Thứ ba 10/02/2026 18:53
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Luật bàn về các biện pháp phòng ngừa hành chính

Bài viết tác giả luận bàn về tính chất của các biện pháp phòng ngừa hành chính, liệt kê các biện pháp phòng ngừa hành chính, vai trò của các biện pháp phòng ngừa hành chính. Tác giả cho rằng, trong điều kiện nền kinh tế thị trường, vai trò của biện pháp phòng ngừa hành chính lại càng được thể hiện rõ nét hơn.

Do đó, nhu cầu điều chỉnh, áp dụng tăng lên của các biện pháp này là lẽ đương nhiên. Nhưng cần phải có một giới hạn rõ ràng, cụ thể để áp dụng nhóm biện pháp này trong thực tiễn, tránh tình trạng lạm quyền lộng quyền của nhà chức trách, đồng thời bảo vệ được quyền công dân, quyền con người, đáp ứng được yêu cầu, đòi hỏi của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Cho đến nay, nhận thức lý luận về biện pháp phòng ngừa hành chính còn chưa rõ ràng, có nhiều quan điểm khác nhau về nội hàm của biện pháp phòng ngừa hành chính. Những quy định pháp luật về biện pháp phòng ngừa hành chính chưa tạo thành một hệ thống, ngược lại nằm tản mát trong các văn bản pháp luật chuyên ngành hoặc có những quy định pháp luật thực chất đó là các biện pháp phòng ngừa hành chính nhưng phải nhận diện tương đối khó khăn.

Phòng ngừa hành chính là nhóm biện pháp được sử dụng phổ biến trong quản lý hành chính nhà nước ở mọi quốc gia. Dẫn chiếu quy định pháp luật Việt Nam, phòng ngừa hành chính là biện pháp do các cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền áp dụng để ngăn ngừa những vi phạm pháp luật trong lĩnh vực quản lý nhà nước, cũng như bảo đảm an toàn xã hội trong các trường hợp khẩn cấp, thiên tai, dịch bệnh… Tính chất cưỡng chế của các biện pháp phòng ngừa hành chính thể hiện ở việc áp dụng các biện pháp phòng ngừa không cần sự đồng ý của công dân, tổ chức và quyết định phòng ngừa phải được chấp hành vô điều kiện. Do vậy, nhóm biện pháp này có thể nhận diện với hai đặc điểm là: (i) Khi chưa xảy ra vi phạm pháp luật hay không liên quan đến vi phạm pháp luật; (ii) Khi đã xảy ra vi phạm pháp luật nhưng nhằm mục đích phòng ngừa tiếp theo, phòng ngừa chung. Theo đó phòng ngừa hành chính bao gồm các biện pháp sau:

- Kiểm tra giấy tờ, tài liệu, văn bằng nhằm ngăn ngừa những vi phạm pháp luật như: Kiểm tra bằng lái xe ô tô, xe máy, nhãn hiệu hàng hoá, chứng minh thư nhân dân, bằng tốt nghiệp phổ thông, đại học...; kiểm tra hộ tịch, hộ khẩu trong nhà ở của công dân khi có nghi ngờ về vi phạm chế độ đăng ký tạm trú; kiểm tra hàng hóa, hành lý và cá nhân do các cơ quan hải quan thực hiện nhằm ngăn ngừa các vụ buôn lậu qua biên giới, trốn thuế hàng hóa nhập, xuất hoặc để bảo đảm an toàn cho các chuyến bay, phát hiện các chất dễ cháy, dễ nổ;

- Ngăn cấm hoặc hạn chế xe cộ đi lại trên một tuyến đường khi xuất hiện nguy cơ mất an toàn giao thông trong các trường hợp sửa lại đường sá, xây cầu cống, bão lụt, cây đổ… Ngăn cấm vào khu vực đang có dịch bệnh; kiểm tra bắt buộc sức khỏe của những người làm công việc dịch vụ có liên quan đến thực phẩm, y tế, dễ gây ra dịch bệnh cho người tiêu dùng, bệnh nhân…

- Giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở giáo dục; đưa vào cơ sở chữa bệnh, đối với người nghiện ma túy, người mại dâm có tính chất thường xuyên; quản chế hành chính đối với những người có hành vi vi phạm pháp luật phương hại đến lợi ích quốc gia nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.

Có nhiều quan điểm cho rằng các biện pháp xử lý hành chính và quản chế hành chính được áp dụng khi có vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn xã hội nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự và cũng không truy cứu trách nhiệm hành chính. Cho nên, biện pháp xử lý hành chính là một hình thức xử lý vi phạm hành chính được quy định trong Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012. Tác giả cho rằng, bản chất của biện pháp xử lý hành chính và quản chế hành chính là biện pháp cưỡng chế hành chính đặc biệt, nhằm mục đích đấu tranh phòng ngừa và chống vi phạm pháp luật xảy ra. Tức là ngăn chặn không để xuất hiện thêm các vi phạm pháp luật tương tự từ những cá nhân bị áp dụng hình thức này. Bằng cách giáo dục nhận thức, nhân cách, lối sống và hạn chế một số quyền tự do để đạt được mục tiêu đó. Do vậy, đây cũng có thể được xem là yếu tố quan trọng của các biện pháp phòng ngừa hành chính hiện nay.

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, vai trò của biện pháp phòng ngừa hành chính lại càng được thể hiện rõ nét hơn. Do đó, nhu cầu điều chỉnh, áp dụng tăng lên của các biện pháp này là lẽ đương nhiên. Nhưng cần phải có một giới hạn rõ ràng, cụ thể để áp dụng nhóm biện pháp này trong thực tiễn, tránh tình trạng lạm quyền, lộng quyền của các nhà chức trách, đồng thời bảo vệ được quyền công dân, quyền con người, đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Bởi đây là nhóm biện pháp Nhà nước có thẩm quyền áp dụng đơn phương và mạnh mẽ, không cần sự đồng ý từ phía đối tượng quản lý, từ đó có thể dẫn đến việc Nhà nước trở nên độc đoán trong chính những quyết định hành chính hay hành vi hành chính của mình. Đây là xu hướng rất dễ bị Nhà nước lạm dụng, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức bị áp dụng. Hơn nữa, người ta thường tự mặc định rằng “ở đâu không có các quy định pháp luật, hoặc quy định dưới dạng chung chung thì ở đó cơ quan hành chính có quyền tùy ý định đoạt”. Mặc dù, đây là yếu tố thúc đẩy sự chủ động, sáng tạo trong hoạt động hành chính, nhưng tùy nghi hành chính nếu không được kiểm soát sẽ là con đường ngắn nhất dẫn đến lạm quyền. Trong việc áp dụng các biện pháp phòng ngừa hành chính, quyền tùy nghi hành chính càng ít bao nhiêu, công dân càng được bảo đảm quyền lợi của mình bấy nhiêu.

Ngược lại, từ phía đối tượng quản lý có nhiều trường hợp coi nhẹ các biện pháp này dẫn đến pháp luật không được thực hiện nghiêm chỉnh. Mặc dù hoạt động áp dụng biện pháp phòng ngừa hành chính diễn ra nhiều, thường xuyên nhưng ít ai để ý và nhận thức đầy đủ về bản chất, vai trò của nó. Điều đó làm cho pháp luật không được tôn trọng, Nhà nước không hoàn thành vai trò của mình trong quản lý nhà nước khi sử dụng pháp luật là phương tiện quản lý. Có thể đưa ra một số giới hạn trong áp dụng biện pháp phòng ngừa hành chính như sau:

Thứ nhất, khi áp dụng biện pháp phòng ngừa hành chính phải trong giới hạn về thẩm quyền. Tức là pháp luật phải quy định rõ ràng chủ thể có thẩm quyền áp dụng, áp dụng chính xác các quy định của pháp luật về biện pháp phòng ngừa hành chính vào từng trường hợp cụ thể. Các chủ thể này cũng không được thay đổi hay tự ý chấm dứt việc áp dụng biện pháp này, trừ những trường hợp pháp luật quy định khác. Theo đó trách nhiệm hành chính được quy định kèm theo nếu chủ thể quản lý và đối tượng quản lý thực hiện không đúng, không đầy đủ các quy định pháp luật.

Thứ hai, áp dụng biện pháp phòng ngừa hành chính phải theo các thủ tục được pháp luật quy định. Vì hoạt động này ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích của đối tượng quản lý nên thủ tục áp dụng không chỉ bảo đảm thỏa mãn chức năng của Nhà nước mà còn bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của cá nhân, tổ chức. Do đó, thủ tục áp dụng biện pháp phòng ngừa hành chính là một giới hạn cần thiết.

Thứ ba, áp dụng phòng ngừa hành chính bị giới hạn bởi việc ghi nhận và bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Để bảo vệ quyền con người, quyền công dân, cần phải đưa ra những giới hạn cần được chủ thể có thẩm quyền tôn trọng và bảo vệ. Dù quyền lực nhà nước là rất lớn, nhưng cũng không thể can thiệp vô hạn và thô bạo vào đời sống cộng đồng con người. Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải chịu trách nhiệm pháp lý về hành vi lạm quyền, vi phạm quyền con người, quyền công dân trong áp dụng biện pháp phòng ngừa hành chính.

Thứ tư, pháp luật phải quy định rõ ràng nhóm các biện pháp phòng ngừa hành chính trong các văn bản pháp luật, đặt ra trách nhiệm pháp lý đối với việc thực hiện chúng, để chủ thể có thẩm quyền và đối tượng quản lý nhận thức đầy đủ. Từ đó, có trách nhiệm trong việc thực hiện những hành vi liên quan tới các biện pháp này, bảo đảm hiệu quả hoạt động quản lý hành chính nhà nước và thực hiện pháp luật theo tinh thần “thượng tôn công lý”

ThS. Nguyễn Thị Bích Ngọc
Khoa Luật, Đại học Vinh

Tài liệu tham khảo:

1. Vũ Thư (2000), Chế tài hành chính - Lý luận và thực tiễn”, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

2. Vũ Thư (2006), Về kiểm soát quyền lực hành pháp trong hệ thống quyền lực nhà nước Việt Nam hiện nay, Tạp chí Nhà nước và pháp luật.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích những bất cập trong quy định của pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con, từ đó, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy quyền được giáo dục của con trong gia đình được thực hiện hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển của trẻ em và xã hội trong bối cảnh hiện nay.
Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu một số học thuyết và phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật, chỉ ra những bất cập tồn tại trong quy định pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam chưa phù hợp với các học thuyết này. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng trong thời gian tới.
Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Tóm tắt: Cải cách thủ tục hành chính là yếu tố quan trọng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính, thúc đẩy cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đặc biệt là tạo động lực cho đổi mới sáng tạo. Nghiên cứu này phân tích sự cần thiết của cải cách thủ tục hành chính và thực trạng cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam trong việc khơi thông động lực đổi mới sáng tạo, từ đó, đề xuất giải pháp cải cách.
Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích quá trình phát triển tư tưởng về mối quan hệ giữa luật pháp và kinh tế học, tập trung vào trường phái kinh tế học pháp luật với phương pháp phân tích chi phí - lợi ích làm nổi bật vai trò quan trọng của việc cân nhắc các tác động hành vi cùng hiệu quả phân bổ nguồn lực trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật. Trên cơ sở đó, đề xuất áp dụng phương pháp kinh tế học pháp luật vào quy trình lập pháp tại Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả, tính minh bạch, sự công bằng xã hội và góp phần thúc đẩy cải cách pháp luật bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chuyển đổi số.

Theo dõi chúng tôi trên: