Thứ năm 16/04/2026 12:35
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Luật Người cao tuổi - Thực tiễn triển khai sau 08 năm thi hành

Luật Người cao tuổi đã tạo nền tảng pháp lý quan trọng, bảo đảm quyền và lợi ích cơ bản của người cao tuổi, là cơ sở để hình thành chính sách và giải pháp phù hợp với xu thế già hóa, tốc độ già hóa dân số ở nước ta.

Sau 08 năm ban hành, các quy định của Luật Người cao tuổi đã từng bước đi vào cuộc sống, phục vụ đắc lực cho công tác an sinh xã hội, chăm sóc, trợ giúp và phát huy vai trò người cao tuổi. Căn cứ vào một số kết quả khảo sát đánh giá của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Quỹ dân số Liên Hợp quốc, Viện Khoa học Lao động và Xã hội, Viện Chính sách công và Quản lý cùng những thống kê hàng năm về tình hình người cao tuổi của Tổng cục Dân số kế hoạch hóa gia đình, bài viết này tập trung làm sáng tỏ những kết quả chính đạt được cũng như những tồn tại, bất cập trong quá trình triển khai Luật Người cao tuổi, qua đó, đề xuất những giải pháp nhằm góp phần đưa Luật Người cao tuổi đi vào thực tiễn hiệu quả hơn.

1. Kết quả triển khai Luật Người cao tuổi trong thực tiễn đời sống

1.1. Về chăm sóc sức khỏe, đời sống vật chất, đời sống tinh thần cho người cao tuổi

Sau thực tiễn 08 năm thực hiện Luật, đã có nhiều chương trình hoạt động tư vấn và chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi cả nước được thực hiện, thông qua các các chương trình này, hơn 02 triệu người cao tuổi đã khám tư vấn các bệnh về mắt, trong đó, hơn 200 nghìn người đã được mổ thay thủy tinh thể với tổng số tiền miễn phí gần 400 tỷ đồng...; các hoạt động khám sức khỏe định kỳ cho người cao tuổi thông qua bảo hiểm y tế được thực hiện có hiệu quả hơn, hoạt động chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi được thực hiện lồng ghép ở ba hình thức chính: Chăm sóc tại nhà, chăm sóc tại cơ sở tập trung (các trung tâm bảo trợ xã hội, nhà dưỡng lão, nhà xã hội) và chăm sóc dựa vào cộng đồng (câu lạc bộ liên thế hệ tự giúp nhau, câu lạc bộ tình nguyện viên chăm sóc người cao tuổi).

- Tại các trung tâm bảo trợ xã hội: Các trung tâm bảo trợ xã hội nhận chăm sóc các đối tượng là người cao tuổi cô đơn, không nơi nương tựa, người cao tuổi tàn tật… Ngoài ra, còn có các cơ sở từ thiện, nhà chùa nhận chăm sóc người cao tuổi. Tuy nhiên, hoạt động của các cơ sở này mang lại hiệu quả chưa cao do còn gặp nhiều khó khăn về tài chính, đội ngũ cán bộ, nhân viên có chuyên môn, nghiệp vụ, cơ sở vật chất thiếu thốn. Hiện nay, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đang nghiên cứu để tiến hành chuyển đổi loại hình trung tâm bảo trợ xã hội thành các trung tâm cung cấp dịch vụ công tác xã hội và đẩy mạnh các hình thức chăm sóc các đối tượng tại trung tâm dựa vào cộng đồng để thay thế mô hình cũ.

- Tại cơ sở dưỡng lão: Nhà dưỡng lão chăm sóc người cao tuổi có công, nhận chăm sóc người cao tuổi có công với cách mạng như: Mẹ Việt Nam anh hùng; cha, mẹ liệt sỹ; người cao tuổi là thương binh, thanh niên xung phong và những người cao tuổi có tiêu chuẩn. Hình thức chăm sóc thông qua các cơ sở dưỡng lão do Nhà nước quản lý, giám sát và cung cấp kinh phí hoạt động.

- Tại các cơ sở cung cấp dịch vụ chăm sóc người cao tuổi có thu phí: Các trung tâm, các công ty chăm sóc người cao tuổi có thu phí đều là các cơ sở tư nhân, cung cấp dịch vụ nhân viên chăm sóc người cao tuổi tại gia đình nên họ hoạt động có tính chuyên nghiệp và được trả lương. Mỗi ngày, các nhân viên dịch vụ sẽ đến nhà thực hiện các công việc trông nom, chăm sóc người cao tuổi theo yêu cầu và thỏa thuận giữa hai bên. Đáng chú ý là, các cơ sở này được thành lập dựa trên nhu cầu của xã hội nên hướng đến mục đích phục vụ những người cao tuổi có điều kiện kinh tế, con cái có điều kiện nhưng bận rộn công việc... Mức phí phụ thuộc vào chất lượng và mức độ chăm sóc, các cơ sở cung cấp dịch vụ chăm sóc người cao tuổi có thu phí đạt tiêu chuẩn bao gồm nơi ăn ở, bộ phận chăm sóc y tế khám bệnh, khu thể dục thể thao, phục hồi chức năng cho người cao tuổi. Ngoài ra, các cơ sở này cũng phối hợp với các bệnh viện để khám, chữa bệnh cho người cao tuổi. Hiện nay, số lượng cơ sở dưỡng lão tư nhân còn rất hạn chế lại thiếu cơ chế quản lý nên chưa có các quy định về tiêu chuẩn, chưa có sự giám sát chặt chẽ của các cơ quan quản lý nên chất lượng còn nhiều hạn chế[1].

- Chăm sóc người cao tuổi dựa vào cộng đồng: Ban đầu, mô hình này được nhen nhóm từ hình thức nhà xã hội do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tài trợ và Trung ương Hội người cao tuổi Việt Nam, Trung tâm Trợ giúp người cao tuổi và Phát triển cộng đồng thực hiện nhằm chăm sóc người cao tuổi cô đơn không nơi nương tựa tại 03 tỉnh: Nam Định, Huế, Bến Tre. Đến nay, mô hình này phát triển thành mô hình liên thế hệ tự giúp nhau, đã góp phần tích cực trong việc cải thiện cuộc sống của người cao tuổi nghèo, cận nghèo, người cao tuổi cô đơn, không nơi nương tựa; giúp họ tổ chức các hoạt động chăm sóc sức khoẻ, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần và bảo vệ quyền lợi... Đây là mô hình được đánh giá là rất thành công, có tính ưu việt cao và có nhiều tác động tích cực đến hoạt động chăm sóc, trợ giúp và phát huy vai trò người cao tuổi, do vậy mô hình này đang tích cực được xây dựng và nhân rộng trong phạm vi cả nước[2]. Sau khi có Luật Người cao tuổi, từ năm 2009 đến năm 2015, loại mô hình câu lạc bộ đã được triển khai tại 12 tỉnh/thành gồm: Hà Nội, Thái Nguyên, Nam Định, Hải Dương, Quảng Ninh, Hoà Bình, Thanh Hoá, Hải Phòng, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình và Bến Tre với hơn 600 câu lạc bộ và sự tham gia trực tiếp của hơn 30.000 thành viên. Mô hình liên thế hệ tự giúp nhau bảo đảm chất lượng, chỉ tiêu theo quy định như: 70% là người cao tuổi (từ 55 tuổi trở lên), 60 - 70% là phụ nữ, 60% - 70% là người nghèo, cận nghèo hoặc có hoàn cảnh khó khăn; có ít nhất 50% thành viên được vay vốn bằng tiền hoặc hiện vật và cải thiện thu nhập; 80% câu lạc bộ liên thế hệ tự giúp nhau được tập huấn và giám sát theo quy chế[3]; người cao tuổi cô đơn, nghèo khó được tình nguyện viên đến nhà chăm sóc, khi ốm đau sẽ được đưa đến nhà xã hội, được nhân viên y tế chăm sóc và được nuôi dưỡng đến khi khỏe mạnh trở về nhà.

Đánh giá sau giai đoạn đầu thực hiện Luật Người cao tuổi, mức độ đáp ứng các quyền về kinh tế - xã hội của người cao tuổi đạt 50-60% nhu cầu theo đánh giá của người cao tuổi, có gần 90% người cao tuổi được bảo đảm nhu cầu về ăn, mặc, ở.

Tính đến nay, cả nước có hơn 1,5 triệu người cao tuổi được hưởng chính sách bảo trợ xã hội hàng tháng, chiếm tỷ lệ cao trong tổng số đối tượng hiện đang nhận trợ cấp (77%). Mức trợ cấp xã hội đang được tăng dần nhằm bù đắp những thiếu hụt để đảm bảo nhu cầu tối thiểu cho người cao tuổi; hàng nghìn người cao tuổi nghèo được hỗ trợ xóa nhà tạm, sửa chữa nâng cấp nhà ở; tổ chức chúc thọ, mừng thọ cho trên 01 triệu người cao tuổi; thăm hỏi, động viên lúc ốm đau bệnh tật cho hơn 900 nghìn người cao tuổi. Đời sống vật chất, đời sống tinh thần của người cao tuổi được nâng lên, đi đôi với quan tâm chăm sóc đời sống vật chất và sức khỏe, các địa phương trên cả nước đã quan tâm phát triển các hoạt động văn hóa, tinh thần cho người cao tuổi. Các hoạt động văn hóa, thể thao, vui chơi, giải trí, tham quan phát triển mạnh. Tính đến hết năm 2016, cả nước có 58.099 câu lạc bộ người cao tuổi, thu hút 2,6 triệu người cao tuổi tham gia, vừa góp phần nâng cao sức khỏe, đồng thời góp phần bảo tồn và giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc[4].

Trợ cấp xã hội là một trong những biện pháp bảo đảm đời sống vật chất cho người cao tuổi, đặc biệt là người cao tuổi nghèo. Với sự phối hợp chặt chẽ giữa Ngành Lao động - Thương binh và Xã hội và Hội Người cao tuổi giúp cho đa phần chính sách trợ giúp xã hội đã được thực hiện tương đối tốt ở các địa phương trên cả nước. Hàng năm, chính sách này đã thực hiện trợ cấp cho trên 1,5 triệu người cao tuổi, với tinh thần kịp thời, đúng đối tượng và minh bạch, góp phần giảm bớt khó khăn cho người cao tuổi. Chính sách trợ cấp cho người cao tuổi đã có tác động tích cực trong việc cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho người cao tuổi (có 27,0% người cao tuổi đánh giá chính sách trợ cấp xã hội vừa có giá trị về vật chất, vừa có giá trị về tinh thần)[5].

1.2. Về phát huy vai trò của người cao tuổi trong đời sống

Qua kết quả khảo sát đánh giá cho thấy, có hơn 2,5 triệu người cao tuổi vẫn còn tham gia lao động sản xuất, kinh doanh; hơn 95 nghìn người cao tuổi làm chủ trang trại, cơ sở sản xuất, kinh doanh; hơn 300 nghìn người cao tuổi làm kinh tế giỏi; trong đó gần 01 triệu gia đình có người cao tuổi đạt tiêu chuẩn “Gia đình văn hóa”[6].

Sau 08 năm thực hiện Luật Người cao tuổi, vai trò và vị thế của người cao tuổi trong gia đình và xã hội được nâng lên, Luật đã thúc đẩy tạo môi trường và điều kiện thuận lợi để người cao tuổi phát huy sự sáng tạo, đóng góp kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm cho các hoạt động kinh tế - xã hội, văn hóa - giáo dục tại địa phương. Những người cao tuổi còn khỏe mạnh đang tham gia sản xuất - kinh doanh thì được Nhà nước hỗ trợ phương tiện sản xuất, chuyển giao cộng nghệ, tập huấn kỹ thuật sản xuất - kinh doanh. Đặc biệt, các khóa tập huấn Luật Người cao tuổi tại các địa phương thường xuyên được tổ chức với sự tham gia của cán bộ Hội Người cao tuổi, cán bộ chính quyền địa phương và cán bộ nòng cốt ở các thôn bản. Bên cạnh đó, các địa phương còn tổ chức các hoạt động tiếp xúc, gặp mặt, trao đổi và chia sẻ thường xuyên để người cao tuổi bày tỏ ý kiến, tâm tư, nguyện vọng kiến nghị với các cơ quan, tổ chức địa phương về những vấn đề mà người cao tuổi và cộng đồng đang quan tâm.

Ở nhóm người cao tuổi tham gia công tác chính quyền, dù đã nghỉ hưu theo chế độ chính sách nhưng có 1,24 triệu người cao tuổi trên cả nước vẫn tiếp tục tham gia công tác Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể ở nơi cư trú. Một số địa phương có đến 70-80% người cao tuổi làm bí thư chi bộ, trưởng thôn, trưởng bản[7]. Sau khi nghỉ hưu, bằng những kinh nghiệm vốn có, được cộng đồng tín nhiệm đa phần, người cao tuổi tiếp tục tham gia công tác tại cơ sở như: Phối hợp với các lực lượng của Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh làm tốt công tác tham gia phong trào xây dựng nông thôn mới, giáo dục và chia sẻ kinh nghiệm cho thế hệ trẻ, nhiều người cao tuổi còn tổ chức các câu lạc bộ truyền nghề cho thế hệ trẻ tại cơ sở, tham gia công tác tuyên truyền, hòa giải tranh chấp. Ở nhiều địa phương trên cả nước, người cao tuổi còn phối hợp với các đơn vị công an, bộ đội biên phòng tham gia tích cực vào các hoạt động tuyên truyền giáo dục, phòng chống tệ nạn xã hội, đấu tranh phòng chống tội phạm, tố giác tội phạm.

1.3. Về hiểu biết của người cao tuổi và cộng đồng về các chính sách pháp luật liên quan đến người cao tuổi

Sau 08 năm ban hành Luật Người cao tuổi, nhận thức về quyền của người cao tuổi và các quy định của Luật người cao tuổi có những bước chuyển biến mạnh mẽ. Theo kết quả khảo sát, có 78% người cao tuổi và 72% đại diện các hộ gia đình có người cao tuổi biết về Luật Người cao tuổi cùng các quyền của người cao tuổi, cũng như các biện pháp bảo đảm quyền cho người cao tuổi được quy định trong luật[8]. Nhờ vậy, các quyền của người cao tuổi quy định trong luật được bảo đảm tương đối tốt. Tại các địa phương trên cả nước, các cán bộ Hội Người cao tuổi, cán bộ nòng cốt ở thôn bản và cán bộ chính quyền địa phương thường xuyên được tham gia các lớp tập huấn Luật Người cao tuổi và các chính sách liên quan, các kỹ năng và cách thức giải quyết những khó khăn của người cao tuổi trong quá trình tiếp cận chính sách, chính đội ngũ này sau khi được tập huấn chính là những hạt nhân quan trọng làm công tác tuyên truyền, lan tỏa cách thức thực hiện và triển khai luật cũng như các chính sách liên quan đến người cao tuổi trong thực tiễn.

Nhìn chung, cho đến nay, hệ thống các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật Người cao tuổi đã được ban hành đầy đủ, bao quát mọi nội dung liên quan đến các vấn đề của người cao tuổi theo thẩm quyền của các ngành, các cấp, tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho việc triển khai thực hiện các chế độ, chính sách liên quan đến người cao tuổi. Để triển khai Luật Người cao tuổi, Chính phủ đã ban hành nhiều nghị định, các bộ, cơ quan liên ngành ban hành thông tư hướng dẫn nhằm đưa chính sách của luật đi vào cuộc sống. Bên cạnh đó, Chính phủ đã ban hành Chương trình Hành động quốc gia về người cao tuổi giai đoạn 2012 - 2020 thúc đẩy công tác chăm sóc, phát huy vai trò người cao tuổi được thực hiện có có chiều sâu và bền vững hơn; các cấp, các ngành đã duy trì sự phối hợp liên ngành trong thực hiện chính sách khá hiệu quả.

Công tác tuyên truyền, phổ biến rộng rãi chính sách người cao tuổi trong cộng đồng được các cấp chính quyền địa phương quan tâm và thực hiện rất tốt, công tác này được lồng ghép thực hiện bằng nhiều hình thức khá phong phú và đa dạng như: Tuyên truyền trực tiếp, nói chuyện chuyên đề ngày người cao tuổi Việt Nam (6/6 hàng năm), Ngày Quốc tế người cao tuổi (1/10 hàng năm), Tết Nguyên đán, các chuyên đề “Sống khỏe, sống vui, sống có ích”, “Tuổi cao - gương sáng”, “Nêu gương sáng”, “Người cao tuổi tham gia xây dựng nông thôn mới”…

1.4. Về sự tham gia của toàn xã hội trong công tác trợ giúp người cao tuổi

Sau khi Luật Người cao tuổi được ban hành, các địa phương cũng đã tích cực triển khai thực hiện Luật Người cao tuổi và các chính sách đối với người cao tuổi thông qua nhiều hình thức khác nhau, trong đó, tổ chức 3.659 lớp tập huấn về công tác người cao tuổi cho 223.598 lượt cán bộ địa phương[9].

Từ thực tiễn 08 năm thực hiện Luật Người cao tuổi và thực hiện Chương trình Hành động quốc gia về người cao tuổi giai đoạn 2012 - 2020, các hoạt động can thiệp, chăm sóc và trợ giúp người cao tuổi được đẩy mạnh thực hiện, điển hình là việc triển khai các mô hình trợ giúp người cao tuổi dựa vào cộng đồng đã đạt hiệu quả rất cao, loại mô hình này đã huy động được nguồn lực lớn từ phía cộng đồng vào trợ giúp người cao tuổi, giảm bớt gánh nặng cho Nhà nước. Theo kết quả khảo sát đánh giá của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cho thấy, tính đến hết năm 2016, trên cả nước có hơn 58.099 câu lạc bộ của người cao tuổi, với 2.597.630 người cao tuổi tham gia[10], hình thức của các câu lạc bộ rất đa dạng với các hoạt động phong phú như: Câu lạc bộ liên thế hệ người cao tuổi tự giúp nhau; câu lạc bộ người cao tuổi giúp nhau phát triển kinh tế; câu lạc bộ liên thế hệ người cao tuổi chăm sóc sức khỏe và tăng thu nhập; câu lạc bộ thể thao người cao tuổi... Các mô hình tình nguyện viên chăm sóc người cao tuổi tại cộng đồng; mô hình bảo vệ lợi ích của người cao tuổi và giúp người cao tuổi xóa đói, giảm nghèo. Các câu lạc bộ và mô hình này được cộng đồng, chính quyền, các tổ chức, đoàn thể tích cực ủng hộ, hỗ trợ và tạo điều kiện cho hoạt động thường xuyên, liên tục.

Sau khi ban hành, nhiều quy định của Luật Người cao tuổi đã thực sự đi vào cuộc sống, tạo tâm lý phấn khởi trong nhân dân, đặc biệt là đối tượng người cao tuổi. Tiếp sau Luật Người cao tuổi được ban hành, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 06/2011/NĐ-CP ngày 14/01/2011 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Người cao tuổi và Quyết định số 1781/QĐ-TTg ngày 23/11/2012 về phê duyệt “Chương trình Hành động quốc gia về người cao tuổi Việt Nam giai đoạn 2012 - 2020”. Ngay sau đó, các bộ, ban, ngành liên quan đã ban hành các thông tư quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành các chính sách về bảo trợ xã hội, chăm sóc sức khỏe, miễn, giảm giá vé, phí tham gia giao thông, văn hóa, thể dục, thể thao, các hoạt động du lịch, chúc thọ, mừng thọ người cao tuổi… Chính những văn bản pháp luật này đã tạo nền tảng và cơ chế cũng như hành lang pháp lý quan trọng cho hoạt động can thiệp, chăm sóc, trợ giúp và phát huy vai trò người cao tuổi có chiều sâu, hiệu quả và mang tính bền vững hơn.

2. Những tồn tại, bất cập trong quá trình triển khai Luật Người cao tuổi

Sau khi Luật Người cao tuổi được ban hành, hàng loạt các văn bản pháp luật liên ngành được các cơ quan ban hành, tuy nhiên, tình trạng một số văn bản ban hành bị chồng chéo, khi thực hiện thiếu chiều sâu, nặng về hình thức, cụ thể: Quy định về khám, chữa bệnh ban đầu cho người cao tuổi ở tuyến cơ sở theo Thông tư số 35/2011/TT-BYT ngày 15/10/2011 của Bộ Y tế còn chậm và gặp nhiều khó khăn, các quy định về tổ chức thực hiện chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi phụ thuộc nhiều vào nguồn kinh phí địa phương nên còn nhiều hạn chế, dẫn tới khó khăn trong việc triển khai; bên cạnh đó, các hướng dẫn, quy trình, biểu mẫu cho thực hiện chăm sóc sức khỏe người cao tuổi ở cấp cơ sở chưa được xây dựng đồng bộ dẫn tới các địa phương lúng túng trong việc thực hiện; tỷ lệ người cao tuổi đến khám, chữa bệnh, được lập hồ sơ quản lý sức khỏe định kỳ tại y tế tuyến cơ sở còn rất thấp, nhiều bệnh viện tuyến huyện chưa tổ chức được khoa lão khoa; trạm y tế xã/phường là nơi khám, chữa bệnh ban đầu cho người cao tuổi, nhưng tỷ lệ người cao tuổi có thẻ bảo hiểm y tế đăng ký khám chữa bệnh ở đây còn thấp, có 18,6% người cao tuổi được khảo sát chưa đi khám sức khỏe bao giờ, kể từ khi đạt 60 tuổi[11], tỷ lệ này ở nông thôn nhiều gấp đôi thành thị (21,4% so với 12,9%), hơn 10% người cao tuổi được khảo sát không có thẻ bảo hiểm y tế và tỷ lệ này ở khu vực thành thị lại cao hơn khu vực nông thôn (tương ứng là 12,5% so với 5,5%)[12].

Mặc dù đã ban hành Luật và Nghị định hướng dẫn triển khai trong thực tiễn, nhưng do điều kiện kinh tế - xã hội đặc thù của từng địa phương, mức trợ cấp xã hội cho người cao tuổi chỉ bằng khoảng 38% so với chuẩn nghèo nông thôn và 30% chuẩn nghèo thành thị trong giai đoạn 2016 - 2020 mà Chính phủ đang thực hiện[13]. Bên cạnh đó, một bộ phận người cao tuổi chưa được hưởng chính sách bảo trợ xã hội do không còn giấy tờ, hồ sơ liên quan. Trong khi đó, các bộ, ngành chức năng lại chưa hướng dẫn để tháo gỡ những vướng mắc này; do tuổi cao sức yếu, nhiều người cao tuổi đã qua đời, không có cơ hội hưởng các chính sách bảo trợ xã hội của Nhà nước.

Qua kết quả khảo sát cũng cho thấy, Luật Người cao tuổi khi triển khai trong thực tiễn đời sống còn gặp nhiều rào cản, hạn chế, bất cập; một số hoạt động chăm sóc, trợ giúp người cao tuổi còn chưa được cụ thể hóa, vẫn mang tính chung chung, nặng về hình thức, cụ thể: Chỉ mới có 78% người cao tuổi biết về Luật Người cao tuổi, trong khi Luật đã được ban hành và triển khai 08 năm. Bên cạnh đó, có đến 75% người cao tuổi được khảo sát cho biết đã gặp ít nhất một khó khăn nào đó khi sử dụng thẻ bảo hiểm y tế đi khám chữa bệnh, khó khăn được nhiều người cao tuổi nhắc đến nhất là phải chờ đợi lâu (49,5%), đi lại khó khăn (26,4%), thái độ của cán bộ y tế chưa tốt (15,4%), không được hướng dẫn về quy trình, thủ tục (13,3%), tỷ lệ người cao tuổi ở khu vực thành thị gặp khó khăn khi đi khám chữa bệnh bằng thẻ bảo hiểm y tế cao hơn ở khu vực nông thôn (77,1% so với 58,2%)[14].

Ngoài ra, việc chăm sóc đời sống vật chất, đời sống tinh thần của người cao tuổi chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra, nhất là ở các xã/phường có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, phải dựa chủ yếu vào nguồn ngân sách hỗ trợ từ cấp trên. Tình trạng thực hiện chính sách bảo trợ xã hội của Nhà nước chưa kịp thời, để sót đối tượng ở một số địa phương; nhiều mô hình can thiệp, chăm sóc người cao tuổi tốt ở địa phương những chưa được nhân rộng do thiếu kinh phí cũng như các văn bản hướng dẫn cho các ngành, các cấp…

Công tác chăm sóc, trợ giúp người cao tuổi vẫn còn nhiều khó khăn, một số văn bản ban hành còn chậm, gây khó khăn cho các địa phương trong quá trình thực hiện chính sách người cao tuổi. Một số chính sách, quy định chưa phù hợp, chế độ thấp. Cụ thể, hiện tại tuổi hưởng trợ cấp xã hội quy định đủ 80 tuổi là quá cao, chưa phù hợp với tình hình người cao tuổi trong bối cảnh già hóa dân số ở nước ta, mức chuẩn trợ giúp xã hội 270 nghìn cũng còn khá thấp.

Quy định về miễn giảm phí giao thông, cơ sở văn hóa, vui chơi giải trí chưa mang tính thực thi cao do thiếu chế tài và các biện pháp khuyến khích, cơ chế kiểm tra. Trong quá trình thực hiện còn nhiều nơi chính quyền địa phương, cơ sở chưa xác định rõ được trách nhiệm trong thực hiện chính sách, pháp luật đối với người cao tuổi; thiếu quan tâm, chỉ đạo, chưa xây dựng được kế hoạch hoạt động cụ thể, xem hoạt động người cao tuổi chỉ là những hoạt động phong trào, là công tác của Hội Người cao tuổi. Công tác tuyên truyền phổ biến chính sách luật pháp chưa kịp thời, thiếu chương trình, kế hoạch tuyên truyền tổng thể; nhiều địa phương, nhất là ở cơ sở, cán bộ chưa nắm rõ các văn bản liên quan đến người cao tuổi để triển khai thực hiện. Sự phối hợp liên ngành để thực hiện công tác người cao tuổi còn hạn chế, nhiều nơi còn coi đây là nhiệm vụ của riêng Ngành Lao động - Thương binh và Xã hội.

Chế độ miễn, giảm phí giao thông, du lịch, tham quan, sân, bãi vui chơi, giải trí, các công trình xây dựng phục vụ nhu cầu cho người cao tuổi chưa thực hiện kịp thời, đồng bộ. Nhiều địa phương chưa thực hiện miễn giảm giá vé, phí thăm quan tại cơ sở văn hóa, giải trí, thể dục thể thao nhất là khu vực tư nhân cung cấp dịch vụ. Hiện nay, hầu hết người cao tuổi chưa được hưởng chính sách giảm giá vé, giá dịch vụ khi tham gia hoạt động giao thông công cộng.

Người cao tuổi gặp nhiều khó khăn khi tiếp cận các dịch vụ y tế khi ốm đau, bệnh tật, đặc biệt là người cao tuổi nghèo, người cao tuổi cô đơn, người cao tuổi ở vùng sâu, vùng xa, giao thông đi lại rất khó khăn, các cơ sở y tế thường thiếu thốn về thiết bị và đội ngũ y, bác sỹ… Việc chăm sóc đời sống người cao tuổi về vật chất, tinh thần chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra, nhất là ở các xã/phường điều kiện còn khó khăn, phải dựa chủ yếu vào nguồn ngân sách hỗ trợ từ cấp trên. Công tác chúc thọ, mừng thọ người cao tuổi tại một số địa phương còn chậm, thiếu kinh phí, do nguồn ngân sách để mừng thọ các cụ độ tuổi 70, 75, 80, 85... trên 100 tuổi do ngân sách xã/phường bảo đảm.

Công tác phối hợp, kiểm tra, giám sát ở địa phương còn hạn chế, chưa được thường xuyên, liên tục; các chỉ tiêu, tiêu chí kiểm tra, giám sát chưa thống nhất, đồng bộ làm cơ sở cho việc đánh giá mục tiêu của Luật và Chương trình Hành động quốc gia về người cao tuổi. Bên cạnh đó, các nguồn lực bao gồm cả nhân lực và tài chính còn thiếu và yếu cũng là những hạn chế trong công tác thực hiện và kiểm tra, giám sát.

Công tác chăm sóc, phát huy vai trò người cao tuổi ở các địa phương hiện nay vẫn còn một số khó khăn, hạn chế như: Việc triển khai các hoạt động của một số bộ, ngành, địa phương đối với người cao tuổi còn chậm, chưa lồng ghép các hoạt động của ngành với công tác người cao tuổi. Ban công tác Hội Người cao tuổi ở các địa phương hoạt động chưa đủ mạnh, chưa có cán bộ chuyên trách, số liệu về người cao tuổi tại địa bàn chưa thường xuyên được cập nhật. Việc thành lập Quỹ chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi tại xã, phường còn gặp nhiều khó khăn, chủ yếu là do bản thân người cao tuổi tự đóng góp, chưa huy động được các nguồn lực khác… Một số địa phương mới chỉ coi công tác người cao tuổi là hoạt động phong trào, công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách pháp luật chưa kịp thời, chưa thực hiện thường xuyên.

3. Một số giải pháp góp phần thực hiện hiệu quả Luật Người cao tuổi

Từ thực tiễn triển khai Luật Người cao tuổi sau 08 năm ban hành, cùng với những kết quả tích cực đạt được, cần tập trung thực hiện một số vấn đề nhằm khắc phục những tồn tại, bất cập, đưa Luật Người cao tuổi đi vào thực tiễn đời sống một cách sâu rộng hơn:

Thứ nhất, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật liên quan đến Luật Người cao tuổi; nghiên cứu, điều chỉnh các quy định về trợ cấp và mức trợ cấp xã hội đối với người cao tuổi, đơn giản hóa thủ tục hành chính tiếp cận chính sách luật đã quy định, đảm bảo mức sống tối thiểu cho nhóm người cao tuổi dễ bị tổn thương như người cao tuổi thuộc hộ nghèo, cận nghèo, người cao tuổi khuyết tật, người cao tuổi cô đơn có hoàn cảnh khó khăn.

Thứ hai, tăng cường thực hiện chính sách huy động cộng đồng tham gia công tác chăm sóc và phát huy vai trò của người cao tuổi... Huy động nguồn lực, bảo đảm nguồn lực cho việc thực hiện Luật, cần ưu tiên nguồn lực cho hoạt động về người cao tuổi. Nhân rộng, phổ biến các mô hình xã hội hóa về công tác chăm sóc, trợ giúp người cao tuổi; đa dạng hóa nguồn vốn để triển khai thực hiện các hoạt động chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi tại địa phương.

Thứ ba, cần một tầm nhìn và lộ trình về chính sách, đổi mới phương thức truyền thông theo hướng đơn giản, dễ hiểu, phù hợp với người cao tuổi. Đặc biệt là người cao tuổi là dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa; xây dựng lộ trình thực hiện luật, đảm bảo các điều kiện cần và đủ để thực hiện các điều khoản quy định trong luật có tính khả thi cao.

Thứ tư, một số điều trong Luật Người cao tuổi sau khi ban hành đã bộc lộ nhiều bất cập, không phù hợp với thực tiễn, gây khó khăn cho việc tiếp cận chính sách của người cao tuổi và cho những người làm công tác trợ giúp người cao tuổi, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cần tổ chức nghiên cứu, khảo sát, cập nhật số liệu thống kê và phối hợp với các bộ, ngành, địa phương báo cáo Chính phủ để trình Quốc hội sửa, bổ sung Luật Người cao tuổi.

Thứ năm, về cơ chế, chính sách, các bộ, ngành cần tiếp tục triển khai Luật Người cao tuổi, rà soát việc thực hiện các chính sách đối với người cao tuổi, đảm bảo người cao tuổi tiếp cận được các chính sách đã ban hành. Các ngành, các cấp ở địa phương cần tăng cường hơn nữa công tác kiểm tra, thanh tra về việc thực hiện chế độ, chính sách, pháp luật đối với người cao tuổi.

Thứ sáu, Bộ Y tế cần tiếp tục thành lập Khoa Lão trong các bệnh viện, phát triển mạng lưới này để trợ giúp chuyên sâu cho người cao tuổi hơn, khi tốc độ già hóa dân số ở nước ta diễn ra ngày càng nhanh hơn. Đào tạo đội ngũ cán bộ, nhân viên y tế, nhân viên công tác xã hội có đầy đủ kỹ năng và năng lực trong việc can thiệp các vấn đề ở người cao tuổi.

Thứ bảy, đẩy mạnh công tác truyền thông thay đổi nhận thức, thay đổi quan niệm xem người cao tuổi chỉ là gánh nặng, xem thường việc đóng góp, phát huy vai trò của người cao tuổi trong gia đình và cộng đồng; nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các ngành, các cấp, toàn xã hội trong công tác chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi. Đặc biệt, cần có cơ chế giám sát việc triển khai luật và các văn bản hướng dẫn; thường xuyên hoạt động kiểm tra, giám sát Luật và các chính sách liên quan đến người cao tuổi, trong đó, chú trọng đến trách nhiệm của gia đình và xã hội trong việc phụng dưỡng, chăm sóc người cao tuổi; nêu gương người cao tuổi tiêu biểu và những tố chức, cá nhân hoạt động có hiệu quả trong lĩnh vực chăm sóc, phát huy vai trò người cao tuổi.

Thứ tám, cần củng cố, kiện toàn hệ thống tổ chức Hội Người cao tuổi các cấp từ trung ương tới địa phương theo hướng tinh gọn, hiệu quả, đáp ứng được yêu cầu và nhiệm vụ thực tiễn về tình hình người cao tuổi trong nước.

Thứ chín, khuyến khích, động viên người cao tuổi tham gia hoạt động tích cực vào các lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa - giáo dục, xây dựng hệ thống chính trị và ổn định tình hình chính trị ở cơ sở.

ThS. Nguyễn Văn Đồng

Trường Đại học Luật Hà Nội


[1] Nguyễn Văn Đồng (2017), “Quản lý mô hình liên thế hệ tự giúp nhau của người cao tuổi và vai trò của công tác xã hội”, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, tập 33, số 1, tr. 66 - 79.

[2] Xem: Tổ chức Hỗ trợ Người cao tuổi quốc tế (HAI) (2015), “Chăm sóc người cao tuổi dựa vào cộng đồng”, Nghiên cứu đánh giá, Thanh Hóa.

[3] Xem: Nguyễn Văn Đồng (2017), “Vấn đề giới, lồng ghép giới trong chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi”, Tạp chí Nhân lực Khoa học xã hội - Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam, số 4 (47), tr. 9 - 17.

[4] Xem: Ủy ban Quốc gia về Người cao tuổi (2016), “Thực trạng người cao tuổi và tình hình già hóa dân số tại Việt Nam”, Nghiên cứu đánh giá, Hà Nội.

[5] Xem: Viện Khoa học Lao động và Xã hội (2016), “Già hóa dân số và những thách thức”, Báo cáo thống kê, Hà Nội.

[6] Xem: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Quỹ dân số Liên Hợp Quốc (2016), “Đánh giá 5 năm thực hiện luật người cao tuổi 2010-2014”, Báo cáo đánh giá, Hà Nội.

[7] Xem: Viện Chính sách công và Quản lý (2013), “Đánh giá triển khai thực hiện Luật người cao tuổi 2010 - 2012”, Nghiên cứu đánh giá, Hà Nội.

[8] Xem: Ủy ban Quốc gia về Người cao tuổi (2016), “Thực trạng người cao tuổi và tình hình già hóa dân số tại Việt Nam”, Nghiên cứu đánh giá, Hà Nội.

[9] Xem: Ủy ban Dân tộc (2015), “Đánh giá 05 năm thực hiện Luật Người cao tuổi 2010 - 2014”, Báo cáo đánh giá, Hà Nội.

[10] Xem: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Quỹ dân số Liên Hợp Quốc (2016), “Đánh giá 5 năm thực hiện luật người cao tuổi 2010-2014”, Báo cáo đánh giá, Hà Nội.

[11] Xem: Ủy ban Quốc gia về Người cao tuổi (2016), “Thực trạng người cao tuổi và tình hình già hóa dân số tại Việt Nam”, Nghiên cứu đánh giá, Hà Nội.

[12] Xem: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Quỹ dân số Liên Hợp Quốc (2016), “Đánh giá 5 năm thực hiện luật người cao tuổi 2010-2014”, Báo cáo đánh giá, Hà Nội.

[13] Xem: Viện Khoa học Lao động và Xã hội (2016), “Già hóa dân số và những thách thức”, Báo cáo thống kê, Hà Nội.

[14] Xem: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Quỹ dân số Liên Hợp Quốc (2016), “Đánh giá 5 năm thực hiện luật người cao tuổi 2010-2014”, Báo cáo đánh giá, Hà Nội.

In bài viết Gửi phản hồi

Các tin khác

Nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành án dân sự và xác minh điều kiện thi hành án của thừa phát lại Vướng mắc trong thụ lý yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật và thụ lý ly hôn Biện pháp bảo đảm thi hành án và thực tiễn áp dụng Tạm dừng việc cưỡng chế thi hành án dân sự được áp dụng trong trường hợp nào? Mối quan hệ giữa Toà án và Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự Bồi thường thiệt hại trong các vụ án hình sự liên quan đến giao dịch dân sự vô hiệu Hủy giấy chứng nhận kết hôn có coi là hủy hôn nhân trái pháp luật không? Xác định mục đích của nhà ở theo Luật Nhà ở năm 2005

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ tại Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.

Theo dõi chúng tôi trên: