Chủ nhật 17/05/2026 04:39
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Luật Kinh doanh bảo hiểm trong giai đoạn hội nhập - Một số bất cập và giải pháp hoàn thiện

Bài viết này phân tích những bất cập của pháp luật hiện hành về hoạt động kinh doanh bảo hiểm, từ đó, đề xuất những giải pháp hoàn thiện pháp luật về kinh doanh bảo hiểm trên cơ sở những điều kiện kinh tế, xã hội của Việt Nam trong giai đoạn tích cực hội nhập.


Việt Nam đang trong giai đoạn hội nhập sâu rộng về mọi mặt và quá trình hội nhập chắc chắn sẽ có những tác động lớn đến thị trường tài chính Việt Nam nói chung và thị trường bảo hiểm nói riêng. Cho đến thời điểm hiện tại, những bất cập của việc phát triển thị trường bảo hiểm ở nước ta đã được nhận diện dưới nhiều góc độ và những điều kiện tiên quyết đã được các chuyên gia xác định như: (i) Cần hoàn thiện môi trường pháp lý cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm; (ii) Cần nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam; (iii) Chuẩn bị nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ cho sự phát triển của ngành bảo hiểm[1]. Trong bài viết này, tác giả sẽ tập trung phân tích những bất cập của các quy định pháp luật hiện hành điều chỉnh hoạt động kinh doanh bảo hiểm, từ đó, đề xuất những giải pháp cho việc hoàn thiện pháp luật về hoạt động kinh doanh bảo hiểm trên cơ sở những điều kiện kinh tế, xã hội của Việt Nam trong giai đoạn tích cực hội nhập và nghiêm túc thực hiện các cam kết song phương, đa phương có liên quan đến hoạt động kinh doanh bảo hiểm của Việt Nam.

1. Về một số quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh bảo hiểm

Luật Kinh doanh bảo hiểm được ban hành vào năm 2000 và được sửa đổi, bổ sung một số điều vào năm 2010. Trong quá trình thi hành và áp dụng Luật này, cũng đã có khá nhiều văn bản hướng dẫn. Hiện nay, hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh bảo hiểm bao gồm: Luật Kinh doanh bảo hiểm, Nghị định số 73/2016/NĐ-CP ngày 01/07/2016 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Kinh doanh bảo hiểm và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm và Thông tư số 50/2017/TT-BTC ngày 15/5/2017 của Bộ Tài chính hướng dẫn Nghị định số 73/2016/NĐ-CP... Sự tinh gọn trong việc duy trì số lượng văn bản hướng dẫn là một sự nỗ lực rất lớn của cơ quan có thẩm quyền nhằm hạn chế tối đa sự chồng chéo và khó vận dụng trong quá trình thực hiện pháp luật. Tuy nhiên, khi quy định về các tổ chức kinh doanh bảo hiểm, pháp luật hiện hành cho phép các tổ chức kinh doanh bảo hiểm dưới các loại hình: Công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần; hợp tác xã bảo hiểm; tổ chức bảo hiểm tương hỗ[2] và vẫn có những bất cập sau đây:

(i) Đối với hợp tác xã bảo hiểm: Dù Luật Kinh doanh bảo hiểm đã có hiệu lực khá lâu, nhưng văn bản hướng dẫn về điều kiện thành lập và hoạt động của hợp tác xã bảo hiểm vẫn chưa được ban hành. Thiết nghĩ, nếu cho phép hợp tác xã hoạt động kinh doanh bảo hiểm, thì pháp luật vẫn phải có những điều kiện riêng như thủ tục thành lập, nội dung hoạt động, điều kiện về vốn, thành viên... Nghĩa là, phải có quy định riêng cho hợp tác xã kinh doanh bảo hiểm, chứ không phải đơn thuần những hợp tác xã theo Luật Hợp tác xã hiện hành. Đến nay, vẫn chưa có một hợp tác xã bảo hiểm nào ra đời ở Việt Nam, nghĩa là quy định vẫn còn nằm trên giấy. Phải chăng do chưa có văn bản hướng dẫn hay do không ai có nhu cầu kinh doanh bảo hiểm dưới mô hình hợp tác xã và trong tương lai pháp luật sẽ giải quyết thế nào đối với chủ thể này.

(ii) Đối với tổ chức bảo hiểm tương hỗ: Tuy đã có Nghị định hướng dẫn riêng cho đối tượng này, nhưng đến nay đã 13 năm kể từ ngày Nghị định hướng dẫn có hiệu lực, vẫn chưa có một tổ chức bảo hiểm tương hỗ nào được thành lập và hoạt động theo đúng tinh thần của Nghị định. Điều này cho thấy, nhiều quy định trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm chỉ “nằm trên giấy”.

2. Về trách nhiệm cung cấp thông tin trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm và hậu quả pháp lý liên quan đến thông tin trong hợp đồng bảo hiểm

Tại khoản 4 Điều 12 Luật Kinh doanh bảo hiểm chỉ quy định việc áp dụng Bộ luật Dân sự và pháp luật có liên quan, nhưng lại không quy định nếu có sự mâu thuẫn về các quy định liên quan đến hợp đồng thì giải quyết theo văn bản nào. Điều này dẫn đến sự tùy tiện trong việc lựa chọn hướng xử lý của bên cung ứng dịch vụ bảo hiểm và khó khăn trong việc giải quyết tranh chấp trong hợp đồng kinh doanh bảo hiểm, đặc biệt liên quan đến hướng xử lý khi có vi phạm liên quan đến việc cung cấp thông tin.

Luật Kinh doanh bảo hiểm quy định nhiều hình thức cung cấp thông tin không trung thực và có nhiều hướng xử lý khác biệt, cụ thể:

Thứ nhất, Điều 19 Luật này quy định: Doanh nghiệp bảo hiểm có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm và thu phí bảo hiểm đến thời điểm đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm khi bên mua bảo hiểm có một trong những hành vi cố ý cung cấp thông tin sai sự thật nhằm giao kết hợp đồng bảo hiểm để được trả tiền bảo hiểm hoặc được bồi thường… Hướng xử lý như sau: “Trong trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm cố ý cung cấp thông tin sai sự thật nhằm giao kết hợp đồng bảo hiểm thì bên mua bảo hiểm có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm; doanh nghiệp bảo hiểm phải bồi thường thiệt hại phát sinh cho bên mua bảo hiểm do việc cung cấp thông tin sai sự thật”[3].

Thứ hai, khoản 1 Điều 34 Luật này quy định: “Bên mua bảo hiểm phải có nghĩa vụ thông báo chính xác tuổi của người được bảo hiểm vào thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm để làm cơ sở tính phí bảo hiểm”. Hướng xử lý: (i) Hủy bỏ hợp đồng bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm hoàn trả số phí bảo hiểm trong trường hợp tuổi đúng của người được bảo hiểm không thuộc nhóm tuổi được bảo hiểm; (ii) Vẫn tiếp tục hợp đồng nhưng điều chỉnh tuổi và phí cho phù hợp nếu tuổi đúng vẫn thuộc nhóm tuổi được bảo hiểm. Pháp luật không quy định rõ về lỗi cố ý hay vô ý thông báo tuổi sai là một sự thiếu sót, nhưng nếu cố ý thông báo tuổi sai, thì đây cũng có thể xem là lừa dối khi giao kết hợp đồng bảo hiểm.

Thứ ba, Điều 22 Luật Kinh doanh bảo hiểm quy định về các trường hợp hợp đồng bảo hiểm bị vô hiệu, đó là: “Bên mua bảo hiểm hoặc doanh nghiệp bảo hiểm có hành vi lừa dối khi giao kết hợp đồng bảo hiểm”, như vậy, cùng một hành vi vi phạm, Luật Kinh doanh bảo hiểm đã đưa ra ba hướng xử lý khác nhau.

Cứ xem như đây là loại giao dịch đặc thù, nên Luật Kinh doanh bảo hiểm có thể quy định khác hơn so với Bộ luật Dân sự về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng. Tuy nhiên, nếu như có hành vi lừa dối khi giao kết hợp đồng, nghĩa là đã vi phạm nguyên tắc trung thực trong xác lập quyền và nghĩa vụ dân sự theo quy định Bộ luật Dân sự. Và trường hợp có sự vi phạm nguyên tắc này, thì Bộ luật Dân sự được ưu tiên áp dụng[4], nghĩa là, ở trường hợp này, không thể xử lý theo hướng các bên có quyền đình chỉ hợp đồng, hủy hợp đồng mà phải tuyên bố hợp đồng phải bị vô hiệu.

Có thể nói, việc quy định về tình huống và cách xử lý khi các bên vi phạm về nghĩa vụ cung cấp thông tin trong Luật Kinh doanh bảo hiểm không chỉ mâu thuẫn với quy định Bộ luật Dân sự, mà ngay trong những quy định của Luật này cũng thiếu sự thống nhất và đồng bộ. Việc đề cao tính trung thực trong xác lập các giao dịch dân sự là quan trọng. Tuy nhiên, trong trường hợp này, nếu lấy tính trung thực để làm điều kiện tiên quyết và hướng xử lý vi phạm về nghĩa vụ cung cấp thông tin là tuyên vô hiệu hợp đồng bảo hiểm xem như chưa thật hợp lý. Thêm vào đó, Luật Kinh doanh bảo hiểm còn cho thấy sự bất cập khi đưa các hướng xử lý như: đình chỉ hợp đồng, hủy hợp đồng. Đây là những chế tài được quy định trong Luật Thương mại 2005. Trong khi đó, Bộ luật Dân sự năm 2015 chỉ quy định về biện pháp hủy hợp đồng. Vấn đề này cần phải được giải quyết cả về lý luận và thực tiễn quy định của pháp luật. Bên cạnh đó, Luật Kinh doanh bảo hiểm quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin của các chủ thể khi giao kết hợp đồng bảo hiểm, nhưng lại không quy định về hình thức cung cấp thông tin. Thực tế cho thấy, doanh nghiệp bảo hiểm trực tiếp hoặc thông qua đại lý bảo hiểm cung cấp thông tin bảo hiểm, hình thức cung cấp bằng lời nói. Điều này dẫn đến bên mua bảo hiểm luôn phải chịu thiệt khi có tranh chấp xảy ra liên quan đến hợp đồng bảo hiểm, đặc biệt là các điều khoản về phí bảo hiểm, trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm, cần thiết quy định thêm điều khoản về hình thức cung cấp thông tin của các bên bằng văn bản hoặc các hình thức tương đương văn bản trong trường hợp này. Liên quan đến hướng xử lý khi vi phạm hợp đồng, Luật Kinh doanh bảo hiểm cần xây dựng một số khái niệm hoặc ít nhất cũng có những nguyên tắc cho việc xác định các giá trị như: Giá trị hoàn lại của hợp đồng bảo hiểm, chi phí hợp lý có liên quan… để bảo vệ quyền lợi cho người mua bảo hiểm.

3. Về nghĩa vụ bảo mật thông tin trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm

Luật Kinh doanh bảo hiểm không quy định về nghĩa vụ bảo mật thông tin khách hàng của doanh nghiệp cũng là một vấn đề cần nghiên cứu để bổ sung. Luật Kinh doanh bảo hiểm nên bổ sung điều khoản quy định về trách nhiệm bảo mật thông tin của doanh nghiệp bảo hiểm khi bên mua bảo hiểm có yêu cầu hoặc mặc nhiên được bảo vệ ngay cả trong trường hợp không có yêu cầu đối với một số thông tin nhất định. Quy định cụ thể về trách nhiệm bảo mật thông tin và nghĩa vụ chứng minh thiệt hại; doanh nghiệp bảo hiểm phải đảm bảo cho người mua bảo hiểm có quyền truy cập bằng mã số hợp đồng bảo hiểm và mật khẩu để kiểm tra thông tin khi cần thiết và cũng là để xem xét đến trách nhiệm bồi thường khi xảy ra những thiệt hại liên quan đến bảo mật thông tin.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chủ động hội nhập sâu rộng, Việt Nam có nhiều tiềm năng và điều kiện phát triển thị trường tài chính nói chung và thị trường bảo hiểm nói riêng. Tuy nhiên, chúng ta chỉ phát huy được những lợi thế đó khi xây dựng được môi trường pháp lý rõ ràng, thuận lợi cho các chủ thể thực hiện, tạo hành lang pháp lý an toàn, công bằng, hợp lý cho các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật kinh doanh bảo hiểm, đưa hoạt động kinh doanh bảo hiểm trở thành một trong những hoạt động thương mại phổ biến, hiệu quả và mang nhiều lợi ích cho đất nước.

TS. Nguyễn Thị Tâm

Đại học Mở TP. Hồ Chí Minh

Tài liệu tham khảo:

[1]. Nguyễn Tiến Hùng, Nhận diện những bất cập và giải pháp cho thị trường bảo hiểm Việt Nam trong giai đoạn hội nhập mới, Tạp chí Phát triển và Hội nhập, số 36 tháng 2/2006.

[2]. Điều 59 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010).

[3].Điểm a khoản 2 Điều 19 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010).

[4]. Điều 4 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về việc áp dụng Bộ luật Dân sự.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: