quyết định thi hành án... Vì lẽ đó, theo quy định tại Thông tư số 10/2010/TT-BNV ngày 28/10/2010 của Bộ Nội vụ quy định mã số, tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức chấp hành viên và thư ký thi hành án dân sự, về ngoại ngữ, chấp hành viên cao cấp cần có ngoại ngữ trình độ C trở lên; chấp hành viên trung cấp và sơ cấp cần có ngoại ngữ trình độ B trở lên (một trong năm thứ tiếng: Anh, Pháp, Nga, Đức, Trung Quốc) hoặc một ngoại ngữ khác theo yêu cầu của vị trí làm việc. Về tin học, chấp hành viên cần có trình độ tin học văn phòng với yêu cầu sử dụng thành thạo (đối với chấp hành viên cao cấp và trung cấp) hoặc sử dụng được (đối với chấp hành viên sơ cấp) các kỹ năng của Microsoft Word, Microsoft Excel, Internet để phục vụ công tác chuyên môn.
Kỹ năng nghiệp vụ công tác của chấp hành viên là khả năng vận dụng thành thạo và khéo léo tất cả những kiến thức và kinh nghiệm mà mình có được vào việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ tổ chức thi hành án dân sự nhằm đạt được hiệu quả cao nhất với mức chi phí thấp nhất cả về thời gian, công sức và kinh tế. Kỹ năng nghiệp vụ của chấp hành viên được biểu hiện cụ thể trên nhiều mặt, như kỹ năng soạn thảo văn bản và các quyết định về thi hành án; kỹ năng xây dựng kế hoạch tổ chức thi hành án, kỹ năng độc lập tổ chức thực hiện công việc được giao; kỹ năng vận động, thuyết phục người phải thi hành án tự nguyện thi hành án; kỹ năng hòa giải những mâu thuẫn giữa các bên đương sự; kỹ năng phối kết hợp với các đồng nghiệp và cơ quan hữu quan trong việc giải quyết thi hành án dân sự; kỹ năng lập kế hoạch và phương án cưỡng chế thi hành án, tổ chức cưỡng chế và chỉ huy lực lượng cưỡng chế thi hành án; kỹ năng tham mưu cho thủ trưởng đơn vị cũng như Ban chỉ đạo thi hành án địa phương trong công tác thi hành án dân sự... Trong số những kỹ năng nghiệp vụ cụ thể nêu trên thì chấp hành viên ít nhất phải thuần thục hai kỹ năng chính là: Kỹ năng thuyết phục, vận động người phải thi hành án tự nguyện thi hành án và kỹ năng lập kế hoạch, tổ chức cưỡng chế thi hành án.
Một là, kỹ năng thuyết phục,vận động người phải thi hành án tự nguyện thi hành án
Bản án, quyết định của Tòa án đã tuyên và có hiệu lực pháp luật là căn cứ, cơ sở pháp lý để tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, để có thể thi hành một cách có hiệu quả trên thực tế những bản án, quyết định đó thì đòi hỏi chấp hành viên phải biết kết hợp hài hòa giữa “cái tình” và “cái lý” sao cho “thấu tình đạt lý” trong quá trình giải quyết vụ việc. Điều này chỉ có thể được hiện thực hóa khi chấp hành viên có kỹ năng vận động, thuyết phục - một kỹ năng đặc biệt quan trọng, được coi là “chiếc chìa khóa vàng” trong giải quyết các tranh chấp dân sự nói chung và trong quá trình giải quyết việc thi hành án dân sự nói riêng. Đây cũng là một trong những kỹ năng được quy định trong tiêu chuẩn về năng lực của chấp hành viên thi hành án dân sự: “Có khả năng giáo dục, thuyết phục đương sự thi hành bản án, quyết định của Tòa án”[4].
Thông thường, để giải quyết một vấn đề hay công việc nào đó, mỗi người cần nhờ sự hợp tác, giúp đỡ của người khác. Điều đó đòi hỏi giữa các bên phải có sự thống nhất về quan điểm, lập trường giải quyết công việc. Tuy nhiên, thực tế tổ chức thi hành án dân sự cho thấy, giữa chấp hành viên với người phải thi hành án và các bên đương sự thường không cùng chung ý kiến, quan điểm với nhau; bởi vậy, việc tổ chức thi hành án dân sự có đạt được hiệu quả như mong muốn của các bên hay không sẽ phụ thuộc rất nhiều vào kỹ năng vận động, thuyết phục của chấp hành viên đối với các bên đương sự. Để tìm kiếm sự đồng thuận giữa các bên, chấp hành viên cần đưa ra được những tình tiết, sự kiện, lý lẽ để định hướng, phân tích, giải thích cho đối tượng thấy đúng đắn, hợp lý, hợp tình mà tin tưởng và làm theo. Để thực hiện tốt kỹ năng vận động, thuyết phục không phải là vấn đề đơn giản, đòi hỏi chấp hành viên thi hành án dân sự phải thực sự nhiệt tình, tâm huyết với công việc được giao. Việc vận động, thuyết phục đương sự chấp thuận thi hành án dân sự không chỉ là gặp gỡ, làm việc riêng với đương sự, mà trong nhiều trường hợp chấp hành viên còn phải tìm cách tác động đến gia đình, người thân của đương sự, bàn bạc với chính quyền địa phương nơi đương sự đang cư trú, với cơ quan nơi đương sự đang làm việc để cùng phối hợp vận động, thuyết phục. Chấp hành viên không chỉ đơn thuần giữ cương vị của người tổ chức thi hành bản án dân sự, mà có lúc còn phải đảm nhận vai trò tư vấn, trao đổi, gợi ý họ nên sử dụng tài sản nào để thi hành án một cách thuận tiện và có lợi nhất. Để nâng cao hiệu quả vận động, thuyết phục đương sự tự nguyện thi hành án, chấp hành viên cần biết cách phân tích, lý giải vấn đề, đánh giá, chỉ ra cho các bên đương sự thấy những lợi ích có được khi tự nguyện thỏa thuận với nhau và tự nguyện thi hành án.
Trong thực tế, có những trường hợp bản án, quyết định mà Tòa án đã tuyên không khả thi. Khi đó, nếu chấp hành viên cứ tiến hành theo đúng các quy trình, thủ tục mà pháp luật quy định để thi hành theo phán quyết của Tòa án thì không sớm thì muộn cũng sẽ đi đến bế tắc trong quá trình giải quyết. Do đó, để thi hành án thành công những vụ việc này, chấp hành viên cần phải vận động, thuyết phục và giải thích cho các bên đương sự biết rằng có thể mỗi bên phải chịu thiệt một phần so với những gì mà bản án đã tuyên để đạt được những lợi ích thực tế lớn hơn so với việc thi hành đúng theo bản án. Bí quyết của sự thành công ở đây chính là nắm vững các kỹ năng về giải quyết việc thi hành án, nắm vững các quy định của pháp luật và điều đặc biệt quan trọng là phải biết phân tích các quy định pháp luật một cách rõ ràng, dễ hiểu và “thấu tình đạt lý”.
Vận động, thuyết phục là một thủ tục không thể thiếu trong thực tiễn công tác thi hành án dân sự, vì vậy, bí quyết thành công trong thực hành kỹ năng này là chấp hành viên phải có kiến thức chuyên môn, đúc kết được kinh nghiệm thực tiễn, có sự kiên trì và linh hoạt, khôn khéo trong giải quyết từng vụ việc cụ thể. Thi hành án dân sự là lĩnh vực khó khăn, động chạm trực tiếp đến quyền lợi của các bên liên quan nên tùy từng vụ việc cụ thể chấp hành viên phải lựa chọn phương pháp, hình thức vận động, thuyết phục khác nhau. Để thành công, bên cạnh trách nhiệm còn đòi hỏi người chấp hành viên phải sự cảm thông, chia sẻ với các bên đương sự. Ngược lại, nếu việc vận động, thuyết phục không thành thì chấp hành viên phải cương quyết áp dụng biện pháp cưỡng chế, không thể lấy lý do đề cao hòa giải để trì hoãn, kéo dài thời gian thi hành án. Tuy nhiên, khi bắt buộc phải tiến hành cưỡng chế thi hành án không có nghĩa là chấm dứt việc vận động, thuyết phục. Vận động, thuyết phục phải được tiến hành ở mọi lúc, mọi nơi; trong nhiều trường hợp việc làm này mang lại thành công ngay trước thời điểm tổ chức cưỡng chế.
Hai là, kỹ năng tổ chức cưỡng chế thi hành án
Là người đưa các bản án, quyết định của Tòa án từ chỗ được “ghi nhận trên giấy tờ” trở thành được “thực hiện trong thực tiễn”, chấp hành viên là người đưa ra quyết định tạo cơ hội cho người phải thi hành án tự nguyện thi hành án trong thời gian luật định hoặc quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án - biện pháp cứng rắn và cương quyết nhất để xử lý tài sản của người phải thi hành án, buộc họ phải thi hành bản án, quyết định của Tòa án. Điều đó có ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý, cuộc sống, uy tín, danh dự... của người phải thi hành án. Vì lẽ đó, khả năng hành động khéo léo, mạnh mẽ, dứt khoát, triệt để là tố chất cần thiết mà chấp hành viên phải có trong kỹ năng cưỡng chế thi hành án. Khi áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án có huy động lực lượng khác phối hợp, chấp hành viên phải lên phương án huy động lực lượng bảo vệ và yêu cầu cơ quan công an cùng cấp lập kế hoạch tham gia bảo vệ hoạt động cưỡng chế; bởi vậy, “có khả năng phối hợp tốt với các cơ quan hữu quan trong việc thi hành án” là một yêu cầu đối với năng lực của đội ngũ chấp hành viên.
Để có được các kỹ năng nghiệp vụ trong công tác thi hành án, chấp hành viên phải luôn có ý thức học tập, không ngừng nâng cao trình độ về mọi mặt: Rèn luyện phong cách tư duy khoa học, xây dựng cho mình phương pháp làm việc khoa học, có kế hoạch, có sự chuẩn bị kỹ lưỡng về mọi mặt; luôn cầu thị thông qua trao đổi, học hỏi kinh nghiệm thực tiễn từ các đồng nghiệp... Chỉ khi đó, chấp hành viên mới có khả năng hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ được giao. Chấp hành viên, ngoài chức năng, nhiệm vụ chính là tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Toà án, còn phải thực hiện những nhiệm vụ khác theo sự phân công của thủ trưởng đơn vị, như tổng hợp, báo cáo, xây dựng các văn bản, tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương về công tác thi hành án dân sự, tiếp đương sự, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo liên quan đến việc thi hành án dân sự của đơn vị, tiếp nhận, xử lý tang vật... Nếu không thường xuyên trau dồi, nâng cao trình độ kiến thức, hiểu biết pháp luật, tri thức và kỹ năng nghiệp vụ công tác thi hành án dân sự thì chấp hành viên sẽ gặp nhiều khó khăn, vướng mắc trong công tác, ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng và hiệu quả công việc.

TS. Ngọ Văn Nhân
Đại học Luật Hà Nội

Tài liệu tham khảo:
Xem: Điểm b khoản 4 các Điều 4, 5 và 6 Thông tư số 10/2010/TT-BNV ngày 28/10/2010 của Bộ Nội vụ quy định mã số, tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức chấp hành viên và thư ký thi hành án dân sự.
Xem: Điểm d khoản 3 các Điều 4 và 5 Thông tư số 10/2010/TT-BNV ngày 28/10/2010 của Bộ Nội vụ quy định mã số, tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức chấp hành viên và thư ký thi hành án dân sự.
Xem: Điểm đ, khoản 3 các Điều 4, Điều 5 và Điều 6 Thông tư số 10/2010/TT-BNV ngày 28/10/2010 của Bộ Nội vụ quy định mã số, tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức chấp hành viên và thư ký thi hành án dân sự.
Xem: Điểm h khoản 3 Điều 4 và 5; điểm g khoản 3 Điều 6 Thông tư số 10/2010/TT-BNV ngày 28/10/2010 của Bộ Nội vụ quy định mã số, tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức chấp hành viên và thư ký thi hành án dân sự

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: