Thứ tư 29/04/2026 10:37
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Lựa chọn nguồn để công bố án lệ

Việc quy định án lệ trong hệ thống pháp luật Việt Nam là một nội dung quan trọng, án lệ không chỉ giúp cho những người làm công tác pháp luật thuận lợi trong quá trình áp dụng pháp luật, mà còn có vai trò trong việc khắc phục được những lỗ hổng, hạn chế của hệ thống pháp luật một cách nhanh chóng, kịp thời, trong trường hợp pháp luật chưa dự liệu hết tình huống, sự kiện pháp lý xảy ra trong đời sống thực tiễn.

Tuy nhiên, để lựa chọn được nguồn là những bản án, quyết định của Tòa án làm án lệ là một nội dung rất phức tạp và quan trọng. Vừa qua, Tòa án nhân dân tối cao cũng đã tổ chức lấy ý kiến đối với 35 bản án, quyết định được lựa chọn làm nguồn để công bố làm án lệ. Về cơ bản, tác giả đồng tình và nhất trí với các bản án, quyết định đưa vào làm nguồn và công bố án lệ lần này. Song, vẫn còn có nội dung trong bản án, quyết định cần trao đổi thêm và một số bản án, quyết định cần cân nhắc không nên đưa làm án lệ.

Theo quy định tại Điều 1 Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP ngày 28/10/2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ: Án lệ là những lập luận, phán quyết trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án về một vụ việc cụ thể được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao lựa chọn và được Chánh án Tòa án nhân dân tối cao công bố là án lệ để các Tòa án nghiên cứu, áp dụng trong xét xử. Điều 2 của Nghị quyết này quy định: Tiêu chí lựa chọn án lệ là án lệ phải chứa đựng lập luận để làm rõ quy định của pháp luật còn có cách hiểu khác nhau; phân tích, giải thích các vấn đề, sự kiện pháp lý và chỉ ra nguyên tắc, đường lối xử lý, quy phạm pháp luật cần áp dụng trong một vụ việc cụ thể; có tính chuẩn mực; có giá trị hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử, bảo đảm những vụ việc có tình tiết, sự kiện pháp lý như nhau thì phải được giải quyết như nhau.

Như vậy, án lệ trước hết là những lập luận, phán quyết trong một bản án, quyết định cụ thể về một sự việc cụ thể, chứ không phải phán quyết lập luận chung chung và những bản án, quyết định này phải được Chánh án Tòa án nhân dân tối cao công bố trên cơ sở lựa chọn của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Mục tiêu của việc áp dụng án lệ là góp phần khắc phục những khiếm khuyết của hệ thống pháp luật, những quy định phức tạp của pháp luật còn chưa rõ ràng, còn có nhiều cách hiểu khác nhau hoặc những vấn đề chưa quy định hoặc quy định nhưng chưa cụ thể. Giá trị của án lệ thể hiện ở những lập luận, phán quyết có tính chuẩn mực của Tòa án về một vụ việc cụ thể được vận dụng để giải quyết một vụ việc cụ thể khác, bảo đảm rằng những vụ việc như nhau được giải quyết giống nhau, bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử. Do vậy, khi nghiên cứu giải quyết các vụ việc có án lệ thì họ yên tâm hơn trong việc áp dụng pháp luật, tự tin về tính minh bạch, công bằng của pháp luật, đồng thời cũng nâng cao năng lực thực tiễn của thẩm phán trong giải quyết các vụ án. Ngoài ra, án lệ khi được công khai còn giúp cho mọi người có cách xử sự dễ dàng hơn trong cuộc sống mỗi khi gặp sự việc tương tự xảy ra đối với cá nhân mình; đồng thời sẽ hạn chế những bản án, quyết định đúng của Tòa án mà vẫn bị kháng cáo hoặc đơn thư kéo dài.

Bản án, quyết định được coi là án lệ phải đáp ứng đầy đủ và trọn vẹn 3 tiêu chí quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP, trong đó, tiêu chí đầu là quan trọng nhất, đó là bản án, quyết định có chứa đựng những lập luận, phán quyết của Tòa án về một vấn đề cụ thể và vấn đề đó chưa có quy định của pháp luật hoặc tuy có quy định của pháp luật chưa có hướng dẫn cụ thể hoặc hướng dẫn không rõ ràng dẫn đến hầu hết những người áp dụng pháp luật đều hiểu theo hướng không đúng tinh thần của luật và dẫn đến các bản án, quyết định bị Tòa án cấp trên hủy hoặc sửa. Còn trường hợp nếu đã có những quy định của pháp luật, các quy định đó không phức tạp mà chỉ do cách hiểu, do nhận thức của cá nhân cán bộ hoặc cả Hội đồng xét xử đó không đúng hoặc không cập nhật kịp thời các văn bản pháp luật dẫn đến áp dụng sai và hậu quả là bản án, quyết định bị Tòa án cấp trên hủy, sửa, thì theo tác giả, trường hợp này không phải là những nội dung pháp luật phức tạp và có nhiều cách hiểu khác nhau như quy định ở Điều 2 Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP nên sẽ không được coi là án lệ.

Tiêu chí thứ hai đó là phải có tính chuẩn mực. Bản án, quyết định phải chuẩn mực về cả hình thức và nội dung, hình thức phải viết đúng mẫu của án lệ, câu từ trong bản án, quyết định đó phải thật sự chính xác, không được sai sót, thậm chí cả từ lỗi chính tả và nhất là những lập luận trong bản án, quyết định này phải thật sự chuẩn xác và cụ thể. Bởi vì, do không có hồ sơ vụ án nên khi đọc bản án, quyết định, người đọc phải hình dung ra toàn bộ bản án, còn nếu viết tóm tắt, quá khái quát sẽ dẫn đến việc có nhiều cách hiểu khác nhau trong áp dụng pháp luật và khó đánh giá được bản án, quyết định đó đúng hay sai.

Từ những phân tích trên, tác giả xin bàn luận một số vụ án hình sự mà Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã lựa chọn để xem xét nghiên cứu đưa ra công bố làm án lệ lần này:

Vụ án Nguyễn Quý Hợi, phạm tội “Giết người”

Nguyễn Quý Hợi sinh năm 1983 và chị Nguyễn Thị Thu Hiền là con gái ông Nguyễn Hồng Thanh không có đăng ký kết hôn nhưng chung sống như vợ chồng từ năm 2006 đến năm 2010 và có một con chung.

Vào khoảng 16 giờ ngày 22/5/2011, ông Nguyễn Hồng Thanh là bố đẻ của chị Hiền đang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 47K9-5274 đi trên đường liên thôn Ea Sia B, xã Ea Nam, huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk thì gặp Nguyễn Quý Hợi đang điều khiển xe máy cày, do mâu thuẫn với nhau từ trước nên ông Thanh có chửi Hợi. Bực tức vì bị ông Thanh chửi, Hợi điều khiển xe máy cày đến chợ Km72 rồi lấy xe mô tô biển kiểm soát 47H2-4735 và lấy một khúc gỗ dài khoảng 80cm, đường kính 2,5cm cầm bằng tay trái và điều khiển xe mô tô chạy vào đường liên thôn thuộc buôn Briêng B, xã Ra Nam, huyện Ea H’Leo để tìm đánh ông Thanh. Lúc này, Hợi điều khiển mô tô với vận tốc khoảng 80km/giờ, ông Thanh phát hiện Hợi đang đuổi theo phía sau nên hoảng sợ điều khiển xe mô tô chạy với vận tốc nhanh, ông Thanh vừa chạy, vừa quay đầu nhìn lại và hô “cứu với, cứu với”. Khi đến đoạn đường cong thuộc buôn Briêng B, xã Ea Nam thì ông Thanh điều khiển xe mô tô về phía bên trái theo hướng đang đi, nên đã đâm vào xe mô tô do ông Quách Tâm điều khiển chạy ngược chiều đến, làm ông Thanh chết tại chỗ và ông Quách Tâm bị thương nhẹ.

Tại Bản giám định pháp y số 65/KLPY ngày 21/3/2012 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đắk Lắk kết luận: Nguyên nhân ông Nguyễn Hồng Thanh tử vong là choáng đa thương tích do tai nạn giao thông.

Nguyễn Quý Hợi đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử: Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 93; các điểm b và p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 xử phạt Nguyễn Quý Hợi 12 năm tù về tội “Giết người”. Áp dụng Điều 42 Bộ luật Hình sự năm 1999, Điều 610 Bộ luật Dân sự năm 2005 buộc Nguyễn Quý Hợi phải bồi thường cho gia đình người bị hại Nguyễn Hồng Thanh tổng số tiền 112.340.000 đồng.

Hội đồng xét xử nhận định: Mặc dù trong hồ sơ vụ án không có kết luận giám định về vận tốc, tuy nhiên căn cứ vào biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường ngày 22/5/2011 thấy rằng, sau khi xe của ông Thanh va chạm với xe của ông Quách Tâm thì dấu vết để lại trên đường là vết trượt lốp dài 0,8m, vết cày dài 1,1m, vết phanh lốp xe máy dài 1,65m, vết cày chà ngắt quãng dài 16m, vết trượt tử thi dài 11,2m, có thể khẳng định bị cáo Hợi và ông Thanh điều khiển xe mô tô với vận tốc rất nhanh; phù hợp với lời khai của bị cáo Hợi cũng như lời khai của một số người làm chứng về việc Hợi điều khiển xe với vận tốc khoảng 80km/giờ.

Thời điểm Hợi gặp ông Thanh là giờ cao điểm (khoảng 16 giờ đến 17 giờ) là khoảng thời gian có đông người tham gia giao thông; địa điểm Hợi đuổi theo ông Thanh là nơi có dân cư sinh sống hai bên đường, nên khi Hợi cầm gậy điều khiển xe mô tô chạy với tốc độ cao đuổi theo ông Thanh thì Hợi phải nhận thức được hành vi của Hợi là rất nguy hiểm. Ông Thanh do hoảng sợ cũng phải điều khiển xe chạy với tốc độ cao để tránh sự truy đuổi của Hợi có thể xảy ra tai nạn nguy hiểm dẫn đến chết người, nhưng Hợi không những không dừng đuổi mà còn lạng lách đánh võng đuổi đánh ông Thanh. Khoảng cách giữa Hợi và ông Thanh ngày càng gần thì sự hoảng loạn của ông Thanh càng tăng lên, buộc ông Thanh phải tăng tốc độ xe mô tô, vừa chạy, vừa quay đầu nhìn lại và kêu “cứu với, cứu với…”, nhưng Hợi cũng không dừng lại mà vẫn tiếp tục đuổi theo cho đến khi ông Thanh gặp tai nạn mới dừng lại. Với hành vi nguy hiểm nêu trên, có đủ cơ sở để xác định hành vi phạm tội của Hợi là rất quyết liệt, chứng tỏ về mặt chủ quan, Hợi không mong muốn, nhưng có ý thức chấp nhận hậu quả chết người xảy ra và thực tế khi thấy ông Thanh bị tai nạn, Hợi bỏ mặc không đưa ông Thanh đi cấp cứu mà quay xe đi về, hậu quả ông Thanh chết.

Qua vụ án này tác giả thấy rằng, do không có hồ sơ vụ án, nên nếu theo nhận định sự việc phạm tội xảy ra trong vụ án này thì việc đánh giá các chứng cứ của Hội đồng xét xử còn có nội dung chưa thật vững chắc: Theo diễn biến của vụ án thì ông Thanh và bị cáo Hợi mỗi người điều khiển một xe mô tô, ông Thanh đi trước, bị cáo Hợi một tay cầm cây gậy và một tay điều khiển xe mô tô đuổi phía sau, như vậy khả năng chạy xe của Hợi không thể chạy rất nhanh được, hơn nữa hành vi điều khiển xe máy chạy phía sau đuổi ông Thanh, Hợi không có lời nói hay chửi bới đe dọa gì ông Thanh nên cũng không thể nói hành vi của Hợi là quyết liệt được; khoảng cách giữa xe của ông Thanh và Hợi là bao xa khi đuổi nhau thì cũng không xác định được nên cũng không thể cho là ông Thanh quá hoảng sợ mà phải chạy nhanh để gây nguy hiểm đến tính mạng. Ngoài ra, không có kết luận giám định về vận tốc mà chỉ căn cứ vào biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường khẳng định bị cáo Hợi và ông Thanh điều khiển xe mô tô với vận tốc rất nhanh là chưa vững chắc. Đồng thời, khi Hợi thấy ông Thanh ngã, Hợi hoàn toàn không biết ông Thanh có thể nguy hiểm đến tính mạng hay không, mặc dù đang đuổi để đánh ông Thanh, nhưng khi thấy ông Thanh ngã, Hợi cũng không đánh ông Thanh nữa mà quay xe đi về. Như vậy, trong vụ án này, chỉ với những phân tích trên thì không thể cho rằng Hợi muốn giết ông Thanh hoặc bỏ mặc khi biết ông Thanh chết. Vì vậy, do không có hồ sơ vụ án, nên nếu chỉ theo nhận định diễn biến vụ án như trên mà kết tội bị cáo Hợi về tội “Giết người” là chưa có căn cứ vững chắc. Vì vậy, theo tác giả không nên đưa vụ án này làm án lệ.

Vụ án Đồng Xuân Phương, phạm tội “Cố ý gây thương tích dẫn đến chết người”

Khoảng 15 giờ ngày 21/6/2007, Công an quận Long Biên, thành phố Hà Nội nhận được tin báo đã xảy ra vụ án, nạn nhân bị chết tại khu vực đúc dầm bê tông thi công cầu Thanh Trì thuộc địa phận tổ 12 phường Thạch Bàn, quận Long Biên; nạn nhân là anh Nguyễn Văn Soi (kỹ sư xây dựng thuộc Công ty cổ phần xây dựng 204 thuộc Tổng công ty xây dựng Bạch Đằng). Qua điều tra, xác minh, Công an quận Long Biên đã bắt khẩn cấp Đồng Xuân Phương.

Quá trình điều tra, Đồng Xuân Phương khai nhận: Anh Nguyễn Văn Soi và Đồng Xuân Phương cùng làm việc tại Công ty cổ phần xây dựng 204 thuộc Tổng công ty xây dựng Bạch Đằng (được giao nhiệm vụ thi công, xây dựng cầu Thanh Trì). Khoảng tháng 02/2007, Phương uống rượu say trong giờ làm việc, đã bị anh Soi dùng điện thoại di động chụp ảnh, báo cáo lãnh đạo nên Phương có ý định trả thù anh Soi.

Ngày 14/6/2007, Đồng Xuân Phương gọi điện thoại cho bạn là Đoàn Đức Lân sinh năm 1975 (trú tại nhà số 11 C 98 Trại Chuối, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng) nói việc mâu thuẫn nêu trên và nhờ Lân đánh trả thù. Lân nói sẽ giới thiệu người khác thực hiện. Tối ngày 17/6/2007, Phương từ Hà Nội về Hải Phòng gặp Lân và bạn của Lân là Hoàng Ngọc Mạnh sinh năm 1982 (còn gọi là Thắng, trú tại phường Sở Dầu, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng) kể lại việc mâu thuẫn và thuê Lân, Mạnh đánh anh Soi bằng cách dùng dao đâm vào chân, tay nạn nhân để gây thương tích. Đồng Xuân Phương hỏi giá bao nhiêu, Mạnh và Lân nói tùy, nên Phương đã đưa cho Mạnh 1.500.000 đồng. Lân và Mạnh đồng ý.

Khoảng 20 giờ ngày 20/6/2007, Hoàng Ngọc Mạnh đi cùng Nam (là bạn Mạnh, không xác định được địa chỉ) lên Hà Nội gặp Đồng Xuân Phương thống nhất là sẽ đánh anh Soi vào ngày 21/6/2007. Sau đó Phương đưa thêm 500.000 đồng để Mạnh thuê chỗ ngủ. Đến khoảng 9 giờ ngày 21/6/2007, Phương đã dẫn Mạnh và Nam đến địa điểm đoạn đường anh Soi sẽ qua để đi họp vào đầu giờ buổi chiều hôm đó, rồi quay về công ty. Khoảng 11 giờ, Hoàng Ngọc Mạnh đến quán nước tại ngã ba quốc lộ 5 - 1B (quán của chị Phạm Thị Miến) thuê điện thoại di động của chị Miến gọi điện thoại cho Đồng Xuân Phương yêu cầu mô tả đặc điểm nhận dạng và thông báo số điện thoại di động của anh Soi. Phương đã thực hiện theo yêu cầu của Mạnh. Đến khoảng hơn 13 giờ chiều, Mạnh lại thuê điện thoại di động của chị Miến gọi cho Phương thông báo là đã nhận dạng được nạn nhân và Mạnh sẽ thực hiện một mình vì hiện Nam đã bỏ đi đâu không thông báo lại và Đồng Xuân Phương đồng ý.

Sau khi phát hiện được anh Soi, khoảng 14 giờ 16 phút cùng ngày, Mạnh đã thuê máy điện thoại di động của chị Miến gọi điện thoại hẹn gặp anh Soi tại khu vực đúc dầm bê tông. Khi anh Soi đến, Mạnh đã dùng dao nhọn chuẩn bị từ trước đâm 2 nhát vào mặt sau đùi phải, làm anh Soi chết.

Tại Bản giám định pháp y số 146/PC21-PY ngày 17/7/2007, Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: Nạn nhân bị 2 vết thương tại mặt sau đùi phải, vết phía trên xuyên vào cơ đùi 3cm; vết phía dưới cắt đứt động mạch, tĩnh mạch đùi sau gây chảy mất nhiều máu. Nguyên nhân chết: Sốc mất máu cấp không hồi phục do vết thương động mạch.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 164/2008/HSST ngày 17/11/2008, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội áp dụng điểm n khoản 1 Điều 93, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 xử phạt Đồng Xuân Phương 17 năm tù về tội “Giết người”.

Vụ án này đã bị Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao hủy để xét xử lại, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao áp dụng các điểm m, n khoản 1 Điều 93, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 xử phạt Đồng Xuân Phương tù chung thân về tội “Giết người”; buộc Đồng Xuân Phương bồi thường tiền bù đắp tổn thất tinh thần là 43.800.000 đồng và giữ nguyên các quyết định khác về bồi thường thiệt hại.

Bản án của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao đã bị Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm hủy bản án hình sự phúc thẩm nêu trên về các phần: Tội danh, hình phạt và án phí hình sự phúc thẩm đối với Đồng Xuân Phương; chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội để xét xử phúc thẩm lại theo hướng xét xử hành vi của Đồng Xuân Phương phạm tội “Cố ý gây thương tích dẫn đến chết người” quy định tại khoản 3 Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Trong vụ án này nếu chỉ nêu diễn biến như nội dung trên thì không đủ căn cứ để kết tội bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích dẫn đến chết người”. Bởi vì, nếu chỉ căn cứ vào ý thức chủ quan của bị cáo và các vết đâm trên người bị hại để khẳng định bị cáo không có ý thức giết chết anh Soi là hoàn toàn chưa đủ cơ sở. Bởi lẽ, tâm lý của bị can, bị cáo bao giờ cũng muốn chối tội, không bao giờ khai báo bất lợi cho mình; mặt khác, dù bị cáo khai không muốn giết người, nhưng thông qua hành vi phạm tội, công cụ phương tiện, điều kiện hoàn cảnh khi phạm tội thì trong nhiều trường hợp, luật buộc bị can, bị cáo phải biết việc chết người sẽ xảy ra và bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người. Còn cụ thể trong trường hợp này, nếu kết tội bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích dẫn đến chết người” thì cần phải bổ sung thêm các nội dung về thời gian mà bị cáo đâm anh Soi là mấy giờ, khu vực đúc dầm bê tông đó có người qua lại hay không, có gần nơi dân cư hay không, hành vi dùng dao đâm bất ngờ anh Soi hai nhát vào đùi, anh Sọi bị gục tại chỗ không đi được hay bỏ chạy? Nếu thời gian đâm anh Soi là đêm khuya, khu vực đúc dầm bê tông vắng vẻ không có người qua lại, anh Soi có hô hoán nhờ người ứng cứu cũng không ai biết và khi đâm, nếu thực tế anh Soi bị gục tại chỗ không lê lết chân đi được nên bị mất máu cấp và chết tại chỗ thì trong trường hợp này cũng không thể nói là hành vị của bị cáo chỉ muốn gây thương tích cho anh Soi; còn nếu anh Soi sau khi bị đâm vẫn chạy về kịp thời băng bó nhưng do vết thương bị đâm quá nặng, anh Soi mất nhiều máu nên chết, thì đó là hành vi cố ý gây thương tích dẫn dến chết người. Vì những lẽ trên, theo tác giả, nếu lựa chọn vụ án này làm án lệ thì phải bổ sung thêm một số tình tiết như phân tích.

Ngoài ra, còn một số vụ án khác như Vụ án Đặng Thị Mai Trinh và đồng phạm bị kết án về tội “Lưu hành giấy tờ có giá giả”; vụ án Trần Thị Phương Trinh (còn có tên gọi khác là Thảo) và vụ án Ngô Quang Chướng, phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”; Vụ án Cao Trần Thị Hồng Thắm, phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; Vụ án Phàn Văn Phủ, Phàn Seo Ngáo, phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Vụ án Hứa Quan Timy (Timy Quang), phạm tội “Tổ chức đánh bạc”. Những vụ án này đều do việc cập nhật văn bản pháp luật không kịp thời, dẫn đến sai lầm trong áp dụng pháp luật nên dẫn đến xử lý sai, do đó, theo tác giả không nên sử dụng làm nguồn để công bố án lệ đối với các bản án, quyết định này.

Tóm lại, nhận thức về tầm quan trọng của án lệ, đặc biệt là những tiêu chí của án lệ, cũng như việc lựa chọn mỗi bản án, quyết định cụ thể làm nguồn để công bố án lệ, vì vậy, mỗi cấp Tòa án, mỗi Tòa án cũng như mỗi cán bộ làm công tác pháp luật nói chung phải chủ động nắm bắt, quán triệt sâu sắc các nội dung quy định về án lệ, có trách nhiệm đóng góp ý kiến về cách thức lựa chọn án lệ. Khi được Tòa án nhân dân tối cao giao, Tòa án nhân dân các cấp cần phải tổ chức các cuộc hội thảo lấy ý kiến của các chuyên gia và đặc biệt là cán bộ làm công tác chuyên môn trong các Tòa án về mỗi bản án, quyết định để cân nhắc đưa ra làm nguồn công bố án lệ.

Vũ Thành Long
Tòa án quân sự Trung ương

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tóm tắt: Chương VII dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) quy định về tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo gần như giữ nguyên nội dung Chương VII Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Tuy nhiên, phân tích từ góc độ liên thông giữa Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 với Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Đất đai năm 2024, cho thấy có một số bất cập, nếu được hoàn thiện trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) sẽ giúp hệ thống pháp luật liên quan đến chế định này được hoàn thiện, đồng bộ hơn.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.
Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Bài viết phân tích các vấn đề cốt lõi về hợp đồng tiếp thị liên kết, đánh giá thực tiễn áp dụng và chỉ ra những bất cập trong quy định pháp luật, đặc biệt liên quan đến khái niệm pháp lý, cơ chế giao kết và hiệu lực phụ lục hợp đồng. Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng tiếp thị liên kết, nhằm bảo đảm tính minh bạch, công bằng trong quan hệ hợp đồng và góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của hoạt động tiếp thị liên kết trong môi trường thương mại điện tử tại Việt Nam.

Theo dõi chúng tôi trên: