Chủ nhật 25/10/2026 16:01
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Lựa chọn nguồn để công bố án lệ

Việc quy định án lệ trong hệ thống pháp luật Việt Nam là một nội dung quan trọng, án lệ không chỉ giúp cho những người làm công tác pháp luật thuận lợi trong quá trình áp dụng pháp luật, mà còn có vai trò trong việc khắc phục được những lỗ hổng, hạn chế của hệ thống pháp luật một cách nhanh chóng, kịp thời, trong trường hợp pháp luật chưa dự liệu hết tình huống, sự kiện pháp lý xảy ra trong đời sống thực tiễn.

Tuy nhiên, để lựa chọn được nguồn là những bản án, quyết định của Tòa án làm án lệ là một nội dung rất phức tạp và quan trọng. Vừa qua, Tòa án nhân dân tối cao cũng đã tổ chức lấy ý kiến đối với 35 bản án, quyết định được lựa chọn làm nguồn để công bố làm án lệ. Về cơ bản, tác giả đồng tình và nhất trí với các bản án, quyết định đưa vào làm nguồn và công bố án lệ lần này. Song, vẫn còn có nội dung trong bản án, quyết định cần trao đổi thêm và một số bản án, quyết định cần cân nhắc không nên đưa làm án lệ.

Theo quy định tại Điều 1 Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP ngày 28/10/2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ: Án lệ là những lập luận, phán quyết trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án về một vụ việc cụ thể được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao lựa chọn và được Chánh án Tòa án nhân dân tối cao công bố là án lệ để các Tòa án nghiên cứu, áp dụng trong xét xử. Điều 2 của Nghị quyết này quy định: Tiêu chí lựa chọn án lệ là án lệ phải chứa đựng lập luận để làm rõ quy định của pháp luật còn có cách hiểu khác nhau; phân tích, giải thích các vấn đề, sự kiện pháp lý và chỉ ra nguyên tắc, đường lối xử lý, quy phạm pháp luật cần áp dụng trong một vụ việc cụ thể; có tính chuẩn mực; có giá trị hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử, bảo đảm những vụ việc có tình tiết, sự kiện pháp lý như nhau thì phải được giải quyết như nhau.

Như vậy, án lệ trước hết là những lập luận, phán quyết trong một bản án, quyết định cụ thể về một sự việc cụ thể, chứ không phải phán quyết lập luận chung chung và những bản án, quyết định này phải được Chánh án Tòa án nhân dân tối cao công bố trên cơ sở lựa chọn của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Mục tiêu của việc áp dụng án lệ là góp phần khắc phục những khiếm khuyết của hệ thống pháp luật, những quy định phức tạp của pháp luật còn chưa rõ ràng, còn có nhiều cách hiểu khác nhau hoặc những vấn đề chưa quy định hoặc quy định nhưng chưa cụ thể. Giá trị của án lệ thể hiện ở những lập luận, phán quyết có tính chuẩn mực của Tòa án về một vụ việc cụ thể được vận dụng để giải quyết một vụ việc cụ thể khác, bảo đảm rằng những vụ việc như nhau được giải quyết giống nhau, bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử. Do vậy, khi nghiên cứu giải quyết các vụ việc có án lệ thì họ yên tâm hơn trong việc áp dụng pháp luật, tự tin về tính minh bạch, công bằng của pháp luật, đồng thời cũng nâng cao năng lực thực tiễn của thẩm phán trong giải quyết các vụ án. Ngoài ra, án lệ khi được công khai còn giúp cho mọi người có cách xử sự dễ dàng hơn trong cuộc sống mỗi khi gặp sự việc tương tự xảy ra đối với cá nhân mình; đồng thời sẽ hạn chế những bản án, quyết định đúng của Tòa án mà vẫn bị kháng cáo hoặc đơn thư kéo dài.

Bản án, quyết định được coi là án lệ phải đáp ứng đầy đủ và trọn vẹn 3 tiêu chí quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP, trong đó, tiêu chí đầu là quan trọng nhất, đó là bản án, quyết định có chứa đựng những lập luận, phán quyết của Tòa án về một vấn đề cụ thể và vấn đề đó chưa có quy định của pháp luật hoặc tuy có quy định của pháp luật chưa có hướng dẫn cụ thể hoặc hướng dẫn không rõ ràng dẫn đến hầu hết những người áp dụng pháp luật đều hiểu theo hướng không đúng tinh thần của luật và dẫn đến các bản án, quyết định bị Tòa án cấp trên hủy hoặc sửa. Còn trường hợp nếu đã có những quy định của pháp luật, các quy định đó không phức tạp mà chỉ do cách hiểu, do nhận thức của cá nhân cán bộ hoặc cả Hội đồng xét xử đó không đúng hoặc không cập nhật kịp thời các văn bản pháp luật dẫn đến áp dụng sai và hậu quả là bản án, quyết định bị Tòa án cấp trên hủy, sửa, thì theo tác giả, trường hợp này không phải là những nội dung pháp luật phức tạp và có nhiều cách hiểu khác nhau như quy định ở Điều 2 Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP nên sẽ không được coi là án lệ.

Tiêu chí thứ hai đó là phải có tính chuẩn mực. Bản án, quyết định phải chuẩn mực về cả hình thức và nội dung, hình thức phải viết đúng mẫu của án lệ, câu từ trong bản án, quyết định đó phải thật sự chính xác, không được sai sót, thậm chí cả từ lỗi chính tả và nhất là những lập luận trong bản án, quyết định này phải thật sự chuẩn xác và cụ thể. Bởi vì, do không có hồ sơ vụ án nên khi đọc bản án, quyết định, người đọc phải hình dung ra toàn bộ bản án, còn nếu viết tóm tắt, quá khái quát sẽ dẫn đến việc có nhiều cách hiểu khác nhau trong áp dụng pháp luật và khó đánh giá được bản án, quyết định đó đúng hay sai.

Từ những phân tích trên, tác giả xin bàn luận một số vụ án hình sự mà Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã lựa chọn để xem xét nghiên cứu đưa ra công bố làm án lệ lần này:

Vụ án Nguyễn Quý Hợi, phạm tội “Giết người”

Nguyễn Quý Hợi sinh năm 1983 và chị Nguyễn Thị Thu Hiền là con gái ông Nguyễn Hồng Thanh không có đăng ký kết hôn nhưng chung sống như vợ chồng từ năm 2006 đến năm 2010 và có một con chung.

Vào khoảng 16 giờ ngày 22/5/2011, ông Nguyễn Hồng Thanh là bố đẻ của chị Hiền đang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 47K9-5274 đi trên đường liên thôn Ea Sia B, xã Ea Nam, huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk thì gặp Nguyễn Quý Hợi đang điều khiển xe máy cày, do mâu thuẫn với nhau từ trước nên ông Thanh có chửi Hợi. Bực tức vì bị ông Thanh chửi, Hợi điều khiển xe máy cày đến chợ Km72 rồi lấy xe mô tô biển kiểm soát 47H2-4735 và lấy một khúc gỗ dài khoảng 80cm, đường kính 2,5cm cầm bằng tay trái và điều khiển xe mô tô chạy vào đường liên thôn thuộc buôn Briêng B, xã Ra Nam, huyện Ea H’Leo để tìm đánh ông Thanh. Lúc này, Hợi điều khiển mô tô với vận tốc khoảng 80km/giờ, ông Thanh phát hiện Hợi đang đuổi theo phía sau nên hoảng sợ điều khiển xe mô tô chạy với vận tốc nhanh, ông Thanh vừa chạy, vừa quay đầu nhìn lại và hô “cứu với, cứu với”. Khi đến đoạn đường cong thuộc buôn Briêng B, xã Ea Nam thì ông Thanh điều khiển xe mô tô về phía bên trái theo hướng đang đi, nên đã đâm vào xe mô tô do ông Quách Tâm điều khiển chạy ngược chiều đến, làm ông Thanh chết tại chỗ và ông Quách Tâm bị thương nhẹ.

Tại Bản giám định pháp y số 65/KLPY ngày 21/3/2012 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đắk Lắk kết luận: Nguyên nhân ông Nguyễn Hồng Thanh tử vong là choáng đa thương tích do tai nạn giao thông.

Nguyễn Quý Hợi đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử: Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 93; các điểm b và p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 xử phạt Nguyễn Quý Hợi 12 năm tù về tội “Giết người”. Áp dụng Điều 42 Bộ luật Hình sự năm 1999, Điều 610 Bộ luật Dân sự năm 2005 buộc Nguyễn Quý Hợi phải bồi thường cho gia đình người bị hại Nguyễn Hồng Thanh tổng số tiền 112.340.000 đồng.

Hội đồng xét xử nhận định: Mặc dù trong hồ sơ vụ án không có kết luận giám định về vận tốc, tuy nhiên căn cứ vào biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường ngày 22/5/2011 thấy rằng, sau khi xe của ông Thanh va chạm với xe của ông Quách Tâm thì dấu vết để lại trên đường là vết trượt lốp dài 0,8m, vết cày dài 1,1m, vết phanh lốp xe máy dài 1,65m, vết cày chà ngắt quãng dài 16m, vết trượt tử thi dài 11,2m, có thể khẳng định bị cáo Hợi và ông Thanh điều khiển xe mô tô với vận tốc rất nhanh; phù hợp với lời khai của bị cáo Hợi cũng như lời khai của một số người làm chứng về việc Hợi điều khiển xe với vận tốc khoảng 80km/giờ.

Thời điểm Hợi gặp ông Thanh là giờ cao điểm (khoảng 16 giờ đến 17 giờ) là khoảng thời gian có đông người tham gia giao thông; địa điểm Hợi đuổi theo ông Thanh là nơi có dân cư sinh sống hai bên đường, nên khi Hợi cầm gậy điều khiển xe mô tô chạy với tốc độ cao đuổi theo ông Thanh thì Hợi phải nhận thức được hành vi của Hợi là rất nguy hiểm. Ông Thanh do hoảng sợ cũng phải điều khiển xe chạy với tốc độ cao để tránh sự truy đuổi của Hợi có thể xảy ra tai nạn nguy hiểm dẫn đến chết người, nhưng Hợi không những không dừng đuổi mà còn lạng lách đánh võng đuổi đánh ông Thanh. Khoảng cách giữa Hợi và ông Thanh ngày càng gần thì sự hoảng loạn của ông Thanh càng tăng lên, buộc ông Thanh phải tăng tốc độ xe mô tô, vừa chạy, vừa quay đầu nhìn lại và kêu “cứu với, cứu với…”, nhưng Hợi cũng không dừng lại mà vẫn tiếp tục đuổi theo cho đến khi ông Thanh gặp tai nạn mới dừng lại. Với hành vi nguy hiểm nêu trên, có đủ cơ sở để xác định hành vi phạm tội của Hợi là rất quyết liệt, chứng tỏ về mặt chủ quan, Hợi không mong muốn, nhưng có ý thức chấp nhận hậu quả chết người xảy ra và thực tế khi thấy ông Thanh bị tai nạn, Hợi bỏ mặc không đưa ông Thanh đi cấp cứu mà quay xe đi về, hậu quả ông Thanh chết.

Qua vụ án này tác giả thấy rằng, do không có hồ sơ vụ án, nên nếu theo nhận định sự việc phạm tội xảy ra trong vụ án này thì việc đánh giá các chứng cứ của Hội đồng xét xử còn có nội dung chưa thật vững chắc: Theo diễn biến của vụ án thì ông Thanh và bị cáo Hợi mỗi người điều khiển một xe mô tô, ông Thanh đi trước, bị cáo Hợi một tay cầm cây gậy và một tay điều khiển xe mô tô đuổi phía sau, như vậy khả năng chạy xe của Hợi không thể chạy rất nhanh được, hơn nữa hành vi điều khiển xe máy chạy phía sau đuổi ông Thanh, Hợi không có lời nói hay chửi bới đe dọa gì ông Thanh nên cũng không thể nói hành vi của Hợi là quyết liệt được; khoảng cách giữa xe của ông Thanh và Hợi là bao xa khi đuổi nhau thì cũng không xác định được nên cũng không thể cho là ông Thanh quá hoảng sợ mà phải chạy nhanh để gây nguy hiểm đến tính mạng. Ngoài ra, không có kết luận giám định về vận tốc mà chỉ căn cứ vào biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường khẳng định bị cáo Hợi và ông Thanh điều khiển xe mô tô với vận tốc rất nhanh là chưa vững chắc. Đồng thời, khi Hợi thấy ông Thanh ngã, Hợi hoàn toàn không biết ông Thanh có thể nguy hiểm đến tính mạng hay không, mặc dù đang đuổi để đánh ông Thanh, nhưng khi thấy ông Thanh ngã, Hợi cũng không đánh ông Thanh nữa mà quay xe đi về. Như vậy, trong vụ án này, chỉ với những phân tích trên thì không thể cho rằng Hợi muốn giết ông Thanh hoặc bỏ mặc khi biết ông Thanh chết. Vì vậy, do không có hồ sơ vụ án, nên nếu chỉ theo nhận định diễn biến vụ án như trên mà kết tội bị cáo Hợi về tội “Giết người” là chưa có căn cứ vững chắc. Vì vậy, theo tác giả không nên đưa vụ án này làm án lệ.

Vụ án Đồng Xuân Phương, phạm tội “Cố ý gây thương tích dẫn đến chết người”

Khoảng 15 giờ ngày 21/6/2007, Công an quận Long Biên, thành phố Hà Nội nhận được tin báo đã xảy ra vụ án, nạn nhân bị chết tại khu vực đúc dầm bê tông thi công cầu Thanh Trì thuộc địa phận tổ 12 phường Thạch Bàn, quận Long Biên; nạn nhân là anh Nguyễn Văn Soi (kỹ sư xây dựng thuộc Công ty cổ phần xây dựng 204 thuộc Tổng công ty xây dựng Bạch Đằng). Qua điều tra, xác minh, Công an quận Long Biên đã bắt khẩn cấp Đồng Xuân Phương.

Quá trình điều tra, Đồng Xuân Phương khai nhận: Anh Nguyễn Văn Soi và Đồng Xuân Phương cùng làm việc tại Công ty cổ phần xây dựng 204 thuộc Tổng công ty xây dựng Bạch Đằng (được giao nhiệm vụ thi công, xây dựng cầu Thanh Trì). Khoảng tháng 02/2007, Phương uống rượu say trong giờ làm việc, đã bị anh Soi dùng điện thoại di động chụp ảnh, báo cáo lãnh đạo nên Phương có ý định trả thù anh Soi.

Ngày 14/6/2007, Đồng Xuân Phương gọi điện thoại cho bạn là Đoàn Đức Lân sinh năm 1975 (trú tại nhà số 11 C 98 Trại Chuối, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng) nói việc mâu thuẫn nêu trên và nhờ Lân đánh trả thù. Lân nói sẽ giới thiệu người khác thực hiện. Tối ngày 17/6/2007, Phương từ Hà Nội về Hải Phòng gặp Lân và bạn của Lân là Hoàng Ngọc Mạnh sinh năm 1982 (còn gọi là Thắng, trú tại phường Sở Dầu, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng) kể lại việc mâu thuẫn và thuê Lân, Mạnh đánh anh Soi bằng cách dùng dao đâm vào chân, tay nạn nhân để gây thương tích. Đồng Xuân Phương hỏi giá bao nhiêu, Mạnh và Lân nói tùy, nên Phương đã đưa cho Mạnh 1.500.000 đồng. Lân và Mạnh đồng ý.

Khoảng 20 giờ ngày 20/6/2007, Hoàng Ngọc Mạnh đi cùng Nam (là bạn Mạnh, không xác định được địa chỉ) lên Hà Nội gặp Đồng Xuân Phương thống nhất là sẽ đánh anh Soi vào ngày 21/6/2007. Sau đó Phương đưa thêm 500.000 đồng để Mạnh thuê chỗ ngủ. Đến khoảng 9 giờ ngày 21/6/2007, Phương đã dẫn Mạnh và Nam đến địa điểm đoạn đường anh Soi sẽ qua để đi họp vào đầu giờ buổi chiều hôm đó, rồi quay về công ty. Khoảng 11 giờ, Hoàng Ngọc Mạnh đến quán nước tại ngã ba quốc lộ 5 - 1B (quán của chị Phạm Thị Miến) thuê điện thoại di động của chị Miến gọi điện thoại cho Đồng Xuân Phương yêu cầu mô tả đặc điểm nhận dạng và thông báo số điện thoại di động của anh Soi. Phương đã thực hiện theo yêu cầu của Mạnh. Đến khoảng hơn 13 giờ chiều, Mạnh lại thuê điện thoại di động của chị Miến gọi cho Phương thông báo là đã nhận dạng được nạn nhân và Mạnh sẽ thực hiện một mình vì hiện Nam đã bỏ đi đâu không thông báo lại và Đồng Xuân Phương đồng ý.

Sau khi phát hiện được anh Soi, khoảng 14 giờ 16 phút cùng ngày, Mạnh đã thuê máy điện thoại di động của chị Miến gọi điện thoại hẹn gặp anh Soi tại khu vực đúc dầm bê tông. Khi anh Soi đến, Mạnh đã dùng dao nhọn chuẩn bị từ trước đâm 2 nhát vào mặt sau đùi phải, làm anh Soi chết.

Tại Bản giám định pháp y số 146/PC21-PY ngày 17/7/2007, Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: Nạn nhân bị 2 vết thương tại mặt sau đùi phải, vết phía trên xuyên vào cơ đùi 3cm; vết phía dưới cắt đứt động mạch, tĩnh mạch đùi sau gây chảy mất nhiều máu. Nguyên nhân chết: Sốc mất máu cấp không hồi phục do vết thương động mạch.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 164/2008/HSST ngày 17/11/2008, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội áp dụng điểm n khoản 1 Điều 93, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 xử phạt Đồng Xuân Phương 17 năm tù về tội “Giết người”.

Vụ án này đã bị Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao hủy để xét xử lại, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao áp dụng các điểm m, n khoản 1 Điều 93, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 xử phạt Đồng Xuân Phương tù chung thân về tội “Giết người”; buộc Đồng Xuân Phương bồi thường tiền bù đắp tổn thất tinh thần là 43.800.000 đồng và giữ nguyên các quyết định khác về bồi thường thiệt hại.

Bản án của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao đã bị Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm hủy bản án hình sự phúc thẩm nêu trên về các phần: Tội danh, hình phạt và án phí hình sự phúc thẩm đối với Đồng Xuân Phương; chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội để xét xử phúc thẩm lại theo hướng xét xử hành vi của Đồng Xuân Phương phạm tội “Cố ý gây thương tích dẫn đến chết người” quy định tại khoản 3 Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Trong vụ án này nếu chỉ nêu diễn biến như nội dung trên thì không đủ căn cứ để kết tội bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích dẫn đến chết người”. Bởi vì, nếu chỉ căn cứ vào ý thức chủ quan của bị cáo và các vết đâm trên người bị hại để khẳng định bị cáo không có ý thức giết chết anh Soi là hoàn toàn chưa đủ cơ sở. Bởi lẽ, tâm lý của bị can, bị cáo bao giờ cũng muốn chối tội, không bao giờ khai báo bất lợi cho mình; mặt khác, dù bị cáo khai không muốn giết người, nhưng thông qua hành vi phạm tội, công cụ phương tiện, điều kiện hoàn cảnh khi phạm tội thì trong nhiều trường hợp, luật buộc bị can, bị cáo phải biết việc chết người sẽ xảy ra và bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người. Còn cụ thể trong trường hợp này, nếu kết tội bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích dẫn đến chết người” thì cần phải bổ sung thêm các nội dung về thời gian mà bị cáo đâm anh Soi là mấy giờ, khu vực đúc dầm bê tông đó có người qua lại hay không, có gần nơi dân cư hay không, hành vi dùng dao đâm bất ngờ anh Soi hai nhát vào đùi, anh Sọi bị gục tại chỗ không đi được hay bỏ chạy? Nếu thời gian đâm anh Soi là đêm khuya, khu vực đúc dầm bê tông vắng vẻ không có người qua lại, anh Soi có hô hoán nhờ người ứng cứu cũng không ai biết và khi đâm, nếu thực tế anh Soi bị gục tại chỗ không lê lết chân đi được nên bị mất máu cấp và chết tại chỗ thì trong trường hợp này cũng không thể nói là hành vị của bị cáo chỉ muốn gây thương tích cho anh Soi; còn nếu anh Soi sau khi bị đâm vẫn chạy về kịp thời băng bó nhưng do vết thương bị đâm quá nặng, anh Soi mất nhiều máu nên chết, thì đó là hành vi cố ý gây thương tích dẫn dến chết người. Vì những lẽ trên, theo tác giả, nếu lựa chọn vụ án này làm án lệ thì phải bổ sung thêm một số tình tiết như phân tích.

Ngoài ra, còn một số vụ án khác như Vụ án Đặng Thị Mai Trinh và đồng phạm bị kết án về tội “Lưu hành giấy tờ có giá giả”; vụ án Trần Thị Phương Trinh (còn có tên gọi khác là Thảo) và vụ án Ngô Quang Chướng, phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”; Vụ án Cao Trần Thị Hồng Thắm, phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; Vụ án Phàn Văn Phủ, Phàn Seo Ngáo, phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Vụ án Hứa Quan Timy (Timy Quang), phạm tội “Tổ chức đánh bạc”. Những vụ án này đều do việc cập nhật văn bản pháp luật không kịp thời, dẫn đến sai lầm trong áp dụng pháp luật nên dẫn đến xử lý sai, do đó, theo tác giả không nên sử dụng làm nguồn để công bố án lệ đối với các bản án, quyết định này.

Tóm lại, nhận thức về tầm quan trọng của án lệ, đặc biệt là những tiêu chí của án lệ, cũng như việc lựa chọn mỗi bản án, quyết định cụ thể làm nguồn để công bố án lệ, vì vậy, mỗi cấp Tòa án, mỗi Tòa án cũng như mỗi cán bộ làm công tác pháp luật nói chung phải chủ động nắm bắt, quán triệt sâu sắc các nội dung quy định về án lệ, có trách nhiệm đóng góp ý kiến về cách thức lựa chọn án lệ. Khi được Tòa án nhân dân tối cao giao, Tòa án nhân dân các cấp cần phải tổ chức các cuộc hội thảo lấy ý kiến của các chuyên gia và đặc biệt là cán bộ làm công tác chuyên môn trong các Tòa án về mỗi bản án, quyết định để cân nhắc đưa ra làm nguồn công bố án lệ.

Vũ Thành Long
Tòa án quân sự Trung ương

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện cơ chế xử lý vật chứng trong tố tụng hình sự Việt Nam

Hoàn thiện cơ chế xử lý vật chứng trong tố tụng hình sự Việt Nam

Tóm tắt: Xử lý vật chứng là hoạt động xác định địa vị pháp lý của vật chứng, đồng thời, tác động trực tiếp đến giá trị chứng minh và quyền tài sản. Nghiên cứu phân tích Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2025 (BLTTHS năm 2015) trong mối liên hệ với Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2025 (BLHS năm 2015) và pháp luật dân sự, tập trung làm rõ căn cứ tịch thu, thẩm quyền, hình thức và thủ tục xử lý; tiêu chí xác định công cụ, phương tiện phạm tội và lỗi của chủ sở hữu; cơ chế xử lý tài sản chung, tài sản thế chấp; phạm vi, trình tự giao vật chứng đặc thù cho cơ quan chuyên ngành và việc bảo đảm quyền của người thứ ba. Trên cơ sở nhận diện các bất cập, nghiên cứu đề xuất sửa đổi Điều 85, Điều 106 BLTTHS năm 2015, hoàn thiện thủ tục đối với tài sản bảo đảm và ban hành hướng dẫn liên ngành nhằm thống nhất hoạt động giao, tiếp nhận, bảo quản và xử lý vật chứng.
Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số và yêu cầu hiện đại hóa công tác quản lý đất đai, việc hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai cần được đặt trong mối quan hệ với hoạt động công chứng, cơ sở dữ liệu đất đai và cơ chế xác lập quyền đối với bất động sản (BĐS). Trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề lý luận, phân tích các mô hình đăng ký đất đai và tham khảo kinh nghiệm pháp luật của Pháp, Đức, Trung Quốc…, nghiên cứu làm rõ vai trò của hoạt động công chứng trong giao dịch về quyền sử dụng đất (QSDĐ), từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản lý đất đai.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo (AI) ngày càng đóng vai trò quan trọng, được ứng dụng rộng rãi trong quản trị công và hoạt động lập pháp tại nhiều quốc gia trên thế giới và Việt Nam. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở chính trị, pháp lý, nguyên tắc và phạm vi ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, AI có thể hỗ trợ hiệu quả nhiều công đoạn như xử lý dữ liệu, phân tích chính sách, rà soát văn bản, tổng hợp ý kiến và hỗ trợ kỹ thuật lập pháp. Tuy nhiên, AI chỉ nên được sử dụng như công cụ hỗ trợ dưới sự kiểm soát của con người, không thay thế thẩm quyền, trách nhiệm chính trị, pháp lý và trách nhiệm giải trình của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động lập pháp. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam.
Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Tóm tắt: Pháp quyền xã hội chủ nghĩa là khái niệm được sử dụng rộng rãi ở các quốc gia xã hội chủ nghĩa, nhưng có nội hàm và cách tiếp cận khác nhau, trong khi các nghiên cứu so sánh về vấn đề này còn tương đối hạn chế. Nghiên cứu so sánh quá trình hình thành và phát triển mô hình pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và Trung Quốc cho thấy, Việt Nam chủ yếu tiếp thu mô hình Xô Viết và chịu ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa, thể hiện xu hướng phổ quát pháp lý; ngược lại, Trung Quốc chủ động “Trung Quốc hóa” các học thuyết phương Tây theo hướng đặc thù pháp lý. Trên cở sở đó, nghiên cứu đề xuất Việt Nam có thể tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của Trung Quốc trong xây dựng và hoàn thiện nền pháp quyền xã hội chủ nghĩa phù hợp với thực tiễn đất nước.
Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 81/2025/QH15 (Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024) cho phép ghi âm trong suốt phiên tòa và ghi hình ở phần khai mạc và tuyên án. Các nghiên cứu trong nước về xét xử công khai, quyền tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin hầu như chưa đánh giá riêng quy định này theo học thuyết tương xứng và cân bằng quyền hiến định. Áp dụng ba điều kiện hạn chế quyền tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 (Hiến pháp năm 2013) cho thấy quy định này phù hợp nhưng chưa đáp ứng đầy đủ tính cần thiết và tính tương xứng, bởi tồn tại biện pháp ít hạn chế hơn mà vẫn bảo vệ tương đương nhóm chủ thể yếu thế. Từ học thuyết cân bằng quyền, nghiên cứu xây dựng tiêu chí ưu tiên giữa quyền tự do báo chí và quyền riêng tư; đồng thời, đề xuất sửa đổi khoản 3 Điều 141 và tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp** (Dự thảo Thông tư) để tương thích với khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025 và thiết lập cơ chế phối hợp giữa Tòa án và báo chí.
Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Tóm tắt: Quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh là hai phạm trù pháp lý quan trọng, phản ánh sự phát triển của xã hội. Trong bối cảnh truyền thông số phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong hoạt động báo chí ngày càng phổ biến, làm tăng nguy cơ xâm phạm đời sống riêng tư của trẻ em và phát sinh xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền được bảo vệ đời sống riêng tư của trẻ em. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và nhận diện các dạng xung đột pháp lý giữa hai quyền, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật trong giải quyết xung đột và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm hài hòa giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh.
Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, đồng thời, nâng cao chất lượng xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Nghiên cứu phân tích hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với chính sách và pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện, nghiên cứu làm rõ thực trạng chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

Một bài giảng hôm nay có thể được truyền từ một lớp học nhỏ tới hàng nghìn người học ở nhiều không gian khác nhau; một học sinh chỉ cần vài giây để nhận câu trả lời từ trí tuệ nhân tạo (AI) cho vấn đề từng đòi hỏi hàng giờ tra cứu. Công nghệ đang làm cho lớp học vượt khỏi bốn bức tường. Tuy nhiên, khi những giới hạn vật lý dần biến mất, những giới hạn pháp lý về quyền sáng tạo, dữ liệu, liêm chính học thuật và trách nhiệm của con người càng phải được xác lập rõ hơn. Bởi lớp học có thể không còn biên giới, nhưng quyền và trách nhiệm phải luôn được xác định rõ.

Theo dõi chúng tôi trên: