Thứ tư 11/03/2026 07:42
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Luật Kinh doanh bảo hiểm trong giai đoạn hội nhập - Một số bất cập và giải pháp hoàn thiện

Bài viết này phân tích những bất cập của pháp luật hiện hành về hoạt động kinh doanh bảo hiểm, từ đó, đề xuất những giải pháp hoàn thiện pháp luật về kinh doanh bảo hiểm trên cơ sở những điều kiện kinh tế, xã hội của Việt Nam trong giai đoạn tích cực hội nhập.


Việt Nam đang trong giai đoạn hội nhập sâu rộng về mọi mặt và quá trình hội nhập chắc chắn sẽ có những tác động lớn đến thị trường tài chính Việt Nam nói chung và thị trường bảo hiểm nói riêng. Cho đến thời điểm hiện tại, những bất cập của việc phát triển thị trường bảo hiểm ở nước ta đã được nhận diện dưới nhiều góc độ và những điều kiện tiên quyết đã được các chuyên gia xác định như: (i) Cần hoàn thiện môi trường pháp lý cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm; (ii) Cần nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam; (iii) Chuẩn bị nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ cho sự phát triển của ngành bảo hiểm[1]. Trong bài viết này, tác giả sẽ tập trung phân tích những bất cập của các quy định pháp luật hiện hành điều chỉnh hoạt động kinh doanh bảo hiểm, từ đó, đề xuất những giải pháp cho việc hoàn thiện pháp luật về hoạt động kinh doanh bảo hiểm trên cơ sở những điều kiện kinh tế, xã hội của Việt Nam trong giai đoạn tích cực hội nhập và nghiêm túc thực hiện các cam kết song phương, đa phương có liên quan đến hoạt động kinh doanh bảo hiểm của Việt Nam.

1. Về một số quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh bảo hiểm

Luật Kinh doanh bảo hiểm được ban hành vào năm 2000 và được sửa đổi, bổ sung một số điều vào năm 2010. Trong quá trình thi hành và áp dụng Luật này, cũng đã có khá nhiều văn bản hướng dẫn. Hiện nay, hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh bảo hiểm bao gồm: Luật Kinh doanh bảo hiểm, Nghị định số 73/2016/NĐ-CP ngày 01/07/2016 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Kinh doanh bảo hiểm và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm và Thông tư số 50/2017/TT-BTC ngày 15/5/2017 của Bộ Tài chính hướng dẫn Nghị định số 73/2016/NĐ-CP... Sự tinh gọn trong việc duy trì số lượng văn bản hướng dẫn là một sự nỗ lực rất lớn của cơ quan có thẩm quyền nhằm hạn chế tối đa sự chồng chéo và khó vận dụng trong quá trình thực hiện pháp luật. Tuy nhiên, khi quy định về các tổ chức kinh doanh bảo hiểm, pháp luật hiện hành cho phép các tổ chức kinh doanh bảo hiểm dưới các loại hình: Công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần; hợp tác xã bảo hiểm; tổ chức bảo hiểm tương hỗ[2] và vẫn có những bất cập sau đây:

(i) Đối với hợp tác xã bảo hiểm: Dù Luật Kinh doanh bảo hiểm đã có hiệu lực khá lâu, nhưng văn bản hướng dẫn về điều kiện thành lập và hoạt động của hợp tác xã bảo hiểm vẫn chưa được ban hành. Thiết nghĩ, nếu cho phép hợp tác xã hoạt động kinh doanh bảo hiểm, thì pháp luật vẫn phải có những điều kiện riêng như thủ tục thành lập, nội dung hoạt động, điều kiện về vốn, thành viên... Nghĩa là, phải có quy định riêng cho hợp tác xã kinh doanh bảo hiểm, chứ không phải đơn thuần những hợp tác xã theo Luật Hợp tác xã hiện hành. Đến nay, vẫn chưa có một hợp tác xã bảo hiểm nào ra đời ở Việt Nam, nghĩa là quy định vẫn còn nằm trên giấy. Phải chăng do chưa có văn bản hướng dẫn hay do không ai có nhu cầu kinh doanh bảo hiểm dưới mô hình hợp tác xã và trong tương lai pháp luật sẽ giải quyết thế nào đối với chủ thể này.

(ii) Đối với tổ chức bảo hiểm tương hỗ: Tuy đã có Nghị định hướng dẫn riêng cho đối tượng này, nhưng đến nay đã 13 năm kể từ ngày Nghị định hướng dẫn có hiệu lực, vẫn chưa có một tổ chức bảo hiểm tương hỗ nào được thành lập và hoạt động theo đúng tinh thần của Nghị định. Điều này cho thấy, nhiều quy định trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm chỉ “nằm trên giấy”.

2. Về trách nhiệm cung cấp thông tin trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm và hậu quả pháp lý liên quan đến thông tin trong hợp đồng bảo hiểm

Tại khoản 4 Điều 12 Luật Kinh doanh bảo hiểm chỉ quy định việc áp dụng Bộ luật Dân sự và pháp luật có liên quan, nhưng lại không quy định nếu có sự mâu thuẫn về các quy định liên quan đến hợp đồng thì giải quyết theo văn bản nào. Điều này dẫn đến sự tùy tiện trong việc lựa chọn hướng xử lý của bên cung ứng dịch vụ bảo hiểm và khó khăn trong việc giải quyết tranh chấp trong hợp đồng kinh doanh bảo hiểm, đặc biệt liên quan đến hướng xử lý khi có vi phạm liên quan đến việc cung cấp thông tin.

Luật Kinh doanh bảo hiểm quy định nhiều hình thức cung cấp thông tin không trung thực và có nhiều hướng xử lý khác biệt, cụ thể:

Thứ nhất, Điều 19 Luật này quy định: Doanh nghiệp bảo hiểm có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm và thu phí bảo hiểm đến thời điểm đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm khi bên mua bảo hiểm có một trong những hành vi cố ý cung cấp thông tin sai sự thật nhằm giao kết hợp đồng bảo hiểm để được trả tiền bảo hiểm hoặc được bồi thường… Hướng xử lý như sau: “Trong trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm cố ý cung cấp thông tin sai sự thật nhằm giao kết hợp đồng bảo hiểm thì bên mua bảo hiểm có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm; doanh nghiệp bảo hiểm phải bồi thường thiệt hại phát sinh cho bên mua bảo hiểm do việc cung cấp thông tin sai sự thật”[3].

Thứ hai, khoản 1 Điều 34 Luật này quy định: “Bên mua bảo hiểm phải có nghĩa vụ thông báo chính xác tuổi của người được bảo hiểm vào thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm để làm cơ sở tính phí bảo hiểm”. Hướng xử lý: (i) Hủy bỏ hợp đồng bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm hoàn trả số phí bảo hiểm trong trường hợp tuổi đúng của người được bảo hiểm không thuộc nhóm tuổi được bảo hiểm; (ii) Vẫn tiếp tục hợp đồng nhưng điều chỉnh tuổi và phí cho phù hợp nếu tuổi đúng vẫn thuộc nhóm tuổi được bảo hiểm. Pháp luật không quy định rõ về lỗi cố ý hay vô ý thông báo tuổi sai là một sự thiếu sót, nhưng nếu cố ý thông báo tuổi sai, thì đây cũng có thể xem là lừa dối khi giao kết hợp đồng bảo hiểm.

Thứ ba, Điều 22 Luật Kinh doanh bảo hiểm quy định về các trường hợp hợp đồng bảo hiểm bị vô hiệu, đó là: “Bên mua bảo hiểm hoặc doanh nghiệp bảo hiểm có hành vi lừa dối khi giao kết hợp đồng bảo hiểm”, như vậy, cùng một hành vi vi phạm, Luật Kinh doanh bảo hiểm đã đưa ra ba hướng xử lý khác nhau.

Cứ xem như đây là loại giao dịch đặc thù, nên Luật Kinh doanh bảo hiểm có thể quy định khác hơn so với Bộ luật Dân sự về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng. Tuy nhiên, nếu như có hành vi lừa dối khi giao kết hợp đồng, nghĩa là đã vi phạm nguyên tắc trung thực trong xác lập quyền và nghĩa vụ dân sự theo quy định Bộ luật Dân sự. Và trường hợp có sự vi phạm nguyên tắc này, thì Bộ luật Dân sự được ưu tiên áp dụng[4], nghĩa là, ở trường hợp này, không thể xử lý theo hướng các bên có quyền đình chỉ hợp đồng, hủy hợp đồng mà phải tuyên bố hợp đồng phải bị vô hiệu.

Có thể nói, việc quy định về tình huống và cách xử lý khi các bên vi phạm về nghĩa vụ cung cấp thông tin trong Luật Kinh doanh bảo hiểm không chỉ mâu thuẫn với quy định Bộ luật Dân sự, mà ngay trong những quy định của Luật này cũng thiếu sự thống nhất và đồng bộ. Việc đề cao tính trung thực trong xác lập các giao dịch dân sự là quan trọng. Tuy nhiên, trong trường hợp này, nếu lấy tính trung thực để làm điều kiện tiên quyết và hướng xử lý vi phạm về nghĩa vụ cung cấp thông tin là tuyên vô hiệu hợp đồng bảo hiểm xem như chưa thật hợp lý. Thêm vào đó, Luật Kinh doanh bảo hiểm còn cho thấy sự bất cập khi đưa các hướng xử lý như: đình chỉ hợp đồng, hủy hợp đồng. Đây là những chế tài được quy định trong Luật Thương mại 2005. Trong khi đó, Bộ luật Dân sự năm 2015 chỉ quy định về biện pháp hủy hợp đồng. Vấn đề này cần phải được giải quyết cả về lý luận và thực tiễn quy định của pháp luật. Bên cạnh đó, Luật Kinh doanh bảo hiểm quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin của các chủ thể khi giao kết hợp đồng bảo hiểm, nhưng lại không quy định về hình thức cung cấp thông tin. Thực tế cho thấy, doanh nghiệp bảo hiểm trực tiếp hoặc thông qua đại lý bảo hiểm cung cấp thông tin bảo hiểm, hình thức cung cấp bằng lời nói. Điều này dẫn đến bên mua bảo hiểm luôn phải chịu thiệt khi có tranh chấp xảy ra liên quan đến hợp đồng bảo hiểm, đặc biệt là các điều khoản về phí bảo hiểm, trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm, cần thiết quy định thêm điều khoản về hình thức cung cấp thông tin của các bên bằng văn bản hoặc các hình thức tương đương văn bản trong trường hợp này. Liên quan đến hướng xử lý khi vi phạm hợp đồng, Luật Kinh doanh bảo hiểm cần xây dựng một số khái niệm hoặc ít nhất cũng có những nguyên tắc cho việc xác định các giá trị như: Giá trị hoàn lại của hợp đồng bảo hiểm, chi phí hợp lý có liên quan… để bảo vệ quyền lợi cho người mua bảo hiểm.

3. Về nghĩa vụ bảo mật thông tin trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm

Luật Kinh doanh bảo hiểm không quy định về nghĩa vụ bảo mật thông tin khách hàng của doanh nghiệp cũng là một vấn đề cần nghiên cứu để bổ sung. Luật Kinh doanh bảo hiểm nên bổ sung điều khoản quy định về trách nhiệm bảo mật thông tin của doanh nghiệp bảo hiểm khi bên mua bảo hiểm có yêu cầu hoặc mặc nhiên được bảo vệ ngay cả trong trường hợp không có yêu cầu đối với một số thông tin nhất định. Quy định cụ thể về trách nhiệm bảo mật thông tin và nghĩa vụ chứng minh thiệt hại; doanh nghiệp bảo hiểm phải đảm bảo cho người mua bảo hiểm có quyền truy cập bằng mã số hợp đồng bảo hiểm và mật khẩu để kiểm tra thông tin khi cần thiết và cũng là để xem xét đến trách nhiệm bồi thường khi xảy ra những thiệt hại liên quan đến bảo mật thông tin.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chủ động hội nhập sâu rộng, Việt Nam có nhiều tiềm năng và điều kiện phát triển thị trường tài chính nói chung và thị trường bảo hiểm nói riêng. Tuy nhiên, chúng ta chỉ phát huy được những lợi thế đó khi xây dựng được môi trường pháp lý rõ ràng, thuận lợi cho các chủ thể thực hiện, tạo hành lang pháp lý an toàn, công bằng, hợp lý cho các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật kinh doanh bảo hiểm, đưa hoạt động kinh doanh bảo hiểm trở thành một trong những hoạt động thương mại phổ biến, hiệu quả và mang nhiều lợi ích cho đất nước.

TS. Nguyễn Thị Tâm

Đại học Mở TP. Hồ Chí Minh

Tài liệu tham khảo:

[1]. Nguyễn Tiến Hùng, Nhận diện những bất cập và giải pháp cho thị trường bảo hiểm Việt Nam trong giai đoạn hội nhập mới, Tạp chí Phát triển và Hội nhập, số 36 tháng 2/2006.

[2]. Điều 59 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010).

[3].Điểm a khoản 2 Điều 19 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010).

[4]. Điều 4 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về việc áp dụng Bộ luật Dân sự.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.

Theo dõi chúng tôi trên: