Chủ nhật 08/02/2026 06:48
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Kỹ năng nghiệp vụ của chấp hành viên thi hành án dân sự

Chấp hành viên thi hành án dân sự là một chức danh tư pháp do cơ quan nhà nước có thẩm quyền bổ nhiệm theo quy trình, thủ tục nhất định khi đáp ứng đầy đủ các yêu cầu, tiêu chuẩn về chuyên môn, nghiệp vụ theo quy định của pháp luật;

Nhà nước giao nhiệm vụ tổ chức thi hành hoặc trực tiếp thi hành các bản án, quyết định theo quy định của pháp luật; được sử dụng quyền lực nhà nước để tổ chức thi hành án dân sự. Hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự được thực hiện chủ yếu thông qua hoạt động của đội ngũ chấp hành viên, về bản chất, là hoạt động áp dụng pháp luật; do đó, các hoạt động tác nghiệp của đội ngũ chấp hành viên phải tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật về nguyên tắc, trình tự, thủ tục thi hành án dân sự. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, trong một số trường hợp, việc áp dụng pháp luật một cách đơn giản, cứng nhắc lại không đạt được hiệu quả, kết quả như mong muốn, mà có khi lại dẫn đến tình trạng bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng không thể thi hành được trên thực tế hoặc có thi hành được thì hậu quả xã hội xảy ra lại rất khó khắc phục. Điều này rất dễ nhận thấy ở những vụ cưỡng chế thi hành án lớn mà gần đây các phương tiện truyền thông đưa tin. Nói như vậy không có nghĩa là để giải quyết được các vụ việc thi hành án dân sự thì chấp hành viên buộc phải vi phạm về mặt tố tụng hay lách luật, mà thực ra là đòi hỏi người chấp hành viên phải có năng lực chuyên môn, nghiệp vụ để có thể áp dụng pháp luật một cách năng động, linh hoạt, khéo léo. Năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của chấp hành viên thi hành án dân sự, về cơ bản, bao gồm các yếu tố như trình độ kiến thức, hiểu biết pháp luật; ý thức pháp luật nghề nghiệp; kỹ năng nghiệp vụ công tác; phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống... Trong phạm vi bài viết này, tác giả chỉ luận bàn về kỹ năng nghiệp vụ công tác thi hành án dân sự của chấp hành viên - một trong những yếu tố rất quan trọng tạo nên năng lực của chấp hành viên.

Trước hết, để có kỹ năng nghiệp vụ công tác thi hành án dân sự thì chấp hành viên, ngoài trình độ kiến thức, hiểu biết pháp luật, phải có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ là những kiến thức chuyên sâu về một lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp nào đó, được thể hiện qua những trình độ như sơ cấp, trung cấp, cao cấp... Đây là những kiến thức bắt buộc phải có đối với đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước nói chung, đội ngũ chấp hành viên nói riêng khi thực hiện các chức trách, nhiệm vụ được giao.
Kiến thức về kỹ năng nghiệp vụ trong một lĩnh vực công tác cụ thể là một trong những yếu tố đặc biệt quan trọng để đánh giá kỹ năng nghiệp vụ của mỗi người. Không thể nói một người cán bộ, công chức có kỹ năng nghiệp vụ công tác tốt mà lại thiếu kiến thức, hiểu biết về chuyên môn, nghiệp vụ thuộc lĩnh vực công tác mà họ đang đảm nhiệm. Hoạt động thi hành án dân sự là lĩnh vực hoạt động có tính chất nghề nghiệp chuyên biệt, chuyên sâu nên đòi hỏi đội ngũ chấp hành viên phải có kiến thức nghiệp vụ vững vàng. Vì vậy, theo quy định của pháp luật, để một người được bổ nhiệm làm chấp hành viên thì ngoài tiêu chuẩn phải có trình độ cử nhân chuyên ngành luật trở lên và có thời gian công tác nhất định trong lĩnh vực pháp luật, người đó còn phải có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ ngạch chấp hành viên cao cấp, trung cấp, sơ cấp theo nội dung, chương trình của Bộ Tư pháp[1]. Việc tham gia học tập đầy đủ, nghiêm túc các chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ sẽ giúp đội ngũ chấp hành viên có năng lực áp dụng thành thạo các nguyên tắc, chế độ, thủ tục về nghiệp vụ thi hành án dân sự[2]. Bên cạnh đó, chấp hành viên cần phải thường xuyên tìm hiểu, cập nhật, tích luỹ kiến thức về kỹ năng nghiệp vụ bằng cách tự học hỏi, tự đúc rút kinh nghiệm thông qua trao đổi chuyên môn, nghiệp vụ với đồng nghiệp cũng như qua hoạt động thực tiễn hoạt động thi hành án dân sự. Ngoài trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, chấp hành viên còn cần có sự hiểu biết rộng rãi về các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, theo quy định của pháp luật, chấp hành viên cao cấp phải am hiểu sâu rộng tình hình kinh tế, xã hội trong nước và quốc tế; chấp hành viên trung cấp phải nắm chắc tình hình kinh tế, xã hội của địa phương, của đất nước; còn chấp hành viên sơ cấp cần nắm được tình hình kinh tế, xã hội ở địa phương[3].
Để hỗ trợ đắc lực cho hoạt động nghiệp vụ, chấp hành viên còn cần có trình độ ngoại ngữ và tin học. Tùy theo yêu cầu công việc của từng ngạch chấp hành viên mà yêu cầu, kỹ năng sử dụng thành thạo ngoại ngữ và tin học là một trong những công cụ để chấp hành viên tăng cường giao lưu, hợp tác quốc tế, xử lý các vụ việc thi hành án dân sự có yếu tố nước ngoài, tra cứu thông tin trên mạng Internet và soạn thảo các văn bản, quyết định thi hành án... Vì lẽ đó, theo quy định tại Thông tư số 10/2010/TT-BNV ngày 28/10/2010 của Bộ Nội vụ quy định mã số, tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức chấp hành viên và thư ký thi hành án dân sự, về ngoại ngữ, chấp hành viên cao cấp cần có ngoại ngữ trình độ C trở lên; chấp hành viên trung cấp và sơ cấp cần có ngoại ngữ trình độ B trở lên (một trong năm thứ tiếng: Anh, Pháp, Nga, Đức, Trung Quốc) hoặc một ngoại ngữ khác theo yêu cầu của vị trí làm việc. Về tin học, chấp hành viên cần có trình độ tin học văn phòng với yêu cầu sử dụng thành thạo (đối với chấp hành viên cao cấp và trung cấp) hoặc sử dụng được (đối với chấp hành viên sơ cấp) các kỹ năng của Microsoft Word, Microsoft Excel, Internet để phục vụ công tác chuyên môn.
Kỹ năng nghiệp vụ công tác của chấp hành viên là khả năng vận dụng thành thạo và khéo léo tất cả những kiến thức và kinh nghiệm mà mình có được vào việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ tổ chức thi hành án dân sự nhằm đạt được hiệu quả cao nhất với mức chi phí thấp nhất cả về thời gian, công sức và kinh tế. Kỹ năng nghiệp vụ của chấp hành viên được biểu hiện cụ thể trên nhiều mặt, như kỹ năng soạn thảo văn bản và các quyết định về thi hành án; kỹ năng xây dựng kế hoạch tổ chức thi hành án, kỹ năng độc lập tổ chức thực hiện công việc được giao; kỹ năng vận động, thuyết phục người phải thi hành án tự nguyện thi hành án; kỹ năng hòa giải những mâu thuẫn giữa các bên đương sự; kỹ năng phối kết hợp với các đồng nghiệp và cơ quan hữu quan trong việc giải quyết thi hành án dân sự; kỹ năng lập kế hoạch và phương án cưỡng chế thi hành án, tổ chức cưỡng chế và chỉ huy lực lượng cưỡng chế thi hành án; kỹ năng tham mưu cho thủ trưởng đơn vị cũng như Ban chỉ đạo thi hành án địa phương trong công tác thi hành án dân sự... Trong số những kỹ năng nghiệp vụ cụ thể nêu trên thì chấp hành viên ít nhất phải thuần thục hai kỹ năng chính là: Kỹ năng thuyết phục, vận động người phải thi hành án tự nguyện thi hành án và kỹ năng lập kế hoạch, tổ chức cưỡng chế thi hành án.
Một là, kỹ năng thuyết phục,vận động người phải thi hành án tự nguyện thi hành án
Bản án, quyết định của Tòa án đã tuyên và có hiệu lực pháp luật là căn cứ, cơ sở pháp lý để tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, để có thể thi hành một cách có hiệu quả trên thực tế những bản án, quyết định đó thì đòi hỏi chấp hành viên phải biết kết hợp hài hòa giữa “cái tình” và “cái lý” sao cho “thấu tình đạt lý” trong quá trình giải quyết vụ việc. Điều này chỉ có thể được hiện thực hóa khi chấp hành viên có kỹ năng vận động, thuyết phục - một kỹ năng đặc biệt quan trọng, được coi là “chiếc chìa khóa vàng” trong giải quyết các tranh chấp dân sự nói chung và trong quá trình giải quyết việc thi hành án dân sự nói riêng. Đây cũng là một trong những kỹ năng được quy định trong tiêu chuẩn về năng lực của chấp hành viên thi hành án dân sự: “Có khả năng giáo dục, thuyết phục đương sự thi hành bản án, quyết định của Tòa án”[4].
Thông thường, để giải quyết một vấn đề hay công việc nào đó, mỗi người cần nhờ sự hợp tác, giúp đỡ của người khác. Điều đó đòi hỏi giữa các bên phải có sự thống nhất về quan điểm, lập trường giải quyết công việc. Tuy nhiên, thực tế tổ chức thi hành án dân sự cho thấy, giữa chấp hành viên với người phải thi hành án và các bên đương sự thường không cùng chung ý kiến, quan điểm với nhau; bởi vậy, việc tổ chức thi hành án dân sự có đạt được hiệu quả như mong muốn của các bên hay không sẽ phụ thuộc rất nhiều vào kỹ năng vận động, thuyết phục của chấp hành viên đối với các bên đương sự. Để tìm kiếm sự đồng thuận giữa các bên, chấp hành viên cần đưa ra được những tình tiết, sự kiện, lý lẽ để định hướng, phân tích, giải thích cho đối tượng thấy đúng đắn, hợp lý, hợp tình mà tin tưởng và làm theo. Để thực hiện tốt kỹ năng vận động, thuyết phục không phải là vấn đề đơn giản, đòi hỏi chấp hành viên thi hành án dân sự phải thực sự nhiệt tình, tâm huyết với công việc được giao. Việc vận động, thuyết phục đương sự chấp thuận thi hành án dân sự không chỉ là gặp gỡ, làm việc riêng với đương sự, mà trong nhiều trường hợp chấp hành viên còn phải tìm cách tác động đến gia đình, người thân của đương sự, bàn bạc với chính quyền địa phương nơi đương sự đang cư trú, với cơ quan nơi đương sự đang làm việc để cùng phối hợp vận động, thuyết phục. Chấp hành viên không chỉ đơn thuần giữ cương vị của người tổ chức thi hành bản án dân sự, mà có lúc còn phải đảm nhận vai trò tư vấn, trao đổi, gợi ý họ nên sử dụng tài sản nào để thi hành án một cách thuận tiện và có lợi nhất. Để nâng cao hiệu quả vận động, thuyết phục đương sự tự nguyện thi hành án, chấp hành viên cần biết cách phân tích, lý giải vấn đề, đánh giá, chỉ ra cho các bên đương sự thấy những lợi ích có được khi tự nguyện thỏa thuận với nhau và tự nguyện thi hành án.
Trong thực tế, có những trường hợp bản án, quyết định mà Tòa án đã tuyên không khả thi. Khi đó, nếu chấp hành viên cứ tiến hành theo đúng các quy trình, thủ tục mà pháp luật quy định để thi hành theo phán quyết của Tòa án thì không sớm thì muộn cũng sẽ đi đến bế tắc trong quá trình giải quyết. Do đó, để thi hành án thành công những vụ việc này, chấp hành viên cần phải vận động, thuyết phục và giải thích cho các bên đương sự biết rằng có thể mỗi bên phải chịu thiệt một phần so với những gì mà bản án đã tuyên để đạt được những lợi ích thực tế lớn hơn so với việc thi hành đúng theo bản án. Bí quyết của sự thành công ở đây chính là nắm vững các kỹ năng về giải quyết việc thi hành án, nắm vững các quy định của pháp luật và điều đặc biệt quan trọng là phải biết phân tích các quy định pháp luật một cách rõ ràng, dễ hiểu và “thấu tình đạt lý”.
Vận động, thuyết phục là một thủ tục không thể thiếu trong thực tiễn công tác thi hành án dân sự, vì vậy, bí quyết thành công trong thực hành kỹ năng này là chấp hành viên phải có kiến thức chuyên môn, đúc kết được kinh nghiệm thực tiễn, có sự kiên trì và linh hoạt, khôn khéo trong giải quyết từng vụ việc cụ thể. Thi hành án dân sự là lĩnh vực khó khăn, động chạm trực tiếp đến quyền lợi của các bên liên quan nên tùy từng vụ việc cụ thể chấp hành viên phải lựa chọn phương pháp, hình thức vận động, thuyết phục khác nhau. Để thành công, bên cạnh trách nhiệm còn đòi hỏi người chấp hành viên phải sự cảm thông, chia sẻ với các bên đương sự. Ngược lại, nếu việc vận động, thuyết phục không thành thì chấp hành viên phải cương quyết áp dụng biện pháp cưỡng chế, không thể lấy lý do đề cao hòa giải để trì hoãn, kéo dài thời gian thi hành án. Tuy nhiên, khi bắt buộc phải tiến hành cưỡng chế thi hành án không có nghĩa là chấm dứt việc vận động, thuyết phục. Vận động, thuyết phục phải được tiến hành ở mọi lúc, mọi nơi; trong nhiều trường hợp việc làm này mang lại thành công ngay trước thời điểm tổ chức cưỡng chế.
Hai là, kỹ năng tổ chức cưỡng chế thi hành án
Là người đưa các bản án, quyết định của Tòa án từ chỗ được “ghi nhận trên giấy tờ” trở thành được “thực hiện trong thực tiễn”, chấp hành viên là người đưa ra quyết định tạo cơ hội cho người phải thi hành án tự nguyện thi hành án trong thời gian luật định hoặc quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án - biện pháp cứng rắn và cương quyết nhất để xử lý tài sản của người phải thi hành án, buộc họ phải thi hành bản án, quyết định của Tòa án. Điều đó có ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý, cuộc sống, uy tín, danh dự... của người phải thi hành án. Vì lẽ đó, khả năng hành động khéo léo, mạnh mẽ, dứt khoát, triệt để là tố chất cần thiết mà chấp hành viên phải có trong kỹ năng cưỡng chế thi hành án. Khi áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án có huy động lực lượng khác phối hợp, chấp hành viên phải lên phương án huy động lực lượng bảo vệ và yêu cầu cơ quan công an cùng cấp lập kế hoạch tham gia bảo vệ hoạt động cưỡng chế; bởi vậy, “có khả năng phối hợp tốt với các cơ quan hữu quan trong việc thi hành án” là một yêu cầu đối với năng lực của đội ngũ chấp hành viên.
Để có được các kỹ năng nghiệp vụ trong công tác thi hành án, chấp hành viên phải luôn có ý thức học tập, không ngừng nâng cao trình độ về mọi mặt: Rèn luyện phong cách tư duy khoa học, xây dựng cho mình phương pháp làm việc khoa học, có kế hoạch, có sự chuẩn bị kỹ lưỡng về mọi mặt; luôn cầu thị thông qua trao đổi, học hỏi kinh nghiệm thực tiễn từ các đồng nghiệp... Chỉ khi đó, chấp hành viên mới có khả năng hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ được giao. Chấp hành viên, ngoài chức năng, nhiệm vụ chính là tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Toà án, còn phải thực hiện những nhiệm vụ khác theo sự phân công của thủ trưởng đơn vị, như tổng hợp, báo cáo, xây dựng các văn bản, tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương về công tác thi hành án dân sự, tiếp đương sự, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo liên quan đến việc thi hành án dân sự của đơn vị, tiếp nhận, xử lý tang vật... Nếu không thường xuyên trau dồi, nâng cao trình độ kiến thức, hiểu biết pháp luật, tri thức và kỹ năng nghiệp vụ công tác thi hành án dân sự thì chấp hành viên sẽ gặp nhiều khó khăn, vướng mắc trong công tác, ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng và hiệu quả công việc.

TS. Ngọ Văn Nhân
Đại học Luật Hà Nội

Tài liệu tham khảo:
Xem: Điểm b khoản 4 các Điều 4, 5 và 6 Thông tư số 10/2010/TT-BNV ngày 28/10/2010 của Bộ Nội vụ quy định mã số, tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức chấp hành viên và thư ký thi hành án dân sự.
Xem: Điểm d khoản 3 các Điều 4 và 5 Thông tư số 10/2010/TT-BNV ngày 28/10/2010 của Bộ Nội vụ quy định mã số, tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức chấp hành viên và thư ký thi hành án dân sự.
Xem: Điểm đ, khoản 3 các Điều 4, Điều 5 và Điều 6 Thông tư số 10/2010/TT-BNV ngày 28/10/2010 của Bộ Nội vụ quy định mã số, tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức chấp hành viên và thư ký thi hành án dân sự.
Xem: Điểm h khoản 3 Điều 4 và 5; điểm g khoản 3 Điều 6 Thông tư số 10/2010/TT-BNV ngày 28/10/2010 của Bộ Nội vụ quy định mã số, tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức chấp hành viên và thư ký thi hành án dân sự

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Ngày 10/12/2025, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV thông qua Luật Bảo hiểm tiền gửi số 111/2025/QH15, thay thế Luật Bảo hiểm tiền gửi số 06/2012/QH13 với các quy định nhằm tạo hành lang pháp lý đầy đủ, rõ ràng để tổ chức bảo hiểm tiền gửi nâng cao năng lực tài chính và tham gia hiệu quả vào quá trình cơ cấu lại tổ chức tín dụng, qua đó bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền, bảo đảm duy trì sự ổn định của hệ thống tổ chức tín dụng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội theo định hướng tại Chiến lược phát triển bảo hiểm tiền gửi và Chiến lược ngành ngân hàng. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2026.
Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:

Theo dõi chúng tôi trên: