Thứ năm 19/03/2026 11:20
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Kỹ năng nghiệp vụ của chấp hành viên thi hành án dân sự

Chấp hành viên thi hành án dân sự là một chức danh tư pháp do cơ quan nhà nước có thẩm quyền bổ nhiệm theo quy trình, thủ tục nhất định khi đáp ứng đầy đủ các yêu cầu, tiêu chuẩn về chuyên môn, nghiệp vụ theo quy định của pháp luật;

Nhà nước giao nhiệm vụ tổ chức thi hành hoặc trực tiếp thi hành các bản án, quyết định theo quy định của pháp luật; được sử dụng quyền lực nhà nước để tổ chức thi hành án dân sự. Hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự được thực hiện chủ yếu thông qua hoạt động của đội ngũ chấp hành viên, về bản chất, là hoạt động áp dụng pháp luật; do đó, các hoạt động tác nghiệp của đội ngũ chấp hành viên phải tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật về nguyên tắc, trình tự, thủ tục thi hành án dân sự. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, trong một số trường hợp, việc áp dụng pháp luật một cách đơn giản, cứng nhắc lại không đạt được hiệu quả, kết quả như mong muốn, mà có khi lại dẫn đến tình trạng bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng không thể thi hành được trên thực tế hoặc có thi hành được thì hậu quả xã hội xảy ra lại rất khó khắc phục. Điều này rất dễ nhận thấy ở những vụ cưỡng chế thi hành án lớn mà gần đây các phương tiện truyền thông đưa tin. Nói như vậy không có nghĩa là để giải quyết được các vụ việc thi hành án dân sự thì chấp hành viên buộc phải vi phạm về mặt tố tụng hay lách luật, mà thực ra là đòi hỏi người chấp hành viên phải có năng lực chuyên môn, nghiệp vụ để có thể áp dụng pháp luật một cách năng động, linh hoạt, khéo léo. Năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của chấp hành viên thi hành án dân sự, về cơ bản, bao gồm các yếu tố như trình độ kiến thức, hiểu biết pháp luật; ý thức pháp luật nghề nghiệp; kỹ năng nghiệp vụ công tác; phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống... Trong phạm vi bài viết này, tác giả chỉ luận bàn về kỹ năng nghiệp vụ công tác thi hành án dân sự của chấp hành viên - một trong những yếu tố rất quan trọng tạo nên năng lực của chấp hành viên.

Trước hết, để có kỹ năng nghiệp vụ công tác thi hành án dân sự thì chấp hành viên, ngoài trình độ kiến thức, hiểu biết pháp luật, phải có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ là những kiến thức chuyên sâu về một lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp nào đó, được thể hiện qua những trình độ như sơ cấp, trung cấp, cao cấp... Đây là những kiến thức bắt buộc phải có đối với đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước nói chung, đội ngũ chấp hành viên nói riêng khi thực hiện các chức trách, nhiệm vụ được giao.
Kiến thức về kỹ năng nghiệp vụ trong một lĩnh vực công tác cụ thể là một trong những yếu tố đặc biệt quan trọng để đánh giá kỹ năng nghiệp vụ của mỗi người. Không thể nói một người cán bộ, công chức có kỹ năng nghiệp vụ công tác tốt mà lại thiếu kiến thức, hiểu biết về chuyên môn, nghiệp vụ thuộc lĩnh vực công tác mà họ đang đảm nhiệm. Hoạt động thi hành án dân sự là lĩnh vực hoạt động có tính chất nghề nghiệp chuyên biệt, chuyên sâu nên đòi hỏi đội ngũ chấp hành viên phải có kiến thức nghiệp vụ vững vàng. Vì vậy, theo quy định của pháp luật, để một người được bổ nhiệm làm chấp hành viên thì ngoài tiêu chuẩn phải có trình độ cử nhân chuyên ngành luật trở lên và có thời gian công tác nhất định trong lĩnh vực pháp luật, người đó còn phải có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ ngạch chấp hành viên cao cấp, trung cấp, sơ cấp theo nội dung, chương trình của Bộ Tư pháp[1]. Việc tham gia học tập đầy đủ, nghiêm túc các chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ sẽ giúp đội ngũ chấp hành viên có năng lực áp dụng thành thạo các nguyên tắc, chế độ, thủ tục về nghiệp vụ thi hành án dân sự[2]. Bên cạnh đó, chấp hành viên cần phải thường xuyên tìm hiểu, cập nhật, tích luỹ kiến thức về kỹ năng nghiệp vụ bằng cách tự học hỏi, tự đúc rút kinh nghiệm thông qua trao đổi chuyên môn, nghiệp vụ với đồng nghiệp cũng như qua hoạt động thực tiễn hoạt động thi hành án dân sự. Ngoài trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, chấp hành viên còn cần có sự hiểu biết rộng rãi về các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, theo quy định của pháp luật, chấp hành viên cao cấp phải am hiểu sâu rộng tình hình kinh tế, xã hội trong nước và quốc tế; chấp hành viên trung cấp phải nắm chắc tình hình kinh tế, xã hội của địa phương, của đất nước; còn chấp hành viên sơ cấp cần nắm được tình hình kinh tế, xã hội ở địa phương[3].
Để hỗ trợ đắc lực cho hoạt động nghiệp vụ, chấp hành viên còn cần có trình độ ngoại ngữ và tin học. Tùy theo yêu cầu công việc của từng ngạch chấp hành viên mà yêu cầu, kỹ năng sử dụng thành thạo ngoại ngữ và tin học là một trong những công cụ để chấp hành viên tăng cường giao lưu, hợp tác quốc tế, xử lý các vụ việc thi hành án dân sự có yếu tố nước ngoài, tra cứu thông tin trên mạng Internet và soạn thảo các văn bản, quyết định thi hành án... Vì lẽ đó, theo quy định tại Thông tư số 10/2010/TT-BNV ngày 28/10/2010 của Bộ Nội vụ quy định mã số, tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức chấp hành viên và thư ký thi hành án dân sự, về ngoại ngữ, chấp hành viên cao cấp cần có ngoại ngữ trình độ C trở lên; chấp hành viên trung cấp và sơ cấp cần có ngoại ngữ trình độ B trở lên (một trong năm thứ tiếng: Anh, Pháp, Nga, Đức, Trung Quốc) hoặc một ngoại ngữ khác theo yêu cầu của vị trí làm việc. Về tin học, chấp hành viên cần có trình độ tin học văn phòng với yêu cầu sử dụng thành thạo (đối với chấp hành viên cao cấp và trung cấp) hoặc sử dụng được (đối với chấp hành viên sơ cấp) các kỹ năng của Microsoft Word, Microsoft Excel, Internet để phục vụ công tác chuyên môn.
Kỹ năng nghiệp vụ công tác của chấp hành viên là khả năng vận dụng thành thạo và khéo léo tất cả những kiến thức và kinh nghiệm mà mình có được vào việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ tổ chức thi hành án dân sự nhằm đạt được hiệu quả cao nhất với mức chi phí thấp nhất cả về thời gian, công sức và kinh tế. Kỹ năng nghiệp vụ của chấp hành viên được biểu hiện cụ thể trên nhiều mặt, như kỹ năng soạn thảo văn bản và các quyết định về thi hành án; kỹ năng xây dựng kế hoạch tổ chức thi hành án, kỹ năng độc lập tổ chức thực hiện công việc được giao; kỹ năng vận động, thuyết phục người phải thi hành án tự nguyện thi hành án; kỹ năng hòa giải những mâu thuẫn giữa các bên đương sự; kỹ năng phối kết hợp với các đồng nghiệp và cơ quan hữu quan trong việc giải quyết thi hành án dân sự; kỹ năng lập kế hoạch và phương án cưỡng chế thi hành án, tổ chức cưỡng chế và chỉ huy lực lượng cưỡng chế thi hành án; kỹ năng tham mưu cho thủ trưởng đơn vị cũng như Ban chỉ đạo thi hành án địa phương trong công tác thi hành án dân sự... Trong số những kỹ năng nghiệp vụ cụ thể nêu trên thì chấp hành viên ít nhất phải thuần thục hai kỹ năng chính là: Kỹ năng thuyết phục, vận động người phải thi hành án tự nguyện thi hành án và kỹ năng lập kế hoạch, tổ chức cưỡng chế thi hành án.
Một là, kỹ năng thuyết phục,vận động người phải thi hành án tự nguyện thi hành án
Bản án, quyết định của Tòa án đã tuyên và có hiệu lực pháp luật là căn cứ, cơ sở pháp lý để tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, để có thể thi hành một cách có hiệu quả trên thực tế những bản án, quyết định đó thì đòi hỏi chấp hành viên phải biết kết hợp hài hòa giữa “cái tình” và “cái lý” sao cho “thấu tình đạt lý” trong quá trình giải quyết vụ việc. Điều này chỉ có thể được hiện thực hóa khi chấp hành viên có kỹ năng vận động, thuyết phục - một kỹ năng đặc biệt quan trọng, được coi là “chiếc chìa khóa vàng” trong giải quyết các tranh chấp dân sự nói chung và trong quá trình giải quyết việc thi hành án dân sự nói riêng. Đây cũng là một trong những kỹ năng được quy định trong tiêu chuẩn về năng lực của chấp hành viên thi hành án dân sự: “Có khả năng giáo dục, thuyết phục đương sự thi hành bản án, quyết định của Tòa án”[4].
Thông thường, để giải quyết một vấn đề hay công việc nào đó, mỗi người cần nhờ sự hợp tác, giúp đỡ của người khác. Điều đó đòi hỏi giữa các bên phải có sự thống nhất về quan điểm, lập trường giải quyết công việc. Tuy nhiên, thực tế tổ chức thi hành án dân sự cho thấy, giữa chấp hành viên với người phải thi hành án và các bên đương sự thường không cùng chung ý kiến, quan điểm với nhau; bởi vậy, việc tổ chức thi hành án dân sự có đạt được hiệu quả như mong muốn của các bên hay không sẽ phụ thuộc rất nhiều vào kỹ năng vận động, thuyết phục của chấp hành viên đối với các bên đương sự. Để tìm kiếm sự đồng thuận giữa các bên, chấp hành viên cần đưa ra được những tình tiết, sự kiện, lý lẽ để định hướng, phân tích, giải thích cho đối tượng thấy đúng đắn, hợp lý, hợp tình mà tin tưởng và làm theo. Để thực hiện tốt kỹ năng vận động, thuyết phục không phải là vấn đề đơn giản, đòi hỏi chấp hành viên thi hành án dân sự phải thực sự nhiệt tình, tâm huyết với công việc được giao. Việc vận động, thuyết phục đương sự chấp thuận thi hành án dân sự không chỉ là gặp gỡ, làm việc riêng với đương sự, mà trong nhiều trường hợp chấp hành viên còn phải tìm cách tác động đến gia đình, người thân của đương sự, bàn bạc với chính quyền địa phương nơi đương sự đang cư trú, với cơ quan nơi đương sự đang làm việc để cùng phối hợp vận động, thuyết phục. Chấp hành viên không chỉ đơn thuần giữ cương vị của người tổ chức thi hành bản án dân sự, mà có lúc còn phải đảm nhận vai trò tư vấn, trao đổi, gợi ý họ nên sử dụng tài sản nào để thi hành án một cách thuận tiện và có lợi nhất. Để nâng cao hiệu quả vận động, thuyết phục đương sự tự nguyện thi hành án, chấp hành viên cần biết cách phân tích, lý giải vấn đề, đánh giá, chỉ ra cho các bên đương sự thấy những lợi ích có được khi tự nguyện thỏa thuận với nhau và tự nguyện thi hành án.
Trong thực tế, có những trường hợp bản án, quyết định mà Tòa án đã tuyên không khả thi. Khi đó, nếu chấp hành viên cứ tiến hành theo đúng các quy trình, thủ tục mà pháp luật quy định để thi hành theo phán quyết của Tòa án thì không sớm thì muộn cũng sẽ đi đến bế tắc trong quá trình giải quyết. Do đó, để thi hành án thành công những vụ việc này, chấp hành viên cần phải vận động, thuyết phục và giải thích cho các bên đương sự biết rằng có thể mỗi bên phải chịu thiệt một phần so với những gì mà bản án đã tuyên để đạt được những lợi ích thực tế lớn hơn so với việc thi hành đúng theo bản án. Bí quyết của sự thành công ở đây chính là nắm vững các kỹ năng về giải quyết việc thi hành án, nắm vững các quy định của pháp luật và điều đặc biệt quan trọng là phải biết phân tích các quy định pháp luật một cách rõ ràng, dễ hiểu và “thấu tình đạt lý”.
Vận động, thuyết phục là một thủ tục không thể thiếu trong thực tiễn công tác thi hành án dân sự, vì vậy, bí quyết thành công trong thực hành kỹ năng này là chấp hành viên phải có kiến thức chuyên môn, đúc kết được kinh nghiệm thực tiễn, có sự kiên trì và linh hoạt, khôn khéo trong giải quyết từng vụ việc cụ thể. Thi hành án dân sự là lĩnh vực khó khăn, động chạm trực tiếp đến quyền lợi của các bên liên quan nên tùy từng vụ việc cụ thể chấp hành viên phải lựa chọn phương pháp, hình thức vận động, thuyết phục khác nhau. Để thành công, bên cạnh trách nhiệm còn đòi hỏi người chấp hành viên phải sự cảm thông, chia sẻ với các bên đương sự. Ngược lại, nếu việc vận động, thuyết phục không thành thì chấp hành viên phải cương quyết áp dụng biện pháp cưỡng chế, không thể lấy lý do đề cao hòa giải để trì hoãn, kéo dài thời gian thi hành án. Tuy nhiên, khi bắt buộc phải tiến hành cưỡng chế thi hành án không có nghĩa là chấm dứt việc vận động, thuyết phục. Vận động, thuyết phục phải được tiến hành ở mọi lúc, mọi nơi; trong nhiều trường hợp việc làm này mang lại thành công ngay trước thời điểm tổ chức cưỡng chế.
Hai là, kỹ năng tổ chức cưỡng chế thi hành án
Là người đưa các bản án, quyết định của Tòa án từ chỗ được “ghi nhận trên giấy tờ” trở thành được “thực hiện trong thực tiễn”, chấp hành viên là người đưa ra quyết định tạo cơ hội cho người phải thi hành án tự nguyện thi hành án trong thời gian luật định hoặc quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án - biện pháp cứng rắn và cương quyết nhất để xử lý tài sản của người phải thi hành án, buộc họ phải thi hành bản án, quyết định của Tòa án. Điều đó có ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý, cuộc sống, uy tín, danh dự... của người phải thi hành án. Vì lẽ đó, khả năng hành động khéo léo, mạnh mẽ, dứt khoát, triệt để là tố chất cần thiết mà chấp hành viên phải có trong kỹ năng cưỡng chế thi hành án. Khi áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án có huy động lực lượng khác phối hợp, chấp hành viên phải lên phương án huy động lực lượng bảo vệ và yêu cầu cơ quan công an cùng cấp lập kế hoạch tham gia bảo vệ hoạt động cưỡng chế; bởi vậy, “có khả năng phối hợp tốt với các cơ quan hữu quan trong việc thi hành án” là một yêu cầu đối với năng lực của đội ngũ chấp hành viên.
Để có được các kỹ năng nghiệp vụ trong công tác thi hành án, chấp hành viên phải luôn có ý thức học tập, không ngừng nâng cao trình độ về mọi mặt: Rèn luyện phong cách tư duy khoa học, xây dựng cho mình phương pháp làm việc khoa học, có kế hoạch, có sự chuẩn bị kỹ lưỡng về mọi mặt; luôn cầu thị thông qua trao đổi, học hỏi kinh nghiệm thực tiễn từ các đồng nghiệp... Chỉ khi đó, chấp hành viên mới có khả năng hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ được giao. Chấp hành viên, ngoài chức năng, nhiệm vụ chính là tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Toà án, còn phải thực hiện những nhiệm vụ khác theo sự phân công của thủ trưởng đơn vị, như tổng hợp, báo cáo, xây dựng các văn bản, tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương về công tác thi hành án dân sự, tiếp đương sự, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo liên quan đến việc thi hành án dân sự của đơn vị, tiếp nhận, xử lý tang vật... Nếu không thường xuyên trau dồi, nâng cao trình độ kiến thức, hiểu biết pháp luật, tri thức và kỹ năng nghiệp vụ công tác thi hành án dân sự thì chấp hành viên sẽ gặp nhiều khó khăn, vướng mắc trong công tác, ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng và hiệu quả công việc.

TS. Ngọ Văn Nhân
Đại học Luật Hà Nội

Tài liệu tham khảo:
Xem: Điểm b khoản 4 các Điều 4, 5 và 6 Thông tư số 10/2010/TT-BNV ngày 28/10/2010 của Bộ Nội vụ quy định mã số, tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức chấp hành viên và thư ký thi hành án dân sự.
Xem: Điểm d khoản 3 các Điều 4 và 5 Thông tư số 10/2010/TT-BNV ngày 28/10/2010 của Bộ Nội vụ quy định mã số, tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức chấp hành viên và thư ký thi hành án dân sự.
Xem: Điểm đ, khoản 3 các Điều 4, Điều 5 và Điều 6 Thông tư số 10/2010/TT-BNV ngày 28/10/2010 của Bộ Nội vụ quy định mã số, tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức chấp hành viên và thư ký thi hành án dân sự.
Xem: Điểm h khoản 3 Điều 4 và 5; điểm g khoản 3 Điều 6 Thông tư số 10/2010/TT-BNV ngày 28/10/2010 của Bộ Nội vụ quy định mã số, tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức chấp hành viên và thư ký thi hành án dân sự

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ tại Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Theo dõi chúng tôi trên: