Chủ nhật 15/03/2026 16:18
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Mô hình tổ chức quản lý thi hành án ở một số nước - Kinh nghiệm và sự cần thiết đổi mới mô hình tổ chức thi hành án của Việt Nam trong giai đoạn tới

Thi hành án là lĩnh vực hoạt động nhạy cảm, phức tạp, liên quan đến quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân, quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, cá nhân và mọi tổ chức trong xã hội.

Vì thế, trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ta luôn đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng, hoàn thiện thể chế, ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật; không ngừng củng cố, hoàn thiện hệ thống tổ chức bộ máy, bổ sung biên chế, đẩy mạnh công tác bồi dưỡng, nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ, chiến sĩ, chấp hành viên làm công tác thi hành án, tăng cường cơ sở vật chất và các điều kiện bảo đảm khác cho lĩnh vực hoạt động này. Nhờ đó, công tác thi hành án ngày càng đi vào nề nếp và đã đạt được những thành quả nhất định, góp phần bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ quyền con người, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, của nhà nước và các tổ chức xã hội, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.

Nhằm tăng cường hơn nữa hiệu quả công tác thi hành án, đáp ứng hội nhập quốc tế, phù hợp với xu thế phát triển của thế giới, cần không ngừng đổi mới và hoàn thiện bộ máy tổ chức cơ quan thi hành án. Trong quá đổi mới, việc nghiên cứu kinh nghiệm tổ chức thi hành án của các nước trên thế giới đóng vai trò quan trọng, nhằm giúp cho Việt Nam tìm kiếm và lựa chọn một mô hình thích hợp. Phạm vi bài viết này nghiên cứu một số mô hình tổ chức thi hành án của một số nước trên thế giới, kinh nghiệm cho Việt Nam và sự cần thiết phải đổi mới mô hình tổ chức thi hành án trong thời gian tới.

1. Các mô hình quản lý và tổ chức thi hành án một số nước trên thế giới

Hiện nay, các nước trên thế giới phổ biến thiết kế tổ chức thi hành án theo 3 mô hình cơ bản sau đây: (i) Mô hình thi hành án do Bộ Tư pháp và Tòa án quản lý, (ii) Mô hình thi hành án do Tòa án quản lý, (iii) Mô hình thi hành án do nhiều cơ quan quản lý phụ thuộc vào tính chất, mức độ của bản án.

1.1. Đối với mô hình thi hành án do Bộ Tư pháp và Tòa án quản lý

Đây là mô hình mà việc tổ chức thi hành các bản án hình sự, liên quan đến hình phạt tù do Bộ Tư pháp quản lý và thực hiện, đối với thi hành các bản án liên quan đến tài sản và nhân thân phi tài sản (thi hành án dân sự) do Tòa án quản lý và các tổ chức Thừa phát lại thực hiện.

Điển hình cho mô hình này là Cộng hòa Pháp [2], qua nghiên cứu và khảo sát về cải cách tư pháp tại Cộng Hòa Pháp cho thấy: Đối với thi hành án hình sự, hệ thống các cơ quan quản lý trại giam bao gồm Cục Quản lý trại giam thuộc Bộ Tư pháp, là cơ quan quản lý cấp Trung ương đặt ở Paris. Đứng đầu Cục Quản lý trại giam là Cục trưởng do Tổng thống bổ nhiệm trên cơ sở đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp. Cục Quản lý trại giam gồm: Phòng Thanh tra trại giam, Phòng Truyền thông và Quan hệ quốc tế; bốn Ban gồm Ban Tham mưu, Ban Quản lý những người đang chấp hình phạt tù và các hình phạt khác, Ban Quản lý tổ chức và hoạt động của các cơ quan quản lý trại giam địa phương, Ban Quản lý nguồn nhân lực và các cơ quan hệ xã hội. Các cơ quan quản lý trại giam cấp địa phương bao gồm: 9 Phòng quản lý cấp vùng; 1 Phòng quản lý trại giam tại các tỉnh và vùng hải ngoại. Các phòng quản lý trại giam cấp vùng gồm: Các cơ sở giam giữ và các cơ quan tái hoà nhập xã hội và thử thách. Các cơ sở giam giữ gồm: Nhà trại giam, các cơ sở thi hành án phạt tù và các cơ sở giam giữ đặc biệt. Cán bộ trại giam bao gồm quản giáo là lực lượng chính, quản giáo không thuộc lực lượng vũ trang nhưng có hưởng cấp bậc giống như công chức trong lực lượng cảnh sát quốc gia, các viên chức khác tham gia công tác thi hành án hình sự còn có: Giám thị, nhân viên hỗ trợ xã hội và kỹ thuật viên, nhân viên hành chính.

Thi hành án về tài sản và nhân thân phi tài sản (thi hành án dân sự) do Toà án theo dõi, quản lý và tổ chức Thừa phát lại thực hiện. Theo Đạo luật năm 1991 về cải cách thủ tục thi hành án, thì tại Toà án sơ thẩm thẩm quyền rộng có các thẩm phán thi hành án, được chánh Toà chỉ định và ủy quyền phụ trách thi hành án. Thẩm phán thi hành án có trách nhiệm kiểm tra, giám sát tính hợp pháp, hợp lệ của quá trình thi hành án, cho phép tiến hành các biện pháp kê biên bảo tồn, quyết định thời hạn tạm đình chỉ, đình chỉ thi hành án, giải quyết các tranh chấp, khiếu nại phát sinh trong quá trình thi hành án. Tổ chức Thừa phát lại chịu trách nhiệm trực tiếp thi hành án dân sự.

Thừa phát lại được thiết lập ở 3 cấp: Hội đồng Thừa phát lại cấp tỉnh, cấp vùng và cấp quốc gia. Bộ trưởng Bộ Tư pháp có thẩm quyền bổ nhiệm Thừa phát lại. Các văn phòng, công ty Thừa phát lại được tổ chức và hoạt động theo mô hình của các công ty thương mại. Tư cách Thừa phát lại rất linh hoạt, họ vừa là viên chức tư pháp, viên chức công quyền, bổ trợ viên tư pháp vừa là một nghề tự do, có tư cách hoạt động độc lập. Kinh phí hoạt động của Thừa phát lại là thù lao do các bên yêu cầu thi hành án trả, ngoài ra, Thừa phát lại còn nộp thuế cho Nhà nước. Thừa phát lại là lực lượng duy nhất ở Pháp có quyền yêu cầu hỗ trợ của các lực lượng vũ trang công quyền trong trường hợp cần thiết. Thừa phát lại hành nghề theo quy chế tự do, độc lập với chính quyền và chỉ chịu trách nhiệm trước Toà án và viện công tố.

Bun-ga-ri và Cộng hòa Liên bang Nga cũng là những nước theo mô hình này. Tại Bun-ga-ri, việc quy định cơ quan quản lý và thực hiện thi hành án hình sự có nhiều sự thay đổi, trước năm 1887, thi hành án hình sự chưa được quy định rõ ràng nhưng được cơ quan cảnh sát thực hiện, năm 1891, Bộ Tư pháp được giao quản lý, sau đó năm 1968, Luật Thi hành án hình sự được ban hành, việc quản lý thi hành án hình sự được giao cho Bộ Nội vụ (tức Bộ Công an). Đến năm 1990, việc quản lý thi hành hình phạt được chuyển lại cho Bộ Tư pháp. Lý do Bun-ga-ri chuyển giao việc quản lý thi hành hình phạt từ Bộ Nội vụ sang Bộ Tư pháp xuất phát từ yêu cầu đảm bảo tính độc lập, khách quan trong thi hành hình phạt, bảo vệ quyền của các phạm nhân, bị can, bị cáo. Bởi một cơ quan vừa làm công tác điều tra lại vừa làm công tác thi hành án, quản lý các cơ sở tạm giữ sẽ không khách quan. Việc chuyển sang cho Bộ Tư pháp quản lý sẽ phù hợp với xu hướng chung của các nước trong Cộng đồng Châu Âu mà Bun-ga-ri là thành viên. Nhà tù, trại cải tạo và cơ sở tạm giam do Tổng cục Thi hành án hình phạt quản lý. Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định cơ cấu, tổ chức, chức năng nhiệm vụ của Tổng cục Thi hành án hình phạt.

Về thi hành án dân sự, trước đây, Bun-ga-ri áp dụng mô hình thi hành án nhà nước, do Tòa án quản lý, từ năm 2005, Bun-ga-ri bắt đầu chuyển sang mô hình Thừa phát lại. Khi thực hiện chuyển đổi, Nhà nước tạo điều kiện cho các chấp hành viên (cơ quan thi hành án nhà nước) chuyển sang nghề Thừa phát lại. Hiện nay, thi hành án dân sự tại Bun-ga-ri được thực hiện bởi cơ quan thi hành án nhà nước và Thừa phát lại tư nhân. Hầu hết, những Thừa phát lại đang hành nghề là những người đã là chấp hành viên của thi hành án nhà nước. Thừa phát lại có chức năng, quyền hạn như các cơ quan thi hành án nhà nước nhưng là đơn vị hạch toán, tạo công ăn việc làm cho xã hội và đóng thuế cho Nhà nước. Hiện nay, thi hành án nhà nước chủ yếu tổ chức thi hành các vụ việc cho nhà nước, chính điều này làm cho quá trình chuyển đổi diễn ra một cách tự nhiên.

Đối với Cộng hoà Liên bang Nga, thi hành án hình sự do Bộ Tư pháp quản lý [5,6]. Đây cũng là nước có sự chuyển đổi cơ quan thi hành án hình sự thành công. Năm 1998, Cộng hòa Liên bang Nga chuyển giao tất cả các cơ sở giam giữ và cơ quan quản lý, điều hành việc xử phạt những đối tượng bị kết án từ Bộ Nội vụ sang Bộ Tư pháp, lý do của việc chuyển đổi này là nhằm đáp ứng điều kiện để được kết nạp vào Hội đồng Châu Âu. Từ khi chuyển giao, trách nhiệm quản lý hệ thống nhà tù được quan tâm hơn, được sự ủng hộ mạnh mẽ về mặt chính trị. Việc chuyển giao được coi là cam kết ở mức độ cao hơn đối với các quyền con người. Tại Bộ Tư pháp đã thiết lập một cơ quan có nhiệm vụ đảm bảo việc thi hành luật và tôn trọng quyền con người.

Thi hành án dân sự tại Cộng hòa Liên bang Nga do Tòa án thực hiện, theo quy định của Bộ luật tố tụng của Liên bang thì chấp hành viên là người thi hành các quyết định, bản án của Toà án.

Ngoài ra, Hung-ga-ri cũng là một nước đã chuyển cơ quan thi hành án hình sự cho Bộ Tư pháp quản lý, cơ quan trực tiếp quản lý thi hành án hình sự là Cục trưởng Cục Quốc gia về quản lý trại giam. Bộ Tư pháp đảm bảo cho hoạt động của Cục Quốc gia về quản lý trại giam. Việc theo dõi thi hành án hình sự thuộc nhiệm vụ của thẩm phán, họ là cầu nối giữa Bộ Tư pháp và Cục Quốc gia về quản lý trại giam, thẩm phán theo dõi thi hành án hình sự không chỉ chịu trách nhiệm giám sát việc thi hành án phạt tù mà còn giám sát việc thi hành các biện pháp thử thách hoặc hình phạt lao động công ích. Người làm việc tại Cục Quốc gia về quản lý trại giam là công chức nhưng được hưởng quy chế riêng.

1.2. Đối với mô hình thi hành án do Tòa án quản lý

Đây là mô hình mà việc quản lý và tổ chức thi hành án hình sự do công tố viên chịu trách nhiệm còn thi hành án dân sự do Tòa án quản lý và thi hành.

Mô hình này được In-đô-nê-si-a áp dụng [8], thi hành án hình sự được thực hiện bởi công tố viên nhưng Tòa án là cơ quan chịu trách nhiệm quản lý, theo dõi. Trước khi bản án được thi hành, công tố viên được thư ký Toà án ký xác nhận bản án đã có hiệu lực pháp luật, công tố viên ra lệnh thi hành án gửi cho nhà tù, việc giám sát, theo dõi thi hành án hình sự do thẩm phán thực hiện.

Thi hành án dân sự được thực hiện bởi thẩm phán Tòa án, đối với bản án về bồi thường thiệt hại (trong vụ án hình sự) được tiến hành theo thủ tục thi hành dân sự, do Thừa phát lại thi hành. Người phải thi hành án dân sự không có hoặc không đủ tài sản để thi hành, thì theo yêu cầu của bên thắng kiện, chánh án Toà án cấp quận, huyện có thể trao lệnh cho Thừa phát lại bắt người phải thi hành án để tạm giam. Người bị bắt có thể bị giam giữ trong thời hạn 3 năm.

Ngoài ra, Hàn Quốc [8] cũng là quốc gia có tổ chức thi hành án gần giống như In-đô-nê-si-a, đó là vệc thi hành án hình sự do công tố viên thực hiện, tuy nhiên việc quản lý thuộc trách nhiệm của Bộ Tư pháp chứ không phải là Tòa án như In-đô-nê-si-a. Thi hành án dân sự do Tòa án quận chịu trách nhiệm thi hành, nhân viên thi hành án độc lập, không nằm trong Ngành Tư pháp, họ tuy không phải là công chức đúng nghĩa nhưng được đặt dưới sự giám sát của chánh án Tòa án quận có thẩm quyền. Chánh án Tòa án cấp quận bổ nhiệm nhân viên thi hành án từ những người đã phục vụ trong Ngành Tòa án, với tư cách là công chức trong một thời gian nhất định tại các Tòa án hoặc các văn phòng công tố.

1.3. Đối với mô hình thi hành án do nhiều cơ quan thực hiện phụ thuộc vào tính chất, mức độ của bản án

Đây là mô hình thi hành án do nhiều cơ quan như Tòa án, Bộ Tư pháp, Bộ Công an quản lý và thi hành, việc phân định cơ quan nào thi hành bản án nào phụ thuộc hoàn toàn vào tính chất vụ án và bản án do Tòa án đã tuyên, hoặc phụ thuộc vào thời gian người phải thi hành án đã thi hành được thời gian bao lâu.

Mô hình này được Cộng hòa nhân dân Trung Hoa áp dụng [8,9]. Đối với các bản án hình sự, được phân chia thẩm quyền thi hành cho các cơ quan như Toà án, Bộ Tư pháp và Bộ Công an. Trước năm 1983, nhà tù đặt dưới sự quản lý của Bộ Công an, tuy nhiên từ năm 1983 đến nay, nhà tù được chuyển sang Bộ Tư pháp quản lý. Tùy thuộc vào loại hình phạt mà cơ quan quản lý thi hành án sẽ là Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an hay Bộ Tư pháp, cụ thể:

- Án tử hình nhưng cho thi hành ngay, án phạt tước các quyền về chính trị, tịch thu tài sản do Tòa án thi hành (cơ quan quản lý là Tòa án nhân dân tối cao).

- Án cải tạo không giam giữ, án treo, án tạm thời thi hành bên ngoài nhà tù, phóng thích trước thời hạn do cơ quan công an thi hành (cơ quan quản lý là Bộ Công an).

- Tạm giam hình sự, tù có thời hạn với thời gian còn lại dưới 1 năm, áp dụng cùng cải tạo không giam giữ, tạm giam trước khi bị kết án do nhà tạm giam thi hành (cơ quan quản lý là Bộ Công an).

- Tù có thời hạn mà thời gian còn lại trên 1 năm, tù chung thân, tử hình nhưng cho tạm dừng thi hành án, tước quyền chính trị nhưng áp dụng cùng với hình phạt tù do Nhà tù thực hiện (cơ quan quản lý là Bộ Tư pháp). Ở Trung Quốc, hình phạt tử hình chỉ được áp dụng đối với các tội phạm thực hiện hành vi vô nhân tính. Tất cả các bản án tử hình đều phải trình lên Tòa án nhân dân tối cao phê chuẩn. Nếu việc thi hành án tử hình là không cần thiết thì có thể được gia hạn thực hiện trong 2 năm, điều này phải được tuyên ngay trong bản án tuyên tử hình (những bản án náy có thể do Tòa án nhân dân tối cao tuyên hoặc phê chuẩn), trường hợp thi hành trong thời gian gia hạn này sẽ do các nhà tù thi hành. Nếu người bị tuyên án tử hình có gia hạn thi hành không thực hiện hành vi phạm tội cố ý trong 2 năm đó thì hình phạt đối với người này sẽ được chuyển đổi thành tù chung thân sau khi hết 2 năm; nếu người đó lập thành tích được khen thì hình phạt được chuyển đổi thành tù có thời hạn với thời hạn cụ thể từ tối thiểu 15 năm tới tối đa 20 năm tù, kể từ khi kết thúc 2 năm gia hạn án tử hình. Tuy nhiên, trong thời hạn 2 năm gia hạn này, người bị kết án có hành vi cố ý phạm tội, thì hành phạt tử hình sẽ được thi hành ngay sau khi có phê chuẩn của Tòa án nhân dân tối cao.

Đối với thi hành án dân sự do Tòa án chịu trách nhiệm quản lý và thi hành, không có sự tách bạch giữa cơ quan xét xử và cơ quan thi hành án.

Qua nghiên cứu các mô hình tổ chức thi hành án của các nước trên đây, có thể thấy, mỗi nước có cách thiết lập tổ chức thi hành án riêng, không giống nhau, có nước, hệ thống cơ quan thi hành án nằm trong Bộ Tư pháp, do Bộ Tư pháp quản lý, có nước do Tòa án quản lý, có nước do Bộ Công an quản lý, cũng có nước, việc thi hành án hình sự được giao cho nhiều cơ quan thực hiện, trong đó có cả cơ quan thuộc lực lượng vũ trang tùy thuộc vào hình phạt mà Tòa án đã tuyên. Mô hình thi hành án dân sự các nước trên thế giới cũng rất đa dạng, tùy theo đặc điểm truyền thống, môi trường pháp lý, điều kiện kinh tế - xã hội ở từng nước, mà tổ chức thi hành án dân sự có thể được thể hiện dưới hình thức là một tổ chức công, bán công hoặc do tư nhân đảm nhiệm. Cán bộ thi hành án là chấp hành viên, Thừa phát lại đều do cơ quan nhà nước có thẩm quyền bổ nhiệm và giám sát hoạt động. Tuy nhiên, nhìn chung, xu hướng trên thế giới, việc thi hành hình phạt đã và đang tách ra khỏi lực lượng vũ trang nhằm đảm bảo quyền con người và đảm bảo khách quan trong thi hành án, thi hành án dân sự được xã hội hóa mạnh, nhiều nước việc thi hành án dân sự hoàn toàn do tổ chức thừa phát lại đảm nhiệm.

2. Những kinh nghiệm cho Việt Nam và sự cần thiết đổi mới mô hình tổ chức thi hành án trong giai đoạn tới

Xuất phát từ yêu cầu đảm bảo tính độc lập, khách quan trong thi hành hình phạt, bảo vệ quyền của các phạm nhân, bị can, bị cáo thì việc quản lý thi hành án hình sự một số nước đã tách ra khỏi lực lượng vũ trang và chuyển cho một cơ quan dân sự thực hiện, đây là kinh nghiệm mà Việt Nam có thể tham khảo, ngoài ra, nó cũng phù hợp với định hướng của Đảng thể hiện trong Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị đó là việc “chuẩn bị các điều kiện về cán bộ, cơ sở vật chất để thực hiện việc chuyển giao tổ chức và công tác thi hành án cho Bộ Tư pháp”. Trong xu hướng hội nhập quốc tế, xây dựng Nhà nước pháp quyền, và nhất là điều kiện kinh tế, xã hội của Việt Nam hiện nay, việc nghiên cứu, đổi mới mô hình tổ chức thi hành án theo hướng tập trung, thống nhất là cần thiết bởi những lý do sau đây:

Thứ nhất, việc thống nhất quản lý công tác thi hành án sẽ bảo đảm cho hoạt động thi hành án không bị phân tán, tạo điều kiện trong việc xác định các giải pháp tổng thể để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án, huy động và phát huy các nguồn lực sẵn có đối với hoạt động thi hành án, phối hợp các hoạt động nhằm đảm bảo hiệu lực của các bản án trên thực tế. Mặt khác, sẽ thuận lợi trong việc đầu tư về con người, cơ sở vật chất, trang bị phương tiện kỹ thuật hiện đại, đảm bảo sự chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát chặt chẽ, điều hành nhanh nhạy, kịp thời phát hiện và tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, tránh sự can thiệp của các cơ quan khác vào hoạt động thi hành án, làm cho hoạt động thi hành án hiệu lực, hiệu quả.

Thứ hai, việc dân sự hóa hoạt động thi hành án hình sự là phù hợp với xu hướng chung trong cải cách giam giữ, giáo dục, cải tạo phạm nhân của quốc tế và khu vực, bảo đảm cho việc thực hiện quyền con người, nhiều nước trên thế giới đã thực hiện chuyển đổi theo nguyên tắc bảo đảm sự độc lập, tách bạch về tổ chức, hoạt động giữa các cơ quan tiến hành tố tụng (điều tra, truy tố) với các cơ quan giam giữ (nhất là tạm giam, tạm giữ bị can, bị cáo trong các giai đoạn trước xét xử), tạo khả năng lớn cho việc dân chủ hóa, xã hội hóa và tăng cường sự giám sát xã hội đối với quá trình giam giữ, giáo dục, cải tạo và tái hòa nhập cộng đồng cho phạm nhân, bảo đảm tốt hơn các quyền con người theo đúng mục tiêu của Nghị quyết số 49-NQ/TW đề ra.

Thứ ba, khi chuyển thi hành án hình sự ra khỏi lực lượng vũ trang, quyền con người sẽ được đảm bảo theo nguyên tắc chung của công pháp quốc tế. Trên thế giới, hệ thống nhà tù dân sự luôn được đặt ở vị trí trung tâm trong khuôn khổ quốc tế về quyền con người, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 có quy định: “Hệ thống cơ sở cải tạo bao hàm cả việc đối xử với tù nhân với mục đích căn bản là cải tạo và phục hồi địa vị xã hội cho họ”. Quy chế nhà tù Châu Âu năm 2006 quy định: “Nhà tù là trách nhiệm của các cơ quan công quyền độc lập với các cơ quan quân đội, cảnh sát hay điều tra hình sự”. Mục tiêu của Công ước và Quy chế là coi tội phạm hình sự phải được xử lý theo quy chuẩn nhằm bảo vệ mọi quyền pháp lý của con người. Nhà tù phải do cơ quan dân sự quản lý, điều hành; phải bảo lưu tất cả các quyền cho những đối tượng bị giam giữ, chứ không nhất thiết tước đoạt các quyền đó của họ chỉ vì họ bị phạt tù và ngay trong thời gian ở tù. Trong Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu về đối xử với tù nhân năm 1955 có quy định: trừ khi có lý do chính đáng để cách ly một người hay để duy trì kỷ luật, hệ thống nhà tù phải không được làm trầm trọng thêm nỗi đau khổ vốn có trong trường hợp như vậy. Mục đích và lý do chính của việc kết án tù hay của một biện pháp tước bỏ tự do tương tự là để bảo vệ xã hội chống lại tội phạm.

Thứ tư, góp phần hạn chế đến mức thấp nhất việc dùng bạo lực đối với người phạm tội đang bị giam giữ. Quy chế nhà tù Châu Âu năm 2006 đề cập đến vấn đề tách biệt cơ quan thi hành án phạt tù và cơ quan giam giữ nghi phạm, bị can, bị cáo trong quá trình điều tra. Phần chú thích của Quy chế này ghi: “Điều quan trọng là có sự tách bạch rõ ràng về mặt tổ chức giữa cảnh sát và quản lý nhà tù. Ở hầu hết các nước Châu Âu, trách nhiệm quản lý cảnh sát thuộc về Bộ Nội vụ, còn trách nhiệm quản lý nhà tù thuộc về Bộ Tư pháp. Lập luận về cơ quan điều tra và cơ quan thi hành án phạt tù, cơ quan giam giữ nghi phạm, bị can, bị cáo phải tách biệt với nhau xuất phát từ sự lo ngại về nguy cơ cán bộ điều tra sử dụng việc giam giữ nghi phạm làm công cụ điều tra, hoặc để ép buộc người đó phải nhận tội, ngoài ra còn để tránh việc dùng bạo lực đối với người đang chấp hành hình phạt trong trại giam. Những yêu cầu này phù hợp với quy tắc quốc tế, tội phạm hình sự phải được xử lý theo quy trình chuẩn, nhằm bảo vệ mọi quyền pháp lý của con người, trong hệ thống đó, nhà tù phải do cơ quan dân sự quản lý điều hành có sự giám sát, kiểm tra của các cơ quan có thẩm quyền như Quốc hội và các tổ chức xã hội dân sự khác.

Thứ năm, tạo thuận lợi cho sự phối hợp chặt chẽ giữa thi hành án dân sự và thi hành án hình sự vốn đang bị chia cắt, đảm bảo sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng đối với toàn bộ tổ chức và hoạt động thi hành án.

Thứ sáu, nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự, an toàn xã hội của Ngành Công an ngày càng nặng nề, do quá trình phát triển cả xã hội nên nhiều loại tội phạm phức tạp xuất hiện, ngoài nhiệm vụ phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm, bảo đảm an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, thì việc quản lý và tổ chức thi hành án phạt tù đã làm cho nhiệm vụ của Ngành Công an quá tải. Việc chuyển hoạt động thi hành án hình sự sang Bộ Tư pháp (cơ quan thuộc Chính phủ) sẽ giúp cho Ngành Công an có điều kiện tập trung nguồn lực vào các nhiệm vụ trọng tâm, đặc trưng của lực lượng vũ trang như bảo đảm an ninh quốc gia, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Bên cạnh đó, còn là việc để củng cố và phát huy vai trò của các bộ, ngành thuộc Chính phủ trong việc quản lý trại giam, góp phần củng cố tổ chức và hoạt động của cả một hệ thống (trong quá trình tố tụng hình sự, quyền điều tra, quyền truy tố, quyền xét xử, quyền thi hành án sẽ trở thành các chức năng tách biệt, có hợp tác và kiểm soát lẫn nhau).

Thứ bảy, sẽ phù hợp nếu Bộ Tư pháp là cơ quan được giao chịu trách nhiệm quản lý thống nhất thi hành án trong giai đoạn hiện nay, bởi lẽ, Bộ Tư pháp là cơ quan được Chính phủ giao nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện chính sách pháp luật về hình sự và dân sự, thay mặt Chính phủ báo cáo trước Quốc hội về công tác thi hành án và đặc xá nên Bộ Tư pháp có vai trò quan trọng trong việc giúp Chính phủ dự thảo luật hình sự, theo dõi, tổng kết thi hành luật hình sự, đảm bảo tính hợp lý, thống nhất, gắn kết liên tục giữa các khâu, công đoạn của hoạt động quản lý nhà nước về thi hành án, từ xây dựng chính sách pháp luật đến tổ chức thi hành luật, tổng kết thực tiễn để tiếp tục hoàn thiện pháp luật, và trên thực tế hiện nay Bộ Tư pháp đang quản lý toàn bộ hoạt động thi hành án dân sự, nếu được giao quản lý thi hành án hình sự sẽ không có những trở ngại quá lớn.

Từ những phân tích nêu trên, chúng tôi cho rằng, việc đổi mới mô hình tổ chức thi hành án đáp ứng công cuộc đổi mới và xây dựng đất nước, tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm của nước ngoài phù hợp với hoàn cảnh nước ta và yêu cầu chủ động hội nhập quốc tế, đáp ứng được xu thế phát triển của xã hội trong tương lai là việc cấp thiết, cần phải được tiến hành sớm, mặt khác, hơn lúc nào hết, vấn đề bảo đảm quyền con người, quyền công dân chưa lúc nào được đề cao như ngày nay, khi Hiến pháp năm 2013 cũng khẳng định điều này, đồng thời đây cũng chính là đặc trưng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang dày công xây dựng.

Ở Việt Nam hiện nay, thi hành án hình sự do Bộ Công an quản lý, thi hành án dân sự do Bộ Tư pháp quản lý, Bộ Quốc phòng quản lý thi hành án trong quân đội. Để bắt kịp xu hướng thế giới, xây dựng một nền tư pháp minh bạch, đảm bảo quyền con người, quyền công dân, đảm bảo khách quan trong tổ chức thi hành án, thì việc thiết lập một cơ quan thi hành án tách bạch khỏi lực lượng vũ trang là cần thiết. Việt Nam có thể tham khảo mô hình một số nước trên thế giới, đó là mô hình tổ chức thi hành án hình sự được quản lý bởi Bộ Tư pháp, ngoài ra cũng cần tính đến việc xã hội hóa một số hoạt động trong thi hành hình phạt tù, nhằm làm giảm chi phí của Nhà nước và tránh quá tải trong các trại giam, trại tạm giam.

Đào Thị Hoài Thu
Văn phòng Ban Chỉ đạo Cải cách tư pháp Trung ương

Tài liệu tham khảo:

1. James F. Harrigan - Chuyên gia tư vấn pháp lý cho Cơ quan Thi hành án San Francisco, California, Hoa Kỳ (3/2005), Báo cáo và các đề xuất của STAR Việt Nam về dự thảo Bộ luật thi hành án của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Tài liệu của STAR Việt Nam, 17 Ngô Quyền, Hà Nội.

2. Jean - Francois Blarel, Đại sứ Cộng hòa Pháp tại Việt Nam (2006), Diễn văn khai mạc Hội thảo quốc tế “Các mô hình tổ chức thi hành án trên thế giới”, Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế các mô hình tổ chức thi hành án trên thế giới của Nhà pháp luật Việt - Pháp, Hà Nội, ngày 17 và 18/4/2006.

3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020,

Hà Nội.

4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp từ nay đến năm 2020, Hà Nội.

5. V.I Celiverstova - Về chuyển giao hệ thống thi hành án từ Bộ Nội vụ sang cho Bộ Tư pháp Liên bang Nga quản lý - Tài liệu hội thảo Quản lý thi hành án, các mô hình và kinh nghiệm quốc tế - Hà Nội, 5/2009.

6. Rob Allen – Các mô hình quản lý công tác thi hành án trên thế giới hiện nay và xu hướng phát triển trong thời gian tới - Tài liệu hội thảo Quản lý thi hành án, các mô hình và kinh nghiệm quốc tế - Hà Nội, 5/2009.

7. Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp (2003), Luận cứ khoa học và thực tiễn của việc đổi mới tổ chức và hoạt động thi hành án ở Việt Nam trong giai đoạn mới, Báo cáo phúc trình đề tài cấp nhà nước độc lập, Hà Nội.

8. Nhà xuất bản Tư pháp - Nghiên cứu tổ chức và hoạt động của hệ thống tư pháp của năm quốc gia Trung Quốc, In-đô-nê-si-a, Nhật Bản, Hàn Quốc và Nga, Hà Nội, 2011.

9. T.S Zhou Yong - Hệ thống quản lý thi hành án dân sự và hình sự ở Trung Quốc - Tham luận tại Hội thảo Quản lý thi hành án, các mô hình và kinh nghiệm quốc tế - Hà Nội, 5/2009.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.

Theo dõi chúng tôi trên: