Thứ ba 12/05/2026 21:50
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Mô hình tổ chức quản lý thi hành án ở một số nước - Kinh nghiệm và sự cần thiết đổi mới mô hình tổ chức thi hành án của Việt Nam trong giai đoạn tới

Thi hành án là lĩnh vực hoạt động nhạy cảm, phức tạp, liên quan đến quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân, quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, cá nhân và mọi tổ chức trong xã hội.

Vì thế, trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ta luôn đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng, hoàn thiện thể chế, ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật; không ngừng củng cố, hoàn thiện hệ thống tổ chức bộ máy, bổ sung biên chế, đẩy mạnh công tác bồi dưỡng, nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ, chiến sĩ, chấp hành viên làm công tác thi hành án, tăng cường cơ sở vật chất và các điều kiện bảo đảm khác cho lĩnh vực hoạt động này. Nhờ đó, công tác thi hành án ngày càng đi vào nề nếp và đã đạt được những thành quả nhất định, góp phần bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ quyền con người, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, của nhà nước và các tổ chức xã hội, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.

Nhằm tăng cường hơn nữa hiệu quả công tác thi hành án, đáp ứng hội nhập quốc tế, phù hợp với xu thế phát triển của thế giới, cần không ngừng đổi mới và hoàn thiện bộ máy tổ chức cơ quan thi hành án. Trong quá đổi mới, việc nghiên cứu kinh nghiệm tổ chức thi hành án của các nước trên thế giới đóng vai trò quan trọng, nhằm giúp cho Việt Nam tìm kiếm và lựa chọn một mô hình thích hợp. Phạm vi bài viết này nghiên cứu một số mô hình tổ chức thi hành án của một số nước trên thế giới, kinh nghiệm cho Việt Nam và sự cần thiết phải đổi mới mô hình tổ chức thi hành án trong thời gian tới.

1. Các mô hình quản lý và tổ chức thi hành án một số nước trên thế giới

Hiện nay, các nước trên thế giới phổ biến thiết kế tổ chức thi hành án theo 3 mô hình cơ bản sau đây: (i) Mô hình thi hành án do Bộ Tư pháp và Tòa án quản lý, (ii) Mô hình thi hành án do Tòa án quản lý, (iii) Mô hình thi hành án do nhiều cơ quan quản lý phụ thuộc vào tính chất, mức độ của bản án.

1.1. Đối với mô hình thi hành án do Bộ Tư pháp và Tòa án quản lý

Đây là mô hình mà việc tổ chức thi hành các bản án hình sự, liên quan đến hình phạt tù do Bộ Tư pháp quản lý và thực hiện, đối với thi hành các bản án liên quan đến tài sản và nhân thân phi tài sản (thi hành án dân sự) do Tòa án quản lý và các tổ chức Thừa phát lại thực hiện.

Điển hình cho mô hình này là Cộng hòa Pháp [2], qua nghiên cứu và khảo sát về cải cách tư pháp tại Cộng Hòa Pháp cho thấy: Đối với thi hành án hình sự, hệ thống các cơ quan quản lý trại giam bao gồm Cục Quản lý trại giam thuộc Bộ Tư pháp, là cơ quan quản lý cấp Trung ương đặt ở Paris. Đứng đầu Cục Quản lý trại giam là Cục trưởng do Tổng thống bổ nhiệm trên cơ sở đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp. Cục Quản lý trại giam gồm: Phòng Thanh tra trại giam, Phòng Truyền thông và Quan hệ quốc tế; bốn Ban gồm Ban Tham mưu, Ban Quản lý những người đang chấp hình phạt tù và các hình phạt khác, Ban Quản lý tổ chức và hoạt động của các cơ quan quản lý trại giam địa phương, Ban Quản lý nguồn nhân lực và các cơ quan hệ xã hội. Các cơ quan quản lý trại giam cấp địa phương bao gồm: 9 Phòng quản lý cấp vùng; 1 Phòng quản lý trại giam tại các tỉnh và vùng hải ngoại. Các phòng quản lý trại giam cấp vùng gồm: Các cơ sở giam giữ và các cơ quan tái hoà nhập xã hội và thử thách. Các cơ sở giam giữ gồm: Nhà trại giam, các cơ sở thi hành án phạt tù và các cơ sở giam giữ đặc biệt. Cán bộ trại giam bao gồm quản giáo là lực lượng chính, quản giáo không thuộc lực lượng vũ trang nhưng có hưởng cấp bậc giống như công chức trong lực lượng cảnh sát quốc gia, các viên chức khác tham gia công tác thi hành án hình sự còn có: Giám thị, nhân viên hỗ trợ xã hội và kỹ thuật viên, nhân viên hành chính.

Thi hành án về tài sản và nhân thân phi tài sản (thi hành án dân sự) do Toà án theo dõi, quản lý và tổ chức Thừa phát lại thực hiện. Theo Đạo luật năm 1991 về cải cách thủ tục thi hành án, thì tại Toà án sơ thẩm thẩm quyền rộng có các thẩm phán thi hành án, được chánh Toà chỉ định và ủy quyền phụ trách thi hành án. Thẩm phán thi hành án có trách nhiệm kiểm tra, giám sát tính hợp pháp, hợp lệ của quá trình thi hành án, cho phép tiến hành các biện pháp kê biên bảo tồn, quyết định thời hạn tạm đình chỉ, đình chỉ thi hành án, giải quyết các tranh chấp, khiếu nại phát sinh trong quá trình thi hành án. Tổ chức Thừa phát lại chịu trách nhiệm trực tiếp thi hành án dân sự.

Thừa phát lại được thiết lập ở 3 cấp: Hội đồng Thừa phát lại cấp tỉnh, cấp vùng và cấp quốc gia. Bộ trưởng Bộ Tư pháp có thẩm quyền bổ nhiệm Thừa phát lại. Các văn phòng, công ty Thừa phát lại được tổ chức và hoạt động theo mô hình của các công ty thương mại. Tư cách Thừa phát lại rất linh hoạt, họ vừa là viên chức tư pháp, viên chức công quyền, bổ trợ viên tư pháp vừa là một nghề tự do, có tư cách hoạt động độc lập. Kinh phí hoạt động của Thừa phát lại là thù lao do các bên yêu cầu thi hành án trả, ngoài ra, Thừa phát lại còn nộp thuế cho Nhà nước. Thừa phát lại là lực lượng duy nhất ở Pháp có quyền yêu cầu hỗ trợ của các lực lượng vũ trang công quyền trong trường hợp cần thiết. Thừa phát lại hành nghề theo quy chế tự do, độc lập với chính quyền và chỉ chịu trách nhiệm trước Toà án và viện công tố.

Bun-ga-ri và Cộng hòa Liên bang Nga cũng là những nước theo mô hình này. Tại Bun-ga-ri, việc quy định cơ quan quản lý và thực hiện thi hành án hình sự có nhiều sự thay đổi, trước năm 1887, thi hành án hình sự chưa được quy định rõ ràng nhưng được cơ quan cảnh sát thực hiện, năm 1891, Bộ Tư pháp được giao quản lý, sau đó năm 1968, Luật Thi hành án hình sự được ban hành, việc quản lý thi hành án hình sự được giao cho Bộ Nội vụ (tức Bộ Công an). Đến năm 1990, việc quản lý thi hành hình phạt được chuyển lại cho Bộ Tư pháp. Lý do Bun-ga-ri chuyển giao việc quản lý thi hành hình phạt từ Bộ Nội vụ sang Bộ Tư pháp xuất phát từ yêu cầu đảm bảo tính độc lập, khách quan trong thi hành hình phạt, bảo vệ quyền của các phạm nhân, bị can, bị cáo. Bởi một cơ quan vừa làm công tác điều tra lại vừa làm công tác thi hành án, quản lý các cơ sở tạm giữ sẽ không khách quan. Việc chuyển sang cho Bộ Tư pháp quản lý sẽ phù hợp với xu hướng chung của các nước trong Cộng đồng Châu Âu mà Bun-ga-ri là thành viên. Nhà tù, trại cải tạo và cơ sở tạm giam do Tổng cục Thi hành án hình phạt quản lý. Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định cơ cấu, tổ chức, chức năng nhiệm vụ của Tổng cục Thi hành án hình phạt.

Về thi hành án dân sự, trước đây, Bun-ga-ri áp dụng mô hình thi hành án nhà nước, do Tòa án quản lý, từ năm 2005, Bun-ga-ri bắt đầu chuyển sang mô hình Thừa phát lại. Khi thực hiện chuyển đổi, Nhà nước tạo điều kiện cho các chấp hành viên (cơ quan thi hành án nhà nước) chuyển sang nghề Thừa phát lại. Hiện nay, thi hành án dân sự tại Bun-ga-ri được thực hiện bởi cơ quan thi hành án nhà nước và Thừa phát lại tư nhân. Hầu hết, những Thừa phát lại đang hành nghề là những người đã là chấp hành viên của thi hành án nhà nước. Thừa phát lại có chức năng, quyền hạn như các cơ quan thi hành án nhà nước nhưng là đơn vị hạch toán, tạo công ăn việc làm cho xã hội và đóng thuế cho Nhà nước. Hiện nay, thi hành án nhà nước chủ yếu tổ chức thi hành các vụ việc cho nhà nước, chính điều này làm cho quá trình chuyển đổi diễn ra một cách tự nhiên.

Đối với Cộng hoà Liên bang Nga, thi hành án hình sự do Bộ Tư pháp quản lý [5,6]. Đây cũng là nước có sự chuyển đổi cơ quan thi hành án hình sự thành công. Năm 1998, Cộng hòa Liên bang Nga chuyển giao tất cả các cơ sở giam giữ và cơ quan quản lý, điều hành việc xử phạt những đối tượng bị kết án từ Bộ Nội vụ sang Bộ Tư pháp, lý do của việc chuyển đổi này là nhằm đáp ứng điều kiện để được kết nạp vào Hội đồng Châu Âu. Từ khi chuyển giao, trách nhiệm quản lý hệ thống nhà tù được quan tâm hơn, được sự ủng hộ mạnh mẽ về mặt chính trị. Việc chuyển giao được coi là cam kết ở mức độ cao hơn đối với các quyền con người. Tại Bộ Tư pháp đã thiết lập một cơ quan có nhiệm vụ đảm bảo việc thi hành luật và tôn trọng quyền con người.

Thi hành án dân sự tại Cộng hòa Liên bang Nga do Tòa án thực hiện, theo quy định của Bộ luật tố tụng của Liên bang thì chấp hành viên là người thi hành các quyết định, bản án của Toà án.

Ngoài ra, Hung-ga-ri cũng là một nước đã chuyển cơ quan thi hành án hình sự cho Bộ Tư pháp quản lý, cơ quan trực tiếp quản lý thi hành án hình sự là Cục trưởng Cục Quốc gia về quản lý trại giam. Bộ Tư pháp đảm bảo cho hoạt động của Cục Quốc gia về quản lý trại giam. Việc theo dõi thi hành án hình sự thuộc nhiệm vụ của thẩm phán, họ là cầu nối giữa Bộ Tư pháp và Cục Quốc gia về quản lý trại giam, thẩm phán theo dõi thi hành án hình sự không chỉ chịu trách nhiệm giám sát việc thi hành án phạt tù mà còn giám sát việc thi hành các biện pháp thử thách hoặc hình phạt lao động công ích. Người làm việc tại Cục Quốc gia về quản lý trại giam là công chức nhưng được hưởng quy chế riêng.

1.2. Đối với mô hình thi hành án do Tòa án quản lý

Đây là mô hình mà việc quản lý và tổ chức thi hành án hình sự do công tố viên chịu trách nhiệm còn thi hành án dân sự do Tòa án quản lý và thi hành.

Mô hình này được In-đô-nê-si-a áp dụng [8], thi hành án hình sự được thực hiện bởi công tố viên nhưng Tòa án là cơ quan chịu trách nhiệm quản lý, theo dõi. Trước khi bản án được thi hành, công tố viên được thư ký Toà án ký xác nhận bản án đã có hiệu lực pháp luật, công tố viên ra lệnh thi hành án gửi cho nhà tù, việc giám sát, theo dõi thi hành án hình sự do thẩm phán thực hiện.

Thi hành án dân sự được thực hiện bởi thẩm phán Tòa án, đối với bản án về bồi thường thiệt hại (trong vụ án hình sự) được tiến hành theo thủ tục thi hành dân sự, do Thừa phát lại thi hành. Người phải thi hành án dân sự không có hoặc không đủ tài sản để thi hành, thì theo yêu cầu của bên thắng kiện, chánh án Toà án cấp quận, huyện có thể trao lệnh cho Thừa phát lại bắt người phải thi hành án để tạm giam. Người bị bắt có thể bị giam giữ trong thời hạn 3 năm.

Ngoài ra, Hàn Quốc [8] cũng là quốc gia có tổ chức thi hành án gần giống như In-đô-nê-si-a, đó là vệc thi hành án hình sự do công tố viên thực hiện, tuy nhiên việc quản lý thuộc trách nhiệm của Bộ Tư pháp chứ không phải là Tòa án như In-đô-nê-si-a. Thi hành án dân sự do Tòa án quận chịu trách nhiệm thi hành, nhân viên thi hành án độc lập, không nằm trong Ngành Tư pháp, họ tuy không phải là công chức đúng nghĩa nhưng được đặt dưới sự giám sát của chánh án Tòa án quận có thẩm quyền. Chánh án Tòa án cấp quận bổ nhiệm nhân viên thi hành án từ những người đã phục vụ trong Ngành Tòa án, với tư cách là công chức trong một thời gian nhất định tại các Tòa án hoặc các văn phòng công tố.

1.3. Đối với mô hình thi hành án do nhiều cơ quan thực hiện phụ thuộc vào tính chất, mức độ của bản án

Đây là mô hình thi hành án do nhiều cơ quan như Tòa án, Bộ Tư pháp, Bộ Công an quản lý và thi hành, việc phân định cơ quan nào thi hành bản án nào phụ thuộc hoàn toàn vào tính chất vụ án và bản án do Tòa án đã tuyên, hoặc phụ thuộc vào thời gian người phải thi hành án đã thi hành được thời gian bao lâu.

Mô hình này được Cộng hòa nhân dân Trung Hoa áp dụng [8,9]. Đối với các bản án hình sự, được phân chia thẩm quyền thi hành cho các cơ quan như Toà án, Bộ Tư pháp và Bộ Công an. Trước năm 1983, nhà tù đặt dưới sự quản lý của Bộ Công an, tuy nhiên từ năm 1983 đến nay, nhà tù được chuyển sang Bộ Tư pháp quản lý. Tùy thuộc vào loại hình phạt mà cơ quan quản lý thi hành án sẽ là Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an hay Bộ Tư pháp, cụ thể:

- Án tử hình nhưng cho thi hành ngay, án phạt tước các quyền về chính trị, tịch thu tài sản do Tòa án thi hành (cơ quan quản lý là Tòa án nhân dân tối cao).

- Án cải tạo không giam giữ, án treo, án tạm thời thi hành bên ngoài nhà tù, phóng thích trước thời hạn do cơ quan công an thi hành (cơ quan quản lý là Bộ Công an).

- Tạm giam hình sự, tù có thời hạn với thời gian còn lại dưới 1 năm, áp dụng cùng cải tạo không giam giữ, tạm giam trước khi bị kết án do nhà tạm giam thi hành (cơ quan quản lý là Bộ Công an).

- Tù có thời hạn mà thời gian còn lại trên 1 năm, tù chung thân, tử hình nhưng cho tạm dừng thi hành án, tước quyền chính trị nhưng áp dụng cùng với hình phạt tù do Nhà tù thực hiện (cơ quan quản lý là Bộ Tư pháp). Ở Trung Quốc, hình phạt tử hình chỉ được áp dụng đối với các tội phạm thực hiện hành vi vô nhân tính. Tất cả các bản án tử hình đều phải trình lên Tòa án nhân dân tối cao phê chuẩn. Nếu việc thi hành án tử hình là không cần thiết thì có thể được gia hạn thực hiện trong 2 năm, điều này phải được tuyên ngay trong bản án tuyên tử hình (những bản án náy có thể do Tòa án nhân dân tối cao tuyên hoặc phê chuẩn), trường hợp thi hành trong thời gian gia hạn này sẽ do các nhà tù thi hành. Nếu người bị tuyên án tử hình có gia hạn thi hành không thực hiện hành vi phạm tội cố ý trong 2 năm đó thì hình phạt đối với người này sẽ được chuyển đổi thành tù chung thân sau khi hết 2 năm; nếu người đó lập thành tích được khen thì hình phạt được chuyển đổi thành tù có thời hạn với thời hạn cụ thể từ tối thiểu 15 năm tới tối đa 20 năm tù, kể từ khi kết thúc 2 năm gia hạn án tử hình. Tuy nhiên, trong thời hạn 2 năm gia hạn này, người bị kết án có hành vi cố ý phạm tội, thì hành phạt tử hình sẽ được thi hành ngay sau khi có phê chuẩn của Tòa án nhân dân tối cao.

Đối với thi hành án dân sự do Tòa án chịu trách nhiệm quản lý và thi hành, không có sự tách bạch giữa cơ quan xét xử và cơ quan thi hành án.

Qua nghiên cứu các mô hình tổ chức thi hành án của các nước trên đây, có thể thấy, mỗi nước có cách thiết lập tổ chức thi hành án riêng, không giống nhau, có nước, hệ thống cơ quan thi hành án nằm trong Bộ Tư pháp, do Bộ Tư pháp quản lý, có nước do Tòa án quản lý, có nước do Bộ Công an quản lý, cũng có nước, việc thi hành án hình sự được giao cho nhiều cơ quan thực hiện, trong đó có cả cơ quan thuộc lực lượng vũ trang tùy thuộc vào hình phạt mà Tòa án đã tuyên. Mô hình thi hành án dân sự các nước trên thế giới cũng rất đa dạng, tùy theo đặc điểm truyền thống, môi trường pháp lý, điều kiện kinh tế - xã hội ở từng nước, mà tổ chức thi hành án dân sự có thể được thể hiện dưới hình thức là một tổ chức công, bán công hoặc do tư nhân đảm nhiệm. Cán bộ thi hành án là chấp hành viên, Thừa phát lại đều do cơ quan nhà nước có thẩm quyền bổ nhiệm và giám sát hoạt động. Tuy nhiên, nhìn chung, xu hướng trên thế giới, việc thi hành hình phạt đã và đang tách ra khỏi lực lượng vũ trang nhằm đảm bảo quyền con người và đảm bảo khách quan trong thi hành án, thi hành án dân sự được xã hội hóa mạnh, nhiều nước việc thi hành án dân sự hoàn toàn do tổ chức thừa phát lại đảm nhiệm.

2. Những kinh nghiệm cho Việt Nam và sự cần thiết đổi mới mô hình tổ chức thi hành án trong giai đoạn tới

Xuất phát từ yêu cầu đảm bảo tính độc lập, khách quan trong thi hành hình phạt, bảo vệ quyền của các phạm nhân, bị can, bị cáo thì việc quản lý thi hành án hình sự một số nước đã tách ra khỏi lực lượng vũ trang và chuyển cho một cơ quan dân sự thực hiện, đây là kinh nghiệm mà Việt Nam có thể tham khảo, ngoài ra, nó cũng phù hợp với định hướng của Đảng thể hiện trong Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị đó là việc “chuẩn bị các điều kiện về cán bộ, cơ sở vật chất để thực hiện việc chuyển giao tổ chức và công tác thi hành án cho Bộ Tư pháp”. Trong xu hướng hội nhập quốc tế, xây dựng Nhà nước pháp quyền, và nhất là điều kiện kinh tế, xã hội của Việt Nam hiện nay, việc nghiên cứu, đổi mới mô hình tổ chức thi hành án theo hướng tập trung, thống nhất là cần thiết bởi những lý do sau đây:

Thứ nhất, việc thống nhất quản lý công tác thi hành án sẽ bảo đảm cho hoạt động thi hành án không bị phân tán, tạo điều kiện trong việc xác định các giải pháp tổng thể để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án, huy động và phát huy các nguồn lực sẵn có đối với hoạt động thi hành án, phối hợp các hoạt động nhằm đảm bảo hiệu lực của các bản án trên thực tế. Mặt khác, sẽ thuận lợi trong việc đầu tư về con người, cơ sở vật chất, trang bị phương tiện kỹ thuật hiện đại, đảm bảo sự chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát chặt chẽ, điều hành nhanh nhạy, kịp thời phát hiện và tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, tránh sự can thiệp của các cơ quan khác vào hoạt động thi hành án, làm cho hoạt động thi hành án hiệu lực, hiệu quả.

Thứ hai, việc dân sự hóa hoạt động thi hành án hình sự là phù hợp với xu hướng chung trong cải cách giam giữ, giáo dục, cải tạo phạm nhân của quốc tế và khu vực, bảo đảm cho việc thực hiện quyền con người, nhiều nước trên thế giới đã thực hiện chuyển đổi theo nguyên tắc bảo đảm sự độc lập, tách bạch về tổ chức, hoạt động giữa các cơ quan tiến hành tố tụng (điều tra, truy tố) với các cơ quan giam giữ (nhất là tạm giam, tạm giữ bị can, bị cáo trong các giai đoạn trước xét xử), tạo khả năng lớn cho việc dân chủ hóa, xã hội hóa và tăng cường sự giám sát xã hội đối với quá trình giam giữ, giáo dục, cải tạo và tái hòa nhập cộng đồng cho phạm nhân, bảo đảm tốt hơn các quyền con người theo đúng mục tiêu của Nghị quyết số 49-NQ/TW đề ra.

Thứ ba, khi chuyển thi hành án hình sự ra khỏi lực lượng vũ trang, quyền con người sẽ được đảm bảo theo nguyên tắc chung của công pháp quốc tế. Trên thế giới, hệ thống nhà tù dân sự luôn được đặt ở vị trí trung tâm trong khuôn khổ quốc tế về quyền con người, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 có quy định: “Hệ thống cơ sở cải tạo bao hàm cả việc đối xử với tù nhân với mục đích căn bản là cải tạo và phục hồi địa vị xã hội cho họ”. Quy chế nhà tù Châu Âu năm 2006 quy định: “Nhà tù là trách nhiệm của các cơ quan công quyền độc lập với các cơ quan quân đội, cảnh sát hay điều tra hình sự”. Mục tiêu của Công ước và Quy chế là coi tội phạm hình sự phải được xử lý theo quy chuẩn nhằm bảo vệ mọi quyền pháp lý của con người. Nhà tù phải do cơ quan dân sự quản lý, điều hành; phải bảo lưu tất cả các quyền cho những đối tượng bị giam giữ, chứ không nhất thiết tước đoạt các quyền đó của họ chỉ vì họ bị phạt tù và ngay trong thời gian ở tù. Trong Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu về đối xử với tù nhân năm 1955 có quy định: trừ khi có lý do chính đáng để cách ly một người hay để duy trì kỷ luật, hệ thống nhà tù phải không được làm trầm trọng thêm nỗi đau khổ vốn có trong trường hợp như vậy. Mục đích và lý do chính của việc kết án tù hay của một biện pháp tước bỏ tự do tương tự là để bảo vệ xã hội chống lại tội phạm.

Thứ tư, góp phần hạn chế đến mức thấp nhất việc dùng bạo lực đối với người phạm tội đang bị giam giữ. Quy chế nhà tù Châu Âu năm 2006 đề cập đến vấn đề tách biệt cơ quan thi hành án phạt tù và cơ quan giam giữ nghi phạm, bị can, bị cáo trong quá trình điều tra. Phần chú thích của Quy chế này ghi: “Điều quan trọng là có sự tách bạch rõ ràng về mặt tổ chức giữa cảnh sát và quản lý nhà tù. Ở hầu hết các nước Châu Âu, trách nhiệm quản lý cảnh sát thuộc về Bộ Nội vụ, còn trách nhiệm quản lý nhà tù thuộc về Bộ Tư pháp. Lập luận về cơ quan điều tra và cơ quan thi hành án phạt tù, cơ quan giam giữ nghi phạm, bị can, bị cáo phải tách biệt với nhau xuất phát từ sự lo ngại về nguy cơ cán bộ điều tra sử dụng việc giam giữ nghi phạm làm công cụ điều tra, hoặc để ép buộc người đó phải nhận tội, ngoài ra còn để tránh việc dùng bạo lực đối với người đang chấp hành hình phạt trong trại giam. Những yêu cầu này phù hợp với quy tắc quốc tế, tội phạm hình sự phải được xử lý theo quy trình chuẩn, nhằm bảo vệ mọi quyền pháp lý của con người, trong hệ thống đó, nhà tù phải do cơ quan dân sự quản lý điều hành có sự giám sát, kiểm tra của các cơ quan có thẩm quyền như Quốc hội và các tổ chức xã hội dân sự khác.

Thứ năm, tạo thuận lợi cho sự phối hợp chặt chẽ giữa thi hành án dân sự và thi hành án hình sự vốn đang bị chia cắt, đảm bảo sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng đối với toàn bộ tổ chức và hoạt động thi hành án.

Thứ sáu, nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự, an toàn xã hội của Ngành Công an ngày càng nặng nề, do quá trình phát triển cả xã hội nên nhiều loại tội phạm phức tạp xuất hiện, ngoài nhiệm vụ phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm, bảo đảm an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, thì việc quản lý và tổ chức thi hành án phạt tù đã làm cho nhiệm vụ của Ngành Công an quá tải. Việc chuyển hoạt động thi hành án hình sự sang Bộ Tư pháp (cơ quan thuộc Chính phủ) sẽ giúp cho Ngành Công an có điều kiện tập trung nguồn lực vào các nhiệm vụ trọng tâm, đặc trưng của lực lượng vũ trang như bảo đảm an ninh quốc gia, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Bên cạnh đó, còn là việc để củng cố và phát huy vai trò của các bộ, ngành thuộc Chính phủ trong việc quản lý trại giam, góp phần củng cố tổ chức và hoạt động của cả một hệ thống (trong quá trình tố tụng hình sự, quyền điều tra, quyền truy tố, quyền xét xử, quyền thi hành án sẽ trở thành các chức năng tách biệt, có hợp tác và kiểm soát lẫn nhau).

Thứ bảy, sẽ phù hợp nếu Bộ Tư pháp là cơ quan được giao chịu trách nhiệm quản lý thống nhất thi hành án trong giai đoạn hiện nay, bởi lẽ, Bộ Tư pháp là cơ quan được Chính phủ giao nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện chính sách pháp luật về hình sự và dân sự, thay mặt Chính phủ báo cáo trước Quốc hội về công tác thi hành án và đặc xá nên Bộ Tư pháp có vai trò quan trọng trong việc giúp Chính phủ dự thảo luật hình sự, theo dõi, tổng kết thi hành luật hình sự, đảm bảo tính hợp lý, thống nhất, gắn kết liên tục giữa các khâu, công đoạn của hoạt động quản lý nhà nước về thi hành án, từ xây dựng chính sách pháp luật đến tổ chức thi hành luật, tổng kết thực tiễn để tiếp tục hoàn thiện pháp luật, và trên thực tế hiện nay Bộ Tư pháp đang quản lý toàn bộ hoạt động thi hành án dân sự, nếu được giao quản lý thi hành án hình sự sẽ không có những trở ngại quá lớn.

Từ những phân tích nêu trên, chúng tôi cho rằng, việc đổi mới mô hình tổ chức thi hành án đáp ứng công cuộc đổi mới và xây dựng đất nước, tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm của nước ngoài phù hợp với hoàn cảnh nước ta và yêu cầu chủ động hội nhập quốc tế, đáp ứng được xu thế phát triển của xã hội trong tương lai là việc cấp thiết, cần phải được tiến hành sớm, mặt khác, hơn lúc nào hết, vấn đề bảo đảm quyền con người, quyền công dân chưa lúc nào được đề cao như ngày nay, khi Hiến pháp năm 2013 cũng khẳng định điều này, đồng thời đây cũng chính là đặc trưng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang dày công xây dựng.

Ở Việt Nam hiện nay, thi hành án hình sự do Bộ Công an quản lý, thi hành án dân sự do Bộ Tư pháp quản lý, Bộ Quốc phòng quản lý thi hành án trong quân đội. Để bắt kịp xu hướng thế giới, xây dựng một nền tư pháp minh bạch, đảm bảo quyền con người, quyền công dân, đảm bảo khách quan trong tổ chức thi hành án, thì việc thiết lập một cơ quan thi hành án tách bạch khỏi lực lượng vũ trang là cần thiết. Việt Nam có thể tham khảo mô hình một số nước trên thế giới, đó là mô hình tổ chức thi hành án hình sự được quản lý bởi Bộ Tư pháp, ngoài ra cũng cần tính đến việc xã hội hóa một số hoạt động trong thi hành hình phạt tù, nhằm làm giảm chi phí của Nhà nước và tránh quá tải trong các trại giam, trại tạm giam.

Đào Thị Hoài Thu
Văn phòng Ban Chỉ đạo Cải cách tư pháp Trung ương

Tài liệu tham khảo:

1. James F. Harrigan - Chuyên gia tư vấn pháp lý cho Cơ quan Thi hành án San Francisco, California, Hoa Kỳ (3/2005), Báo cáo và các đề xuất của STAR Việt Nam về dự thảo Bộ luật thi hành án của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Tài liệu của STAR Việt Nam, 17 Ngô Quyền, Hà Nội.

2. Jean - Francois Blarel, Đại sứ Cộng hòa Pháp tại Việt Nam (2006), Diễn văn khai mạc Hội thảo quốc tế “Các mô hình tổ chức thi hành án trên thế giới”, Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế các mô hình tổ chức thi hành án trên thế giới của Nhà pháp luật Việt - Pháp, Hà Nội, ngày 17 và 18/4/2006.

3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020,

Hà Nội.

4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp từ nay đến năm 2020, Hà Nội.

5. V.I Celiverstova - Về chuyển giao hệ thống thi hành án từ Bộ Nội vụ sang cho Bộ Tư pháp Liên bang Nga quản lý - Tài liệu hội thảo Quản lý thi hành án, các mô hình và kinh nghiệm quốc tế - Hà Nội, 5/2009.

6. Rob Allen – Các mô hình quản lý công tác thi hành án trên thế giới hiện nay và xu hướng phát triển trong thời gian tới - Tài liệu hội thảo Quản lý thi hành án, các mô hình và kinh nghiệm quốc tế - Hà Nội, 5/2009.

7. Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp (2003), Luận cứ khoa học và thực tiễn của việc đổi mới tổ chức và hoạt động thi hành án ở Việt Nam trong giai đoạn mới, Báo cáo phúc trình đề tài cấp nhà nước độc lập, Hà Nội.

8. Nhà xuất bản Tư pháp - Nghiên cứu tổ chức và hoạt động của hệ thống tư pháp của năm quốc gia Trung Quốc, In-đô-nê-si-a, Nhật Bản, Hàn Quốc và Nga, Hà Nội, 2011.

9. T.S Zhou Yong - Hệ thống quản lý thi hành án dân sự và hình sự ở Trung Quốc - Tham luận tại Hội thảo Quản lý thi hành án, các mô hình và kinh nghiệm quốc tế - Hà Nội, 5/2009.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.

Theo dõi chúng tôi trên: