Thứ năm 27/08/2026 03:56
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Luật Kinh doanh bảo hiểm trong giai đoạn hội nhập - Một số bất cập và giải pháp hoàn thiện

Bài viết này phân tích những bất cập của pháp luật hiện hành về hoạt động kinh doanh bảo hiểm, từ đó, đề xuất những giải pháp hoàn thiện pháp luật về kinh doanh bảo hiểm trên cơ sở những điều kiện kinh tế, xã hội của Việt Nam trong giai đoạn tích cực hội nhập.


Việt Nam đang trong giai đoạn hội nhập sâu rộng về mọi mặt và quá trình hội nhập chắc chắn sẽ có những tác động lớn đến thị trường tài chính Việt Nam nói chung và thị trường bảo hiểm nói riêng. Cho đến thời điểm hiện tại, những bất cập của việc phát triển thị trường bảo hiểm ở nước ta đã được nhận diện dưới nhiều góc độ và những điều kiện tiên quyết đã được các chuyên gia xác định như: (i) Cần hoàn thiện môi trường pháp lý cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm; (ii) Cần nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam; (iii) Chuẩn bị nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ cho sự phát triển của ngành bảo hiểm[1]. Trong bài viết này, tác giả sẽ tập trung phân tích những bất cập của các quy định pháp luật hiện hành điều chỉnh hoạt động kinh doanh bảo hiểm, từ đó, đề xuất những giải pháp cho việc hoàn thiện pháp luật về hoạt động kinh doanh bảo hiểm trên cơ sở những điều kiện kinh tế, xã hội của Việt Nam trong giai đoạn tích cực hội nhập và nghiêm túc thực hiện các cam kết song phương, đa phương có liên quan đến hoạt động kinh doanh bảo hiểm của Việt Nam.

1. Về một số quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh bảo hiểm

Luật Kinh doanh bảo hiểm được ban hành vào năm 2000 và được sửa đổi, bổ sung một số điều vào năm 2010. Trong quá trình thi hành và áp dụng Luật này, cũng đã có khá nhiều văn bản hướng dẫn. Hiện nay, hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh bảo hiểm bao gồm: Luật Kinh doanh bảo hiểm, Nghị định số 73/2016/NĐ-CP ngày 01/07/2016 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Kinh doanh bảo hiểm và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm và Thông tư số 50/2017/TT-BTC ngày 15/5/2017 của Bộ Tài chính hướng dẫn Nghị định số 73/2016/NĐ-CP... Sự tinh gọn trong việc duy trì số lượng văn bản hướng dẫn là một sự nỗ lực rất lớn của cơ quan có thẩm quyền nhằm hạn chế tối đa sự chồng chéo và khó vận dụng trong quá trình thực hiện pháp luật. Tuy nhiên, khi quy định về các tổ chức kinh doanh bảo hiểm, pháp luật hiện hành cho phép các tổ chức kinh doanh bảo hiểm dưới các loại hình: Công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần; hợp tác xã bảo hiểm; tổ chức bảo hiểm tương hỗ[2] và vẫn có những bất cập sau đây:

(i) Đối với hợp tác xã bảo hiểm: Dù Luật Kinh doanh bảo hiểm đã có hiệu lực khá lâu, nhưng văn bản hướng dẫn về điều kiện thành lập và hoạt động của hợp tác xã bảo hiểm vẫn chưa được ban hành. Thiết nghĩ, nếu cho phép hợp tác xã hoạt động kinh doanh bảo hiểm, thì pháp luật vẫn phải có những điều kiện riêng như thủ tục thành lập, nội dung hoạt động, điều kiện về vốn, thành viên... Nghĩa là, phải có quy định riêng cho hợp tác xã kinh doanh bảo hiểm, chứ không phải đơn thuần những hợp tác xã theo Luật Hợp tác xã hiện hành. Đến nay, vẫn chưa có một hợp tác xã bảo hiểm nào ra đời ở Việt Nam, nghĩa là quy định vẫn còn nằm trên giấy. Phải chăng do chưa có văn bản hướng dẫn hay do không ai có nhu cầu kinh doanh bảo hiểm dưới mô hình hợp tác xã và trong tương lai pháp luật sẽ giải quyết thế nào đối với chủ thể này.

(ii) Đối với tổ chức bảo hiểm tương hỗ: Tuy đã có Nghị định hướng dẫn riêng cho đối tượng này, nhưng đến nay đã 13 năm kể từ ngày Nghị định hướng dẫn có hiệu lực, vẫn chưa có một tổ chức bảo hiểm tương hỗ nào được thành lập và hoạt động theo đúng tinh thần của Nghị định. Điều này cho thấy, nhiều quy định trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm chỉ “nằm trên giấy”.

2. Về trách nhiệm cung cấp thông tin trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm và hậu quả pháp lý liên quan đến thông tin trong hợp đồng bảo hiểm

Tại khoản 4 Điều 12 Luật Kinh doanh bảo hiểm chỉ quy định việc áp dụng Bộ luật Dân sự và pháp luật có liên quan, nhưng lại không quy định nếu có sự mâu thuẫn về các quy định liên quan đến hợp đồng thì giải quyết theo văn bản nào. Điều này dẫn đến sự tùy tiện trong việc lựa chọn hướng xử lý của bên cung ứng dịch vụ bảo hiểm và khó khăn trong việc giải quyết tranh chấp trong hợp đồng kinh doanh bảo hiểm, đặc biệt liên quan đến hướng xử lý khi có vi phạm liên quan đến việc cung cấp thông tin.

Luật Kinh doanh bảo hiểm quy định nhiều hình thức cung cấp thông tin không trung thực và có nhiều hướng xử lý khác biệt, cụ thể:

Thứ nhất, Điều 19 Luật này quy định: Doanh nghiệp bảo hiểm có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm và thu phí bảo hiểm đến thời điểm đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm khi bên mua bảo hiểm có một trong những hành vi cố ý cung cấp thông tin sai sự thật nhằm giao kết hợp đồng bảo hiểm để được trả tiền bảo hiểm hoặc được bồi thường… Hướng xử lý như sau: “Trong trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm cố ý cung cấp thông tin sai sự thật nhằm giao kết hợp đồng bảo hiểm thì bên mua bảo hiểm có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm; doanh nghiệp bảo hiểm phải bồi thường thiệt hại phát sinh cho bên mua bảo hiểm do việc cung cấp thông tin sai sự thật”[3].

Thứ hai, khoản 1 Điều 34 Luật này quy định: “Bên mua bảo hiểm phải có nghĩa vụ thông báo chính xác tuổi của người được bảo hiểm vào thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm để làm cơ sở tính phí bảo hiểm”. Hướng xử lý: (i) Hủy bỏ hợp đồng bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm hoàn trả số phí bảo hiểm trong trường hợp tuổi đúng của người được bảo hiểm không thuộc nhóm tuổi được bảo hiểm; (ii) Vẫn tiếp tục hợp đồng nhưng điều chỉnh tuổi và phí cho phù hợp nếu tuổi đúng vẫn thuộc nhóm tuổi được bảo hiểm. Pháp luật không quy định rõ về lỗi cố ý hay vô ý thông báo tuổi sai là một sự thiếu sót, nhưng nếu cố ý thông báo tuổi sai, thì đây cũng có thể xem là lừa dối khi giao kết hợp đồng bảo hiểm.

Thứ ba, Điều 22 Luật Kinh doanh bảo hiểm quy định về các trường hợp hợp đồng bảo hiểm bị vô hiệu, đó là: “Bên mua bảo hiểm hoặc doanh nghiệp bảo hiểm có hành vi lừa dối khi giao kết hợp đồng bảo hiểm”, như vậy, cùng một hành vi vi phạm, Luật Kinh doanh bảo hiểm đã đưa ra ba hướng xử lý khác nhau.

Cứ xem như đây là loại giao dịch đặc thù, nên Luật Kinh doanh bảo hiểm có thể quy định khác hơn so với Bộ luật Dân sự về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng. Tuy nhiên, nếu như có hành vi lừa dối khi giao kết hợp đồng, nghĩa là đã vi phạm nguyên tắc trung thực trong xác lập quyền và nghĩa vụ dân sự theo quy định Bộ luật Dân sự. Và trường hợp có sự vi phạm nguyên tắc này, thì Bộ luật Dân sự được ưu tiên áp dụng[4], nghĩa là, ở trường hợp này, không thể xử lý theo hướng các bên có quyền đình chỉ hợp đồng, hủy hợp đồng mà phải tuyên bố hợp đồng phải bị vô hiệu.

Có thể nói, việc quy định về tình huống và cách xử lý khi các bên vi phạm về nghĩa vụ cung cấp thông tin trong Luật Kinh doanh bảo hiểm không chỉ mâu thuẫn với quy định Bộ luật Dân sự, mà ngay trong những quy định của Luật này cũng thiếu sự thống nhất và đồng bộ. Việc đề cao tính trung thực trong xác lập các giao dịch dân sự là quan trọng. Tuy nhiên, trong trường hợp này, nếu lấy tính trung thực để làm điều kiện tiên quyết và hướng xử lý vi phạm về nghĩa vụ cung cấp thông tin là tuyên vô hiệu hợp đồng bảo hiểm xem như chưa thật hợp lý. Thêm vào đó, Luật Kinh doanh bảo hiểm còn cho thấy sự bất cập khi đưa các hướng xử lý như: đình chỉ hợp đồng, hủy hợp đồng. Đây là những chế tài được quy định trong Luật Thương mại 2005. Trong khi đó, Bộ luật Dân sự năm 2015 chỉ quy định về biện pháp hủy hợp đồng. Vấn đề này cần phải được giải quyết cả về lý luận và thực tiễn quy định của pháp luật. Bên cạnh đó, Luật Kinh doanh bảo hiểm quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin của các chủ thể khi giao kết hợp đồng bảo hiểm, nhưng lại không quy định về hình thức cung cấp thông tin. Thực tế cho thấy, doanh nghiệp bảo hiểm trực tiếp hoặc thông qua đại lý bảo hiểm cung cấp thông tin bảo hiểm, hình thức cung cấp bằng lời nói. Điều này dẫn đến bên mua bảo hiểm luôn phải chịu thiệt khi có tranh chấp xảy ra liên quan đến hợp đồng bảo hiểm, đặc biệt là các điều khoản về phí bảo hiểm, trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm, cần thiết quy định thêm điều khoản về hình thức cung cấp thông tin của các bên bằng văn bản hoặc các hình thức tương đương văn bản trong trường hợp này. Liên quan đến hướng xử lý khi vi phạm hợp đồng, Luật Kinh doanh bảo hiểm cần xây dựng một số khái niệm hoặc ít nhất cũng có những nguyên tắc cho việc xác định các giá trị như: Giá trị hoàn lại của hợp đồng bảo hiểm, chi phí hợp lý có liên quan… để bảo vệ quyền lợi cho người mua bảo hiểm.

3. Về nghĩa vụ bảo mật thông tin trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm

Luật Kinh doanh bảo hiểm không quy định về nghĩa vụ bảo mật thông tin khách hàng của doanh nghiệp cũng là một vấn đề cần nghiên cứu để bổ sung. Luật Kinh doanh bảo hiểm nên bổ sung điều khoản quy định về trách nhiệm bảo mật thông tin của doanh nghiệp bảo hiểm khi bên mua bảo hiểm có yêu cầu hoặc mặc nhiên được bảo vệ ngay cả trong trường hợp không có yêu cầu đối với một số thông tin nhất định. Quy định cụ thể về trách nhiệm bảo mật thông tin và nghĩa vụ chứng minh thiệt hại; doanh nghiệp bảo hiểm phải đảm bảo cho người mua bảo hiểm có quyền truy cập bằng mã số hợp đồng bảo hiểm và mật khẩu để kiểm tra thông tin khi cần thiết và cũng là để xem xét đến trách nhiệm bồi thường khi xảy ra những thiệt hại liên quan đến bảo mật thông tin.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chủ động hội nhập sâu rộng, Việt Nam có nhiều tiềm năng và điều kiện phát triển thị trường tài chính nói chung và thị trường bảo hiểm nói riêng. Tuy nhiên, chúng ta chỉ phát huy được những lợi thế đó khi xây dựng được môi trường pháp lý rõ ràng, thuận lợi cho các chủ thể thực hiện, tạo hành lang pháp lý an toàn, công bằng, hợp lý cho các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật kinh doanh bảo hiểm, đưa hoạt động kinh doanh bảo hiểm trở thành một trong những hoạt động thương mại phổ biến, hiệu quả và mang nhiều lợi ích cho đất nước.

TS. Nguyễn Thị Tâm

Đại học Mở TP. Hồ Chí Minh

Tài liệu tham khảo:

[1]. Nguyễn Tiến Hùng, Nhận diện những bất cập và giải pháp cho thị trường bảo hiểm Việt Nam trong giai đoạn hội nhập mới, Tạp chí Phát triển và Hội nhập, số 36 tháng 2/2006.

[2]. Điều 59 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010).

[3].Điểm a khoản 2 Điều 19 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010).

[4]. Điều 4 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về việc áp dụng Bộ luật Dân sự.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.

Theo dõi chúng tôi trên: