Thứ ba 22/09/2026 20:12
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Luật Tiếp cận thông tin – Góc nhìn so sánh với Luật Tự do thông tin của Hoa Kỳ

Luật Tiếp cận thông tin đã được thông qua tại kỳ họp thứ 11, Quốc hội khoá XIII và có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2018. Đây được coi là sự kiện pháp lý quan trọng, giúp hiện thực hóa một số quyền dân sự, chính trị vốn luôn được đề cao và đóng vai trò không thể thiếu trong việc phát huy dân chủ, bảo đảm bình đẳng, công bằng trong xã hội và thông qua đó bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân.


Tuy nhiên, kinh nghiệm quốc tế cho thấy, tính hiệu quả của việc thực thi quyền tiếp cận thông tin chỉ có thể được kiểm nghiệm sau khi Luật tiếp cận thông tin có hiệu lực thi hành và người dân có thể bắt đầu thực hiện các yêu cầu cung cấp thông tin. Qua nghiên cứu nội dung các điều khoản của Luật này thấy rằng, khung pháp lý của Luật Tiếp cận thông tin ở Việt Nam vẫn còn nhiều điểm chưa thực sự hợp lý.
1. Khái quát Đạo luật Tự do thông tin của Hoa Kỳ
Năm 1966, Đạo luật Tự do thông tin của Hoa Kỳ (The Freedom of Information Act - FOIA) được thông qua. Theo đó, Đạo luật này đã cung cấp cho công chúng quyền yêu cầu truy cập hồ sơ từ bất kỳ cơ quan liên bang nào. Nó thường được mô tả như là luật giữ công dân biết về chính phủ của họ. Các cơ quan liên bang phải tiết lộ bất kỳ thông tin nào được yêu cầu theo FOIA trừ khi nó thuộc một trong chín loại miễn giảm nhằm bảo vệ các quyền lợi như quyền riêng tư cá nhân, an ninh quốc gia và thực thi pháp luật. Trên thực tế, FOIA được coi là một phần quan trọng trong nền dân chủ của Hoa Kỳ. Theo số liệu thống kê của Bộ Tư pháp Hoa Kỳ, chỉ tính riêng năm 2016, các cơ quan chính phủ Hoa Kỳ đã nhận được 788.769 yêu cầu cung cấp thông tin, trong đó có 673.689 đơn yêu cầu đã được phản hồi trong thời hạn luật định là 01 tháng, đạt khoảng 85,4%[1]. Đây là một con số tương đối ấn tượng, thể hiện sự chủ động của công dân trong việc thực thi các quyền con người của mình, cũng như thể hiện sự chuyên nghiệp của các cơ quan, tổ chức chính phủ Mỹ trong việc xử lý yêu cầu cung cấp thông tin. Điều đó cho thấy Hoa Kỳ là một trong những quốc gia đã và đang triển khai luật về tự do thông tin hiệu quả hàng đầu thế giới.
Đạo luật Tự do thông tin của Hoa kỳ được sửa đổi năm 1974 - sau vụ bê bối Watergate - buộc cơ quan phải tuân thủ nhiều hơn; sửa đổi năm 1986 nhằm hướng tới việc cung cấp sự bảo vệ rộng rãi hơn cho các thông tin thực thi pháp luật và sửa đổi năm 1996 nhằm cho phép truy cập nhiều hơn vào thông tin điện tử.
1.1. Phạm vi áp dụng
Về khía cạnh phạm vi có thể tiếp cận thông tin: FOIA có các điều khoản yêu cầu những cơ quan của Nhà nước Liên bang phải chủ động đăng tải các loại thông tin trực tuyến nhất định, bao gồm hồ sơ yêu cầu thường xuyên. FOIA quy định rằng, khi yêu cầu xử lý, các cơ quan chỉ nên giữ bí mật thông tin nếu họ có thể thấy trước rằng việc tiết lộ sẽ gây tổn hại đến lợi ích được bảo vệ bởi một ngoại lệ hoặc nếu luật pháp cấm việc tiết lộ. Các cơ quan cũng nên xem xét liệu có thể tiết lộ một phần thông tin bất cứ khi nào họ xác định rằng việc tiết lộ đầy đủ là không thể và họ nên thực hiện các bước hợp lý để tách biệt và tiết lộ thông tin không bị hạn chế. Văn phòng Chính sách thông tin tại Bộ Tư pháp của Chính phủ Hoa Kỳ sẽ chịu trách nhiệm ban hành hướng dẫn của Chính phủ về FOIA như một phần trách nhiệm của mình để khuyến khích tất cả các cơ quan thực hiện đầy đủ cả về nội dung quy phạm và tinh thần của FOIA[2].
Về khía cạnh chủ thể có thể tiếp cận quyền: FOIA quy định rằng, bất kỳ người nào[3] cũng có quyền được tiếp cận hồ sơ của cơ quan liên bang, trừ khi các hồ sơ đó (hoặc một phần của chúng) được bảo vệ khỏi sự tiết lộ công khai bởi một trong số chín trường hợp được miễn của FOIA hoặc bởi một trong ba loại trừ đặc biệt về luật pháp (những trường hợp này sẽ được đề cập ở những phần sau). Vì là một đạo luật của chính quyền liên bang nên FOIA không cung cấp quyền truy cập hồ sơ do cơ quan chính phủ tiểu bang hoặc địa phương của Hoa Kỳ giữ hoặc bởi các doanh nghiệp hoặc cá nhân. Các quốc gia có các đạo luật riêng nhằm điều khiển truy cập vào các hồ sơ của tiểu bang và địa phương thì cần phải có sự xem xét, tư vấn trong từng trường hợp để có thể xác định.
FOIA cũng đưa ra 02 ngoại lệ của chủ thể không thể đưa ra yêu cầu tiếp cận thông tin, cụ thể[4]: (i) Một người đang lánh nạn khỏi việc xét xử đang yêu cầu hồ sơ liên quan đến tình trạng lưu vong của mình; (ii) Chính phủ nước ngoài hoặc tổ chức chính phủ quốc tế, trực tiếp hoặc thông qua một đại diện, đang yêu cầu thông tin từ cơ quan tình báo Hoa Kỳ.
1.2. Thủ tục yêu cầu thông tin
FOIA không yêu cầu người gửi yêu cầu phải cung cấp lý do, mục đích, tuy nhiên một số cơ quan, tổ chức vẫn hỏi tên, địa chỉ, số điện thoại để đảm bảo thư trả lời về đến tay người yêu cầu. Tất nhiên, những yêu cầu này là không bắt buộc.
Về hình thức gửi đơn yêu cầu cung cấp thông tin, FOIA cho phép người có nhu cầu gửi đơn/phiếu yêu cầu trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua mạng điện tử, bưu điện... Tuy nhiên, mỗi cơ quan lại có các mẫu yêu cầu khác nhau và không phải cơ quan nào cũng chấp nhận yêu cầu gửi qua đường điện tử.
Về thời gian xử lý yêu cầu, FOIA đưa ra các quy định hợp lý về thời gian xử lý đối với từng loại đơn từ đơn giản đến phức tạp và có cơ chế rõ ràng đối với việc kéo dài thời hạn. Cụ thể: Khi cơ quan nhận được yêu cầu cung cấp thông tin một cách chính xác, thì có 20 ngày làm việc để xác định yêu cầu. Các cơ quan cung cấp thông tin có quyền chậm trễ trong việc đáp ứng yêu cầu khi rơi vào “trường hợp bất thường”, cơ quan có thể kéo dài thời gian làm việc 20 ngày để xử lý yêu cầu. Tuy nhiên, cơ quan phải thông báo cho bên yêu cầu bằng văn bản về lý do cần gia hạn và đưa ra ngày xác định theo yêu cầu. FOIA định nghĩa một “tình huống bất thường” gồm: (i) Nhu cầu tìm kiếm và thu thập hồ sơ từ các văn phòng riêng biệt; (ii) Cần phải kiểm tra một lượng lớn các hồ sơ theo yêu cầu; (iii) Cần tư vấn với cơ quan khác.
1.3. Ngoại lệ và từ chối
Về cơ bản, quyền tiếp cận thông tin không được coi là quyền tuyệt đối, nên FOIA cũng đưa ra những quy định về các thông tin, tài liệu thuộc trường hợp ngoại lệ chi tiết, rõ ràng hơn so với việc quy định chung chung những lĩnh vực trọng yếu như Luật Tiếp cận thông tin của Việt Nam. Cụ thể, FOIA đưa ra 09 trường hợp miễn trừ: (i) Thông tin không được công khai để bảo vệ an ninh quốc gia; (ii) Thông tin liên quan đến quy chế nội bộ và hoạt động của cơ quan chính phủ; (iii) Thông tin bị cấm tiết lộ bởi một đạo luật liên bang khác; (iv) Bí mật thương mại hoặc thông tin thương mại bí mật hoặc đặc quyền thương mại; (v) Các thông tin liên lạc mật giữa các cơ quan chính phủ; (vi) Thông tin mà nếu được tiết lộ sẽ xâm phạm quyền riêng tư cá nhân của một cá nhân khác; (vii) Thông tin, tài liệu được soạn thảo cho mục đích thực thi pháp luật: Có thể được dự kiến ​​sẽ can thiệp vào số tiền thu được; sẽ tước đoạt một người có quyền xét xử công bằng hoặc xét xử vô tư; có thể được hình thành một cách hợp lý của một cuộc xâm lược quyền riêng tư cá nhân; có thể là lý do để tiết lộ danh tính của một nguồn tin mật; sẽ tiết lộ các kỹ thuật và thủ tục cho việc điều tra hoặc truy tố pháp luật; có thể được dự kiến ​​sẽ gây nguy hiểm cho cuộc sống hoặc an toàn vật lý của bất kỳ cá nhân; (viii) Thông tin liên quan đến sự giám sát của các tổ chức tài chính; (ix) Thông tin, dữ liệu địa chất, bản đồ.
1.4. Các biện pháp bảo vệ
Luật Tự do thông tin của Hoa Kỳ có một cơ chế bảo vệ người tố cáo hành vi sai trái khỏi việc bị áp dụng các biện pháp xử phạt tới từ các cơ quan công quyền mà thông tin bị tiết lộ gây thiệt hại trực tiếp hoặc gián tiếp. Cụ thể, Whistleblower Protection Act, tạm dịch là Đạo luật Bảo vệ người tố cáo đưa ra những cơ chế và khung pháp lý đầy đủ để xác định thế nào là hành vi tố cáo trên cơ sở thiện chí và những cá nhân, tổ chức tiết lộ những thông tin này sẽ hoàn toàn được bảo vệ khỏi các biện pháp xử phạt của Nhà nước. Bên cạnh đó, Whistleblower Protection Act cũng không yêu cầu cá nhân, tổ chức yêu cầu cung cấp thông tin phải khai các thông tin cá nhân cũng như xác thực những thông tin này. Như vậy, những cá nhân, tổ chức yêu cầu cung cấp thông tin sẽ cảm thấy yên tâm hơn khi thực hiện những quyền chính đáng của mình.
2. Một số điểm khác biệt về khung pháp lý của Luật Tiếp cận thông tin ở Việt Nam so với Đạo luật về Tự do thông tin ở Hoa kỳ
Trên thực tế, việc đảm bảo công khai thông tin làm gia tăng mạnh mẽ niềm tin của người dân vào các cơ quan công quyền, còn che giấu sẽ tạo ra hiệu ứng ngược lại. Niềm tin của nhân dân là yếu tố then chốt tạo ra sự ổn định chính trị, nên công khai thông tin cần phải được coi là một ưu tiên của các cơ quan công quyền. Do đó, có thể nói rằng: “Việc ban hành Luật Tiếp cận thông tin còn góp phần hiệu quả vào công tác phòng, chống tham nhũng; tăng tính minh bạch của thị trường, góp phần nâng cao tri thức và sự tham gia của công dân vào hoạt động quản lý nhà nước; tạo thuận lợi cho việc thực hiện vai trò giám sát của tổ chức, cá nhân và các cơ quan chức năng đối với các cơ quan nhà nước, qua đó góp phần thực thi pháp luật hiệu quả”[5]. Mặc dù Luật Tiếp cận thông tin vẫn chưa chính thức có hiệu lực và áp dụng trên thực tiễn, nhưng cũng có thể đánh giá tổng quan góc nhìn về quyền tiếp cận thông tin của Việt Nam qua các nội dung điều khoản của Luật này so với FOIA.
2.1. Sự khác biệt trong góc nhìn về phạm vi áp dụng
Về phạm vi thông tin, tài liệu được quyền tiếp cận, Luật Tiếp cận thông tin cho phép người dân được cung cấp tất cả các loại tài liệu đáp ứng 02 điều kiện: Thông tin “tạo ra” bởi cơ quan nhà nước “trong khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật” và “được người có thẩm quyền xác nhận bằng văn bản”[6]. Như vậy, những tài liệu do cơ quan nhà nước nắm giữ nhưng được tạo ra bởi một cá nhân, tổ chức khác, không phải cơ quan nhà nước thì người dân sẽ không được phép tiếp cận. Điều này ngược lại không bị hạn chế trong FOIA, theo đó, người có yêu cầu cung cấp thông tin có thể tiếp cận tài liệu dưới mọi hình thức, bất kể người tạo ra là cơ quan, tổ chức hay cá nhân nào[7]. Tuy nhiên, cả Việt Nam và Hoa Kỳ đều không có quy định rõ ràng về đối tượng được phép tiếp cận là thông tin hay tài liệu cụ thể chứng minh cho thông tin đó.
Về chủ thể tiếp cận thông tin, theo quy định của Luật Tiếp cận thông tin, Điều 4 quy định các chủ thể được thực hiện quyền tiếp cận thông tin là các cá nhân công dân có quyền, người không đủ năng lực hành vi dân sự thực hiện yêu cầu cung cấp thông tin thông qua người đại diện, người giám hộ. Tuy nhiên, Điều 36 Luật Tiếp cận thông tin lại ghi nhận: “Người nước ngoài cư trú tại Việt Nam có quyền yêu cầu cung cấp thông tin liên quan trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của họ”. Như vậy có thể hiểu, chỉ có công dân mang Quốc tịch Việt Nam mới có đầy đủ quyền tiếp cận thông tin còn người nước ngoài thì không. Đây là một điềm trừ của luật Việt Nam so với Hoa Kỳ. Cụ thể, người Mỹ cho phép tất cả mọi người (không yêu cầu phải có quốc tịch Mỹ) được quyền yêu cầu cung cấp thông tin và đặc biệt hơn, quyền này cũng được trao đầy đủ cho các tổ chức, doanh nghiệp có tư cách pháp nhân[8].
Về phạm vi các cơ quan, tổ chức chịu ảnh hưởng của Luật Tiếp cận thông tin và phải có nghĩa vụ cung cấp thông tin khi được yêu cầu: Luật không đưa ra bất kỳ một giới hạn hay loại trừ nào đối với các cơ quan nhà nước không phải chấp hành quy định của Luật Tiếp cận thông tin. Đây là một điểm rất tiến bộ của Luật Tiếp cận thông tin được Tổ chức đánh giá quyền thông tin toàn cầu (Global Right to Information Rating) đánh giá cao. Bởi lẽ, FOIA chỉ được áp dụng với các cơ quan, tổ chức chính phủ thuộc nhánh hành pháp (trừ văn phòng Nhà Trắng). Quốc hội (gồm thượng nghị viện và hạ nghị viện) và các cơ quan tư pháp không thuộc phạm vi điều chỉnh của luật tự do thông tin Hoa Kỳ[9]. Tuy nhiên, luật của Hoa Kỳ lại yêu cầu các công ty quốc doanh, doanh nghiệp nhà nước phải minh bạch, cung cấp thông tin thì luật của Việt Nam lại không đề cập tới nhóm đối tượng này.
2.2. Sự khác biệt về thủ tục yêu cầu
Theo quy định của Luật Tiếp cận thông tin, cá nhân, công dân khi yêu cầu cung cấp thông tin cần phải nêu rõ lý do, mục đích của yêu cầu, đồng thời cung cấp các thông tin cá nhân như họ, tên; nơi cư trú, địa chỉ; số chứng minh nhân dân, thẻ căn cước công dân hoặc số hộ chiếu của người yêu cầu; số fax, điện thoại, địa chỉ thư điện tử. Ngược lại, FOIA không yêu cầu người gửi yêu cầu phải cung cấp lý do, mục đích, tuy nhiên một số cơ quan, tổ chức vẫn hỏi tên, địa chỉ, số điện thoại để đảm bảo thư trả lời về đến tay người yêu cầu. Tất nhiên, những yêu cầu này là không bắt buộc.
Về hình thức gửi đơn yêu cầu cung cấp thông tin, luật Việt Nam và Hoa Kỳ có sự tương đồng khi cho phép người có nhu cầu gửi đơn/phiếu yêu cầu trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua mạng điện tử, bưu điện… Tuy nhiên, thủ tục của Việt Nam có nhiều thuận lợi hơn do luật đưa ra quy định chung một hình thức cho tất cả các tổ chức, cơ quan. Ở Mỹ, mỗi cơ quan lại có các mẫu yêu cầu khác nhau và không phải cơ quan nào cũng chấp nhận yêu cầu gửi qua đường điện tử.
Về thời gian xử lý yêu cầu, cả luật Việt Nam và Hoa Kỳ đều đưa ra các quy định hợp lý về thời gian xử lý đối với từng loại đơn từ đơn giản đến phức tạp và có cơ chế rõ ràng đối với việc kéo dài thời hạn.
2.3. Sự khác biệt trong việc quy định các trường hợp ngoại lệ và từ chối
Điều 6 Luật Tiếp cận thông tin đã liệt kê ra các trường hợp ngoại lệ mà công dân không được tiếp cận, bao gồm: Thông tin thuộc bí mật nhà nước trong những lĩnh vực trọng yếu và thông tin mà nếu để tiếp cận sẽ gây nguy hại đến lợi ích của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến quốc phòng, an ninh quốc gia, quan hệ quốc tế, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng; gây nguy hại đến tính mạng, cuộc sống hoặc tài sản của người khác; thông tin thuộc bí mật công tác; thông tin về cuộc họp nội bộ của cơ quan nhà nước; tài liệu do cơ quan nhà nước soạn thảo cho công việc nội bộ. Và tại Điều 7 của Luật Tiếp cận thông tin có đề cập đến những trường hợp thông tin được phép tiếp cận nhưng có điều kiện nhất định.
Về cơ bản, FOIA cũng công nhận các trường hợp miễn trừ tương tự, nhưng quy định các thông tin, tài liệu thuộc trường hợp ngoại lệ chi tiết, rõ ràng hơn so với việc quy định chung chung những lĩnh vực trọng yếu như Luật Tiếp cận thông tin. Cụ thể, FOIA đưa ra 09 trường hợp miễn trừ như đã nêu ở trên và để đánh giá một thông tin, tài liệu được tiết lộ có gây nguy hại đủ để được miễn trừ hay không, cần phải áp dụng quy trình kiểm tra thiệt hại (harm test). Trong hạng mục này, luật của Việt Nam có thể nói là đã có những quy định tốt hơn khi yêu cầu áp dụng quy trình kiểm tra thiệt hại với tất cả những trường hợp ngoại lệ, đảm bảo chỉ từ chối cung cấp thông tin nếu việc thông tin có nguy cơ gây thiệt hại cho một lợi ích được pháp luật bảo vệ[10]. Luật Tiếp cận thông tin cũng ghi nhận nguyên tắc đánh giá là ưu tiên đảm bảo lợi ích công trong trường hợp phải công bố thông tin nhằm ưu tiên bảo vệ lợi ích chung ngay cả khi việc công bố này có thể gây hại cho một lợi ích riêng[11]. Đây là một điểm ưu việt của Luật Tiếp cận thông tin so với FOIA. FOIA quy định trong những trường hợp thông tin được miễn trừ để bảo vệ an ninh quốc gia, thông tin giám sát các tổ chức tài chính và các thông tin mật trao đổi giữa các cơ quan chính phủ sẽ chỉ được áp dụng quy trình đánh giá thiệt hại để công bố khi có yêu cầu của cá nhân, tổ chức đang có tranh chấp với những cơ quan trong một vụ kiện[12].
Trong trường hợp từ chối cung cấp thông tin, cả Việt Nam và Hoa Kỳ đều yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do người có đơn yêu cầu.
3. Các biện pháp bảo vệ
Luật Tiếp cận thông tin hoàn toàn không đưa ra một cơ chế bảo vệ người tố cáo hành vi sai trái nào. Ngoài ra, người gửi đơn yêu cầu thông tin sẽ phải cung cấp các thông tin cá nhân như tên tuổi, địa chỉ, số điện thoại. Điều này vô hình trung sẽ làm cho những cá nhân, công dân “ngại” thực hiện quyền được tiếp cận thông tin chính đáng của mình vì lo sợ sự thù địch đến từ những tổ chức, cá nhân mà lợi ích của họ bị thiệt hại.
Ngược lại, Luật Tự do thông tin của Hoa kỳ có một cơ chế bảo vệ người tố cáo hành vi sai trái khỏi việc bị áp dụng các biện pháp xử phạt tới từ các cơ quan công quyền mà thông tin bị tiết lộ gây thiệt hại trực tiếp hoặc gián tiếp. Cụ thể, Đạo luật Bảo vệ người tố cáo đưa ra những cơ chế và khung pháp lý đầy đủ để xác định thế nào là hành vi tố cáo trên cơ sở thiện chí và những cá nhân, tổ chức tiết lộ những thông tin này sẽ hoàn toàn được bảo vệ khỏi các biện pháp xử phạt của Nhà nước. Bên cạnh đó, luật của Hoa Kỳ cũng không yêu cầu cá nhân, tổ chức yêu cầu cung cấp thông tin phải khai các thông tin cá nhân cũng như xác thực những thông tin này. Như vậy, những cá nhân, tổ chức yêu cầu cung cấp thông tin sẽ cảm thấy yên tâm hơn khi thực hiện quyền chính đáng của mình.
Như vậy, do Luật Tiếp cận thông tin chưa chính thức có hiệu lực thi hành, nên tác giả cũng hạn chế đưa ra những nhận xét mang tính chủ quan trong thực tiễn áp dụng luật. Tuy nhiên, ở một quốc gia mà người dân còn nhiều rụt rè và “nắn nót” khi thực hiện những quyền hiến định chính đáng của mình như nước ta thì có thể thấy rằng, việc thiếu đi một cơ chế bảo vệ người tố cáo, tiết lộ các thông tin mật vì lợi ích chung của xã hội, phần nào sẽ làm giảm bớt tính hiệu quả của Luật Tiếp cận thông tin trong thực tiễn thi hành.

ThS. Mai Thị Mai
& ThS. Nguyễn Quang Huy
Đại học Luật Hà Nội

Tài liệu tham khảo:
[1]. https://www.foia.gov/about.html.
[2]. https://www.foia.gov/about.html, truy cập ngày 05/12/2017.
[3]. “Any person” (such as U.S. citizens, foreign nationals, organizations, associations, and universities) can make a FOIA request.
[4]. Nguyên văn: he FOIA has two categories of inpiduals who may not make a request: 1.A fugitive from justice who is requesting records relating to his/her fugitive status; and 2/A foreign government or international government organization, directly or through a representative, that is requesting information from a U.S. intelligence agency.
[5]. http://dantri.com.vn/xa-hoi/thong-qua-luat-tiep-can-thong-tin-mot-trong-10-su-kien-noi-bat-cua-nganh-tu-phap-20170103150721222.htm.
[6]. Điều 2 Luật Tiếp cận thông tin.
[7]. Article 7(f)2 Freedom of Information Act.
[8]. Article 3(a) Freedom of Information Act.
[9]. Theo Administrative Procedure Act.
[10]. Khoản 2 Điều 6, Điều 7 Luật Tiếp cận thông tin.
[11]. Khoản 3 Điều 7, khoản 1 Điều 34 Luật Tiếp cận thông tin.
[12]. 7.b.1, 7.b.2, 7.b.8, Freedom of Information Act.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.

Theo dõi chúng tôi trên: