Thứ bảy 02/05/2026 21:17
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Luật Tiếp cận thông tin – Góc nhìn so sánh với Luật Tự do thông tin của Hoa Kỳ

Luật Tiếp cận thông tin đã được thông qua tại kỳ họp thứ 11, Quốc hội khoá XIII và có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2018. Đây được coi là sự kiện pháp lý quan trọng, giúp hiện thực hóa một số quyền dân sự, chính trị vốn luôn được đề cao và đóng vai trò không thể thiếu trong việc phát huy dân chủ, bảo đảm bình đẳng, công bằng trong xã hội và thông qua đó bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân.


Tuy nhiên, kinh nghiệm quốc tế cho thấy, tính hiệu quả của việc thực thi quyền tiếp cận thông tin chỉ có thể được kiểm nghiệm sau khi Luật tiếp cận thông tin có hiệu lực thi hành và người dân có thể bắt đầu thực hiện các yêu cầu cung cấp thông tin. Qua nghiên cứu nội dung các điều khoản của Luật này thấy rằng, khung pháp lý của Luật Tiếp cận thông tin ở Việt Nam vẫn còn nhiều điểm chưa thực sự hợp lý.
1. Khái quát Đạo luật Tự do thông tin của Hoa Kỳ
Năm 1966, Đạo luật Tự do thông tin của Hoa Kỳ (The Freedom of Information Act - FOIA) được thông qua. Theo đó, Đạo luật này đã cung cấp cho công chúng quyền yêu cầu truy cập hồ sơ từ bất kỳ cơ quan liên bang nào. Nó thường được mô tả như là luật giữ công dân biết về chính phủ của họ. Các cơ quan liên bang phải tiết lộ bất kỳ thông tin nào được yêu cầu theo FOIA trừ khi nó thuộc một trong chín loại miễn giảm nhằm bảo vệ các quyền lợi như quyền riêng tư cá nhân, an ninh quốc gia và thực thi pháp luật. Trên thực tế, FOIA được coi là một phần quan trọng trong nền dân chủ của Hoa Kỳ. Theo số liệu thống kê của Bộ Tư pháp Hoa Kỳ, chỉ tính riêng năm 2016, các cơ quan chính phủ Hoa Kỳ đã nhận được 788.769 yêu cầu cung cấp thông tin, trong đó có 673.689 đơn yêu cầu đã được phản hồi trong thời hạn luật định là 01 tháng, đạt khoảng 85,4%[1]. Đây là một con số tương đối ấn tượng, thể hiện sự chủ động của công dân trong việc thực thi các quyền con người của mình, cũng như thể hiện sự chuyên nghiệp của các cơ quan, tổ chức chính phủ Mỹ trong việc xử lý yêu cầu cung cấp thông tin. Điều đó cho thấy Hoa Kỳ là một trong những quốc gia đã và đang triển khai luật về tự do thông tin hiệu quả hàng đầu thế giới.
Đạo luật Tự do thông tin của Hoa kỳ được sửa đổi năm 1974 - sau vụ bê bối Watergate - buộc cơ quan phải tuân thủ nhiều hơn; sửa đổi năm 1986 nhằm hướng tới việc cung cấp sự bảo vệ rộng rãi hơn cho các thông tin thực thi pháp luật và sửa đổi năm 1996 nhằm cho phép truy cập nhiều hơn vào thông tin điện tử.
1.1. Phạm vi áp dụng
Về khía cạnh phạm vi có thể tiếp cận thông tin: FOIA có các điều khoản yêu cầu những cơ quan của Nhà nước Liên bang phải chủ động đăng tải các loại thông tin trực tuyến nhất định, bao gồm hồ sơ yêu cầu thường xuyên. FOIA quy định rằng, khi yêu cầu xử lý, các cơ quan chỉ nên giữ bí mật thông tin nếu họ có thể thấy trước rằng việc tiết lộ sẽ gây tổn hại đến lợi ích được bảo vệ bởi một ngoại lệ hoặc nếu luật pháp cấm việc tiết lộ. Các cơ quan cũng nên xem xét liệu có thể tiết lộ một phần thông tin bất cứ khi nào họ xác định rằng việc tiết lộ đầy đủ là không thể và họ nên thực hiện các bước hợp lý để tách biệt và tiết lộ thông tin không bị hạn chế. Văn phòng Chính sách thông tin tại Bộ Tư pháp của Chính phủ Hoa Kỳ sẽ chịu trách nhiệm ban hành hướng dẫn của Chính phủ về FOIA như một phần trách nhiệm của mình để khuyến khích tất cả các cơ quan thực hiện đầy đủ cả về nội dung quy phạm và tinh thần của FOIA[2].
Về khía cạnh chủ thể có thể tiếp cận quyền: FOIA quy định rằng, bất kỳ người nào[3] cũng có quyền được tiếp cận hồ sơ của cơ quan liên bang, trừ khi các hồ sơ đó (hoặc một phần của chúng) được bảo vệ khỏi sự tiết lộ công khai bởi một trong số chín trường hợp được miễn của FOIA hoặc bởi một trong ba loại trừ đặc biệt về luật pháp (những trường hợp này sẽ được đề cập ở những phần sau). Vì là một đạo luật của chính quyền liên bang nên FOIA không cung cấp quyền truy cập hồ sơ do cơ quan chính phủ tiểu bang hoặc địa phương của Hoa Kỳ giữ hoặc bởi các doanh nghiệp hoặc cá nhân. Các quốc gia có các đạo luật riêng nhằm điều khiển truy cập vào các hồ sơ của tiểu bang và địa phương thì cần phải có sự xem xét, tư vấn trong từng trường hợp để có thể xác định.
FOIA cũng đưa ra 02 ngoại lệ của chủ thể không thể đưa ra yêu cầu tiếp cận thông tin, cụ thể[4]: (i) Một người đang lánh nạn khỏi việc xét xử đang yêu cầu hồ sơ liên quan đến tình trạng lưu vong của mình; (ii) Chính phủ nước ngoài hoặc tổ chức chính phủ quốc tế, trực tiếp hoặc thông qua một đại diện, đang yêu cầu thông tin từ cơ quan tình báo Hoa Kỳ.
1.2. Thủ tục yêu cầu thông tin
FOIA không yêu cầu người gửi yêu cầu phải cung cấp lý do, mục đích, tuy nhiên một số cơ quan, tổ chức vẫn hỏi tên, địa chỉ, số điện thoại để đảm bảo thư trả lời về đến tay người yêu cầu. Tất nhiên, những yêu cầu này là không bắt buộc.
Về hình thức gửi đơn yêu cầu cung cấp thông tin, FOIA cho phép người có nhu cầu gửi đơn/phiếu yêu cầu trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua mạng điện tử, bưu điện... Tuy nhiên, mỗi cơ quan lại có các mẫu yêu cầu khác nhau và không phải cơ quan nào cũng chấp nhận yêu cầu gửi qua đường điện tử.
Về thời gian xử lý yêu cầu, FOIA đưa ra các quy định hợp lý về thời gian xử lý đối với từng loại đơn từ đơn giản đến phức tạp và có cơ chế rõ ràng đối với việc kéo dài thời hạn. Cụ thể: Khi cơ quan nhận được yêu cầu cung cấp thông tin một cách chính xác, thì có 20 ngày làm việc để xác định yêu cầu. Các cơ quan cung cấp thông tin có quyền chậm trễ trong việc đáp ứng yêu cầu khi rơi vào “trường hợp bất thường”, cơ quan có thể kéo dài thời gian làm việc 20 ngày để xử lý yêu cầu. Tuy nhiên, cơ quan phải thông báo cho bên yêu cầu bằng văn bản về lý do cần gia hạn và đưa ra ngày xác định theo yêu cầu. FOIA định nghĩa một “tình huống bất thường” gồm: (i) Nhu cầu tìm kiếm và thu thập hồ sơ từ các văn phòng riêng biệt; (ii) Cần phải kiểm tra một lượng lớn các hồ sơ theo yêu cầu; (iii) Cần tư vấn với cơ quan khác.
1.3. Ngoại lệ và từ chối
Về cơ bản, quyền tiếp cận thông tin không được coi là quyền tuyệt đối, nên FOIA cũng đưa ra những quy định về các thông tin, tài liệu thuộc trường hợp ngoại lệ chi tiết, rõ ràng hơn so với việc quy định chung chung những lĩnh vực trọng yếu như Luật Tiếp cận thông tin của Việt Nam. Cụ thể, FOIA đưa ra 09 trường hợp miễn trừ: (i) Thông tin không được công khai để bảo vệ an ninh quốc gia; (ii) Thông tin liên quan đến quy chế nội bộ và hoạt động của cơ quan chính phủ; (iii) Thông tin bị cấm tiết lộ bởi một đạo luật liên bang khác; (iv) Bí mật thương mại hoặc thông tin thương mại bí mật hoặc đặc quyền thương mại; (v) Các thông tin liên lạc mật giữa các cơ quan chính phủ; (vi) Thông tin mà nếu được tiết lộ sẽ xâm phạm quyền riêng tư cá nhân của một cá nhân khác; (vii) Thông tin, tài liệu được soạn thảo cho mục đích thực thi pháp luật: Có thể được dự kiến ​​sẽ can thiệp vào số tiền thu được; sẽ tước đoạt một người có quyền xét xử công bằng hoặc xét xử vô tư; có thể được hình thành một cách hợp lý của một cuộc xâm lược quyền riêng tư cá nhân; có thể là lý do để tiết lộ danh tính của một nguồn tin mật; sẽ tiết lộ các kỹ thuật và thủ tục cho việc điều tra hoặc truy tố pháp luật; có thể được dự kiến ​​sẽ gây nguy hiểm cho cuộc sống hoặc an toàn vật lý của bất kỳ cá nhân; (viii) Thông tin liên quan đến sự giám sát của các tổ chức tài chính; (ix) Thông tin, dữ liệu địa chất, bản đồ.
1.4. Các biện pháp bảo vệ
Luật Tự do thông tin của Hoa Kỳ có một cơ chế bảo vệ người tố cáo hành vi sai trái khỏi việc bị áp dụng các biện pháp xử phạt tới từ các cơ quan công quyền mà thông tin bị tiết lộ gây thiệt hại trực tiếp hoặc gián tiếp. Cụ thể, Whistleblower Protection Act, tạm dịch là Đạo luật Bảo vệ người tố cáo đưa ra những cơ chế và khung pháp lý đầy đủ để xác định thế nào là hành vi tố cáo trên cơ sở thiện chí và những cá nhân, tổ chức tiết lộ những thông tin này sẽ hoàn toàn được bảo vệ khỏi các biện pháp xử phạt của Nhà nước. Bên cạnh đó, Whistleblower Protection Act cũng không yêu cầu cá nhân, tổ chức yêu cầu cung cấp thông tin phải khai các thông tin cá nhân cũng như xác thực những thông tin này. Như vậy, những cá nhân, tổ chức yêu cầu cung cấp thông tin sẽ cảm thấy yên tâm hơn khi thực hiện những quyền chính đáng của mình.
2. Một số điểm khác biệt về khung pháp lý của Luật Tiếp cận thông tin ở Việt Nam so với Đạo luật về Tự do thông tin ở Hoa kỳ
Trên thực tế, việc đảm bảo công khai thông tin làm gia tăng mạnh mẽ niềm tin của người dân vào các cơ quan công quyền, còn che giấu sẽ tạo ra hiệu ứng ngược lại. Niềm tin của nhân dân là yếu tố then chốt tạo ra sự ổn định chính trị, nên công khai thông tin cần phải được coi là một ưu tiên của các cơ quan công quyền. Do đó, có thể nói rằng: “Việc ban hành Luật Tiếp cận thông tin còn góp phần hiệu quả vào công tác phòng, chống tham nhũng; tăng tính minh bạch của thị trường, góp phần nâng cao tri thức và sự tham gia của công dân vào hoạt động quản lý nhà nước; tạo thuận lợi cho việc thực hiện vai trò giám sát của tổ chức, cá nhân và các cơ quan chức năng đối với các cơ quan nhà nước, qua đó góp phần thực thi pháp luật hiệu quả”[5]. Mặc dù Luật Tiếp cận thông tin vẫn chưa chính thức có hiệu lực và áp dụng trên thực tiễn, nhưng cũng có thể đánh giá tổng quan góc nhìn về quyền tiếp cận thông tin của Việt Nam qua các nội dung điều khoản của Luật này so với FOIA.
2.1. Sự khác biệt trong góc nhìn về phạm vi áp dụng
Về phạm vi thông tin, tài liệu được quyền tiếp cận, Luật Tiếp cận thông tin cho phép người dân được cung cấp tất cả các loại tài liệu đáp ứng 02 điều kiện: Thông tin “tạo ra” bởi cơ quan nhà nước “trong khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật” và “được người có thẩm quyền xác nhận bằng văn bản”[6]. Như vậy, những tài liệu do cơ quan nhà nước nắm giữ nhưng được tạo ra bởi một cá nhân, tổ chức khác, không phải cơ quan nhà nước thì người dân sẽ không được phép tiếp cận. Điều này ngược lại không bị hạn chế trong FOIA, theo đó, người có yêu cầu cung cấp thông tin có thể tiếp cận tài liệu dưới mọi hình thức, bất kể người tạo ra là cơ quan, tổ chức hay cá nhân nào[7]. Tuy nhiên, cả Việt Nam và Hoa Kỳ đều không có quy định rõ ràng về đối tượng được phép tiếp cận là thông tin hay tài liệu cụ thể chứng minh cho thông tin đó.
Về chủ thể tiếp cận thông tin, theo quy định của Luật Tiếp cận thông tin, Điều 4 quy định các chủ thể được thực hiện quyền tiếp cận thông tin là các cá nhân công dân có quyền, người không đủ năng lực hành vi dân sự thực hiện yêu cầu cung cấp thông tin thông qua người đại diện, người giám hộ. Tuy nhiên, Điều 36 Luật Tiếp cận thông tin lại ghi nhận: “Người nước ngoài cư trú tại Việt Nam có quyền yêu cầu cung cấp thông tin liên quan trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của họ”. Như vậy có thể hiểu, chỉ có công dân mang Quốc tịch Việt Nam mới có đầy đủ quyền tiếp cận thông tin còn người nước ngoài thì không. Đây là một điềm trừ của luật Việt Nam so với Hoa Kỳ. Cụ thể, người Mỹ cho phép tất cả mọi người (không yêu cầu phải có quốc tịch Mỹ) được quyền yêu cầu cung cấp thông tin và đặc biệt hơn, quyền này cũng được trao đầy đủ cho các tổ chức, doanh nghiệp có tư cách pháp nhân[8].
Về phạm vi các cơ quan, tổ chức chịu ảnh hưởng của Luật Tiếp cận thông tin và phải có nghĩa vụ cung cấp thông tin khi được yêu cầu: Luật không đưa ra bất kỳ một giới hạn hay loại trừ nào đối với các cơ quan nhà nước không phải chấp hành quy định của Luật Tiếp cận thông tin. Đây là một điểm rất tiến bộ của Luật Tiếp cận thông tin được Tổ chức đánh giá quyền thông tin toàn cầu (Global Right to Information Rating) đánh giá cao. Bởi lẽ, FOIA chỉ được áp dụng với các cơ quan, tổ chức chính phủ thuộc nhánh hành pháp (trừ văn phòng Nhà Trắng). Quốc hội (gồm thượng nghị viện và hạ nghị viện) và các cơ quan tư pháp không thuộc phạm vi điều chỉnh của luật tự do thông tin Hoa Kỳ[9]. Tuy nhiên, luật của Hoa Kỳ lại yêu cầu các công ty quốc doanh, doanh nghiệp nhà nước phải minh bạch, cung cấp thông tin thì luật của Việt Nam lại không đề cập tới nhóm đối tượng này.
2.2. Sự khác biệt về thủ tục yêu cầu
Theo quy định của Luật Tiếp cận thông tin, cá nhân, công dân khi yêu cầu cung cấp thông tin cần phải nêu rõ lý do, mục đích của yêu cầu, đồng thời cung cấp các thông tin cá nhân như họ, tên; nơi cư trú, địa chỉ; số chứng minh nhân dân, thẻ căn cước công dân hoặc số hộ chiếu của người yêu cầu; số fax, điện thoại, địa chỉ thư điện tử. Ngược lại, FOIA không yêu cầu người gửi yêu cầu phải cung cấp lý do, mục đích, tuy nhiên một số cơ quan, tổ chức vẫn hỏi tên, địa chỉ, số điện thoại để đảm bảo thư trả lời về đến tay người yêu cầu. Tất nhiên, những yêu cầu này là không bắt buộc.
Về hình thức gửi đơn yêu cầu cung cấp thông tin, luật Việt Nam và Hoa Kỳ có sự tương đồng khi cho phép người có nhu cầu gửi đơn/phiếu yêu cầu trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua mạng điện tử, bưu điện… Tuy nhiên, thủ tục của Việt Nam có nhiều thuận lợi hơn do luật đưa ra quy định chung một hình thức cho tất cả các tổ chức, cơ quan. Ở Mỹ, mỗi cơ quan lại có các mẫu yêu cầu khác nhau và không phải cơ quan nào cũng chấp nhận yêu cầu gửi qua đường điện tử.
Về thời gian xử lý yêu cầu, cả luật Việt Nam và Hoa Kỳ đều đưa ra các quy định hợp lý về thời gian xử lý đối với từng loại đơn từ đơn giản đến phức tạp và có cơ chế rõ ràng đối với việc kéo dài thời hạn.
2.3. Sự khác biệt trong việc quy định các trường hợp ngoại lệ và từ chối
Điều 6 Luật Tiếp cận thông tin đã liệt kê ra các trường hợp ngoại lệ mà công dân không được tiếp cận, bao gồm: Thông tin thuộc bí mật nhà nước trong những lĩnh vực trọng yếu và thông tin mà nếu để tiếp cận sẽ gây nguy hại đến lợi ích của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến quốc phòng, an ninh quốc gia, quan hệ quốc tế, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng; gây nguy hại đến tính mạng, cuộc sống hoặc tài sản của người khác; thông tin thuộc bí mật công tác; thông tin về cuộc họp nội bộ của cơ quan nhà nước; tài liệu do cơ quan nhà nước soạn thảo cho công việc nội bộ. Và tại Điều 7 của Luật Tiếp cận thông tin có đề cập đến những trường hợp thông tin được phép tiếp cận nhưng có điều kiện nhất định.
Về cơ bản, FOIA cũng công nhận các trường hợp miễn trừ tương tự, nhưng quy định các thông tin, tài liệu thuộc trường hợp ngoại lệ chi tiết, rõ ràng hơn so với việc quy định chung chung những lĩnh vực trọng yếu như Luật Tiếp cận thông tin. Cụ thể, FOIA đưa ra 09 trường hợp miễn trừ như đã nêu ở trên và để đánh giá một thông tin, tài liệu được tiết lộ có gây nguy hại đủ để được miễn trừ hay không, cần phải áp dụng quy trình kiểm tra thiệt hại (harm test). Trong hạng mục này, luật của Việt Nam có thể nói là đã có những quy định tốt hơn khi yêu cầu áp dụng quy trình kiểm tra thiệt hại với tất cả những trường hợp ngoại lệ, đảm bảo chỉ từ chối cung cấp thông tin nếu việc thông tin có nguy cơ gây thiệt hại cho một lợi ích được pháp luật bảo vệ[10]. Luật Tiếp cận thông tin cũng ghi nhận nguyên tắc đánh giá là ưu tiên đảm bảo lợi ích công trong trường hợp phải công bố thông tin nhằm ưu tiên bảo vệ lợi ích chung ngay cả khi việc công bố này có thể gây hại cho một lợi ích riêng[11]. Đây là một điểm ưu việt của Luật Tiếp cận thông tin so với FOIA. FOIA quy định trong những trường hợp thông tin được miễn trừ để bảo vệ an ninh quốc gia, thông tin giám sát các tổ chức tài chính và các thông tin mật trao đổi giữa các cơ quan chính phủ sẽ chỉ được áp dụng quy trình đánh giá thiệt hại để công bố khi có yêu cầu của cá nhân, tổ chức đang có tranh chấp với những cơ quan trong một vụ kiện[12].
Trong trường hợp từ chối cung cấp thông tin, cả Việt Nam và Hoa Kỳ đều yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do người có đơn yêu cầu.
3. Các biện pháp bảo vệ
Luật Tiếp cận thông tin hoàn toàn không đưa ra một cơ chế bảo vệ người tố cáo hành vi sai trái nào. Ngoài ra, người gửi đơn yêu cầu thông tin sẽ phải cung cấp các thông tin cá nhân như tên tuổi, địa chỉ, số điện thoại. Điều này vô hình trung sẽ làm cho những cá nhân, công dân “ngại” thực hiện quyền được tiếp cận thông tin chính đáng của mình vì lo sợ sự thù địch đến từ những tổ chức, cá nhân mà lợi ích của họ bị thiệt hại.
Ngược lại, Luật Tự do thông tin của Hoa kỳ có một cơ chế bảo vệ người tố cáo hành vi sai trái khỏi việc bị áp dụng các biện pháp xử phạt tới từ các cơ quan công quyền mà thông tin bị tiết lộ gây thiệt hại trực tiếp hoặc gián tiếp. Cụ thể, Đạo luật Bảo vệ người tố cáo đưa ra những cơ chế và khung pháp lý đầy đủ để xác định thế nào là hành vi tố cáo trên cơ sở thiện chí và những cá nhân, tổ chức tiết lộ những thông tin này sẽ hoàn toàn được bảo vệ khỏi các biện pháp xử phạt của Nhà nước. Bên cạnh đó, luật của Hoa Kỳ cũng không yêu cầu cá nhân, tổ chức yêu cầu cung cấp thông tin phải khai các thông tin cá nhân cũng như xác thực những thông tin này. Như vậy, những cá nhân, tổ chức yêu cầu cung cấp thông tin sẽ cảm thấy yên tâm hơn khi thực hiện quyền chính đáng của mình.
Như vậy, do Luật Tiếp cận thông tin chưa chính thức có hiệu lực thi hành, nên tác giả cũng hạn chế đưa ra những nhận xét mang tính chủ quan trong thực tiễn áp dụng luật. Tuy nhiên, ở một quốc gia mà người dân còn nhiều rụt rè và “nắn nót” khi thực hiện những quyền hiến định chính đáng của mình như nước ta thì có thể thấy rằng, việc thiếu đi một cơ chế bảo vệ người tố cáo, tiết lộ các thông tin mật vì lợi ích chung của xã hội, phần nào sẽ làm giảm bớt tính hiệu quả của Luật Tiếp cận thông tin trong thực tiễn thi hành.

ThS. Mai Thị Mai
& ThS. Nguyễn Quang Huy
Đại học Luật Hà Nội

Tài liệu tham khảo:
[1]. https://www.foia.gov/about.html.
[2]. https://www.foia.gov/about.html, truy cập ngày 05/12/2017.
[3]. “Any person” (such as U.S. citizens, foreign nationals, organizations, associations, and universities) can make a FOIA request.
[4]. Nguyên văn: he FOIA has two categories of inpiduals who may not make a request: 1.A fugitive from justice who is requesting records relating to his/her fugitive status; and 2/A foreign government or international government organization, directly or through a representative, that is requesting information from a U.S. intelligence agency.
[5]. http://dantri.com.vn/xa-hoi/thong-qua-luat-tiep-can-thong-tin-mot-trong-10-su-kien-noi-bat-cua-nganh-tu-phap-20170103150721222.htm.
[6]. Điều 2 Luật Tiếp cận thông tin.
[7]. Article 7(f)2 Freedom of Information Act.
[8]. Article 3(a) Freedom of Information Act.
[9]. Theo Administrative Procedure Act.
[10]. Khoản 2 Điều 6, Điều 7 Luật Tiếp cận thông tin.
[11]. Khoản 3 Điều 7, khoản 1 Điều 34 Luật Tiếp cận thông tin.
[12]. 7.b.1, 7.b.2, 7.b.8, Freedom of Information Act.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tóm tắt: Chương VII dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) quy định về tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo gần như giữ nguyên nội dung Chương VII Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Tuy nhiên, phân tích từ góc độ liên thông giữa Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 với Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Đất đai năm 2024, cho thấy có một số bất cập, nếu được hoàn thiện trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) sẽ giúp hệ thống pháp luật liên quan đến chế định này được hoàn thiện, đồng bộ hơn.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.

Theo dõi chúng tôi trên: