Thứ hai 21/09/2026 20:21
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Mối quan hệ pháp luật và đạo đức trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình - Nghiên cứu so sánh Việt Nam và Hàn Quốc

Quan hệ hôn nhân và gia đình là quan hệ nền tảng và quan trọng nhất trong các mối quan hệ xã hội. Bởi đó là mối quan hệ đầu tiên, gần gũi nhất của mỗi con người và là cơ sở để xã hội hình thành và phát triển. Thông qua hôn nhân và gia đình, con người thực hiện các chức năng duy trì nòi giống, giáo dục và hình thành nhân cách. Do đó, việc phát triển các mối quan hệ hôn nhân và gia đình luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu ở mỗi quốc gia.

Theo định nghĩa trong Từ điển tiếng Việt do Giáo sư Hoàng Phê làm chủ biên xuất bản năm 1992 thì: “Hôn nhân là việc nam nữ chính thức lấy nhau làm vợ chồng”. Xét trên quan niệm xã hội, “hôn nhân” có hai nghĩa, nghĩa thứ nhất, là chỉ một cặp nam nữ sống với nhau, sinh hoạt với nhau và xây dựng gia đình trong một cái khung của hôn thú; nghĩa thứ hai, là cá nhân một nam, một nữ chính thức lấy nhau làm vợ chồng dưới sự công nhận của pháp luật.

Về mặt bản chất, hôn nhân là một động thái mang tính nhân loại, chỉ có trong đời sống xã hội của loài người và chỉ xuất hiện ở một giai đoạn phát triển lịch sử nhất định. Đầu tiên, hôn nhân là một động thái xã hội hóa hoạt động ghép đôi của động vật hoang dã. Trải qua tiến trình của lịch sử, những tiến bộ của cấu trúc xã hội, quan niệm xã hội, dần dần hình thành những quan điểm chuẩn mực đạo đức, những quy định, những lễ nghi… và cuối cùng, nó được định hình trong các chế định, các quy ước tồn tại như những văn bản dưới luật và đỉnh cao của nó là sự quy tụ vào những điều khoản, hệ thống pháp luật của một quốc gia. Thông qua hôn nhân, gia đình được hình thành và trở thành một thực thể xã hội được công nhận, được Nhà nước bảo hộ, trước hết là trên nền tảng của hệ thống quan niệm đạo đức xã hội, phong tục, tập quán, văn hóa của cộng đồng dân tộc và cuối cùng, quan trọng nhất chính là hệ thống pháp luật của quốc gia.

Hiện nay, pháp luật là công cụ điều chỉnh xã hội rất quan trọng. Tuy nhiên, nếu chỉ sử dụng các quy định của pháp luật để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội sẽ không đạt được hiệu quả cao nhất do có những vấn đề pháp luật không điều chỉnh tới hoặc không thể điều chỉnh. Đặc biệt là những mối quan hệ được thiết lập dựa trên cơ sở tình cảm trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình. Trong khi đó, đạo đức có thể chi phối và điều chỉnh tất cả các mối quan hệ xã hội. Do vậy, việc kết hợp pháp luật và đạo đức trong điều chỉnh mối quan hệ hôn nhân và gia đình sẽ hỗ trợ và tăng cường thêm hiệu quả của pháp luật.

1. Mối quan hệ pháp luật và đạo đức trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình

Pháp luật xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử loài người, tuy nhiên qua các thời kỳ lịch sử, do điều kiện kinh tế, năng lực nhận thức của con người... khác nhau nên pháp luật và vai trò của pháp luật trong từng thời kỳ cũng khác nhau. Ngày nay, pháp luật có vai trò rất quan trọng và không thể thiếu trong việc điều chỉnh các mối quan hệ xã hội.

Theo lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, pháp luật là một hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội theo định hướng, mục tiêu cụ thể. Trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, pháp luật đi sâu điều chỉnh hai nhóm quan hệ là quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản. Quan hệ nhân thân là những quan hệ xã hội phát sinh giữa các thành viên trong gia đình về những lợi ích nhân thân như quan hệ giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con cái...; Quan hệ tài sản là những quan hệ xã hội phát sinh giữa các thành viên trong gia đình về lợi ích tài sản như quan hệ cấp dưỡng giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con cái, giữa các thành viên khác trong gia đình, quan hệ sở hữu chung của vợ chồng...

Cùng với pháp luật, đạo đức cũng được hình thành để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, trong đó các quan hệ hôn nhân và gia đình. Theo định nghĩa trong Từ điển Hán - Việt của Giáo sư Đào Duy Anh, thì “đạo” là nguyên lý tự nhiên, được vào lòng người là “đức”[1]. Như vậy, hiểu theo nghĩa đầu tiên của định nghĩa thì đạo đức chính là nguyên lý của tự nhiên và được lòng của con người, công chúng. Nó bao hàm theo hai nghĩa, nghĩa thứ nhất là một quy luật mang tính tự nhiên và nghĩa thứ hai là một sự thu nhận mang tính nhân sinh của con người.

Đạo đức có vai trò vô cùng quan trọng trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình. Bởi lẽ, các mối quan hệ hôn nhân và gia đình chủ yếu được thiết lập dựa trên cơ sở tình cảm và huyết thống, đó là lĩnh vực điều chỉnh sở trường của đạo đức. Hơn nữa, đạo đức gia đình hình thành nên các khôn mẫu, chuẩn mực hành vi ứng xử của các thành viên trong gia đình, đảm bảo trật tự và sự ổn định của các thành viên trong gia đình. Trong khi đó, pháp luật lại không thể điều chỉnh các mối quan hệ được thiết lập trên cơ sở tình cảm và không điều chỉnh những hành vi ứng xử cụ thể của các thành viên trong gia đình. Có thể thấy, sự suy thoái đạo đức gia đình là một trong những nguyên nhân chính khiến tình hình vi phạm pháp luật gia tăng và kéo theo đó là sự bất ổn của xã hội.

Về sự tương tác giữa pháp luật và đạo đức trong quá trình điều chỉnh các mối quan hệ hôn nhân và gia đình. Cũng như các mối quan hệ khác, các quan hệ hôn nhân và gia đình được điều chỉnh bởi nhiều công cụ khác nhau như pháp luật, đạo đức, phong tục, tập quán, tôn giáo… Các công cụ này có mối quan hệ tác động qua lại với nhau trong quá trình điều chỉnh các quan hệ xã hội. Trong đó, pháp luật và đạo đức nổi lên là hai công cụ quan trọng nhất và có mối quan hệ mật thiết, hỗ trợ nhau trong quá trình điều chỉnh các quan hệ xã hội.

Thứ nhất, trong mối quan hệ này, đạo đức là cơ sở của pháp luật.

Ngay khi chưa có pháp luật, những chuẩn mực đạo đức đã được hình thành để điều chỉnh các mối quan hệ hôn nhân và gia đình như một cách tất yếu, giải quyết những yêu cầu của đời sống xã hội và được tất cả xã hội thừa nhận, đảm bảo lợi ích chung của cộng đồng. Nhà nước thừa nhận các giá trị đạo đức và cụ thể hóa thành các quy định của pháp luật với tính chất bắt buộc chung cho tất cả mọi người. Có thể nói, bất kỳ một hệ thống pháp luật nào cũng được xây dựng, tồn tại và phát triển dựa trên một nền tảng đạo đức nhất định. Bởi lẽ, pháp luật được xây dựng trên nền tảng của đạo đức là pháp luật phù hợp với đời sống thực tiễn, được xã hội chấp nhận và đảm bảo lợi ích chung của mọi người, phù hợp với sự phát triển xã hội.

Thứ hai, đạo đức là động cơ tốt để thúc đẩy thực hiện pháp luật.

Pháp luật hiện nay được phủ sóng rộng rãi và có nhiều ưu điểm trong việc điều chỉnh các mối quan hệ xã hội với những quy định mang tính xử sự chung, tính cưỡng chế của Nhà nước. Tuy nhiên, việc thực hiện pháp luật còn phụ thuộc vào ý thức thực hiện pháp luật của người dân. Qua các chuẩn mực đạo đức, cá nhân sẽ nâng cao ý thức, tinh thần tự giác và trách nhiệm của bản thân đối với mỗi hành vi.

Luật Hôn nhân và gia đình được xây dựng dựa trên nền tảng là những chuẩn mực đạo đức sẽ giúp người dân dễ dàng thực hiện các quy định của pháp luật dù có thể không hiểu biết đầy đủ các quy định, bởi trên thực tế, mọi người đã quá quen thuộc với những chuẩn mực đạo đức gia đình và luôn thực hiện các chuẩn mực hành vi đó mỗi ngày. Những chuẩn mực đạo đức gia đình được các thành viên trong gia đình, xã hội coi trọng thì việc thực hiện các quy định của pháp luật sẽ nghiêm chỉnh hơn. Ngược lại, khi việc giáo dục đạo đức gia đình không được quan tâm và xuống cấp sẽ dẫn đến ý thức đạo đức không cao và việc thực hiện pháp luật sẽ không nghiêm chỉnh, không chỉ là pháp luật hôn nhân và gia đình mà trong cả các lĩnh vực pháp luật khác. Đặc biệt, khi đạo đức gia đình trở thành phong tục, tập quán của một cộng đồng, quốc gia và dân tộc, nó sẽ ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc thực hiện pháp luật. Nếu pháp luật phù hợp với các chuẩn mực đạo đức, nó sẽ thúc đẩy mạnh mẽ việc thực hiện pháp luật và ngược lại, nó sẽ cản trở việc thực hiện pháp luật.

Thứ ba, pháp luật phản ánh những quan điểm, quan niệm, tư tưởng, chuẩn mực đạo đức

Ngay từ khi gia đình được hình thành, những mối quan hệ trong gia đình đã được điều chỉnh bởi các chuẩn mực đạo đức. Vì vậy, mặc dù không có pháp luật, gia đình thời kỳ này vẫn giữ được sự ổn định. Trong xã hội có giai cấp, giai cấp thống trị luôn tìm mọi cách để duy trì sự thống trị của giai cấp mình. Thông qua đạo đức, giai cấp thống trị truyền bá, áp đặt hệ tư tưởng của giai cấp mình buộc các giai cấp khác phải phục tùng, tuân theo, thậm chí là nghĩ theo những tư tưởng đó và cho đó là tất yếu, là khuôn mẫu, là nguyên lý tự nhiên phải thế.

Để đảm bảo cho những chuẩn mực đạo đức, hệ tư tưởng của mình có thể đi vào thực tế, giai cấp thống trị thông qua quyền lực của Nhà nước để cụ thể hóa các quan điểm đạo đức thành pháp luật, sử dụng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước để pháp luật được thực hiện. Có thể thấy, pháp luật của bất kỳ quốc gia nào, ở thời kỳ nào cũng được xây dựng dựa trên một nền tảng đạo đức nhất định. Thực tế cho thấy, pháp luật phong kiến của Việt Nam, Hàn Quốc và các nước Á Đông thể hiện quan điểm đạo đức của Nho giáo, Phật giáo; pháp luật phong kiến của các nước Tây Âu thể hiện quan điểm đạo đức của Thiên chúa giáo; pháp luật của các quốc gia theo Đạo hồi là quan điểm đạo đức Hồi giáo;... Do đó, pháp luật hôn nhân và gia đình của một quốc gia phản ánh tư tưởng quan điểm, chuẩn mực đạo đức hôn nhân và gia đình của quốc gia đó.

Thứ tư, pháp luật giữ gìn và phát huy những giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp; tiếp nhận, hình thành những chuẩn mực đạo đức mới tiến bộ; đồng thời loại bỏ những chuẩn mực đạo đức lạc hậu, chuẩn mực đạo đức không chính thống, không phù hợp

Hiện nay, khi hôn nhân và gia đình đã mở rộng thành một vấn đề mang tính toàn cầu, các quyền con người, quyền công dân được đề cao thì hầu hết các quốc gia đều hướng đến xây dựng một chế độ hôn nhân và gia đình tiến bộ, bình đẳng, hạnh phúc. Pháp luật ghi nhận và phát huy những chuẩn mực đạo đức truyền thống tốt đẹp của quốc gia, những chuẩn mực đạo đức mới tiến bộ phù hợp với sự phát triển của xã hội, đồng thời loại bỏ những chuẩn mực đạo đức lạc hậu ảnh hưởng đến các quyền tự do, bình đẳng của con người và những chuẩn mực đạo đức không chính thống và không phù hợp.

Việt Nam và Hàn Quốc đều là những quốc gia phương Đông có nhiều nét văn hóa tương đồng. Quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế là một thách thức lớn cho các chuẩn mực đạo đức truyền thống tốt đẹp khi có sự giao thoa về văn hóa giữa các quốc gia, sự du nhập của các văn hóa ngoại lai. Do đó, pháp luật có vai trò vô cùng quan trọng trong việc đảm bảo cho các giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp được phát huy, tiếp nhận có chọn lọc những chuẩn mực đạo đức tiến bộ, phù hợp với sự phát triển, đồng thời ngăn chặn, loại bỏ những chuẩn mực đạo đức lạc hậu, không phù hợp.

Xã hội ngày càng phát triển, pháp luật càng phổ biến và có một vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh các mối quan hệ xã hội. Dù vậy, pháp luật không phải công cụ vạn năng mà nó cũng có những hạn chế. Việc quá đề cao hay xem nhẹ pháp luật đều có thể ảnh hưởng tiêu cực đến việc quản lý xã hội, đồng thời không phát huy được tối đa vai trò, giá trị của pháp luật. Cùng với pháp luật, đạo đức cũng có những vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh các mối quan hệ xã hội và có thể hỗ trợ, bổ sung cho những hạn chế của pháp luật. Do đó, trong quá trình điều chỉnh các mối quan hệ hôn nhân và gia đình cần phải có sự kết hợp chặt chẽ và linh hoạt mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức.

2. Mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình ở Việt Nam và Hàn Quốc hiện nay

Ở Việt Nam, pháp luật hôn nhân và gia đình của Việt Nam đã ghi nhận những chuẩn mực đạo đức gia đình truyền thống và các chuẩn mực đạo đức tiến bộ nhằm xây dựng chế hộ hôn nhân và gia đình tiến bộ. Hiện nay, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã ghi nhận rất nhiều những chuẩn mực đạo đức truyền thống tốt đẹp, những chuẩn mực đạo đức tiến bộ phù hợp với các quyền con người. Tương tự, Luật Gia đình Hàn Quốc cũng ghi nhận những chuẩn mực đạo đức tiến bộ, phù hợp. Qua nghiên cứu các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam và các quy định của Luật Gia đình Hàn Quốc có thể nhận thấy những điểm tương đồng trong việc ghi nhận những chuẩn mực đạo đức.

Một là, pháp luật ghi nhận chế độ hôn nhân tự do, tự nguyện, một vợ một chồng. Đây là chế độ hôn nhân tiến bộ trên thế giới, đảm bảo các quyền tự do, bình đẳng của cả nam và nữ. Tất cả mọi người đủ các điều kiện kết hôn theo quy định đều có quyền được tự do, tự nguyện lựa chọn bạn đời, bất kỳ ai cũng không được ngăn cấm, cản trở việc kết hôn.

Hai là, trong quan hệ vợ chồng, pháp luật ghi nhận những chuẩn mực đạo đức tiến bộ như vợ, chồng bình đẳng với nhau về mọi mặt. Với sự ghi nhận này, vai trò, địa vị của người phụ nữ đã được nâng cao; họ có các quyền và nghĩa vụ ngang bằng với người đàn ông. Đây là xu thế phát triển chung của thế giới về việc đảm bảo các quyền con người trong đó có quyền bình đẳng giới. Bên cạnh đó, pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam cũng ghi nhận và phát huy chuẩn mực đạo đức truyền thống tốt đẹp trong quan hệ vợ chồng, đó là vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.

Ba là, trong quan hệ giữa cha mẹ với con cái, pháp luật cũng ghi nhận những chuẩn mực đạo đức tốt đẹp đó là cha mẹ thương yêu, quan tâm, chăm sóc, dạy dỗ con cái; con cái phải hiếu kính, phụng dưỡng ông bà, cha mẹ. Đây là những chuẩn mực đạo đức truyền thống tốt đẹp trong gia đình Việt Nam và Hàn Quốc do ảnh hưởng của những chuẩn mực đạo đức Nho giáo.

Bốn là, pháp luật cũng ghi nhận những chuẩn mực đạo đức trong quan hệ giữa các thành viên khác trong gia đình, đó là sự yêu thương, chăm sóc, giúp đỡ nhau… nó thể hiện những đạo đức tốt đẹp trong tình cảm gia đình.

Năm là, pháp luật về hôn nhân và gia đình cũng như các chính sách của Việt Nam hay Hàn Quốc đều hướng tới bảo vệ, giúp đỡ các thành viên là phụ nữ, người già, trẻ em, những người mất năng lực hành vi. Đó là những người cần được chăm sóc, giúp đỡ và bảo vệ. Nó thể hiện truyền thống, những chuẩn mực đạo đức tốt đẹp, nhân văn của Việt Nam và Hàn Quốc, là hai quốc gia có nhiều nét tương đồng về văn hóa.

Mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức cũng được thể hiện trong việc áp dụng các quy định của pháp luật. Đó là việc cụ thể hóa những quy định, những chính sách của nhà nước trong thực tiễn, đảm bảo các giá trị đạo đức mà pháp luật ghi nhận được thực thi trên thực tiễn. Trong quá trình áp dụng pháp luật, thẩm phán Hàn Quốc có đủ thẩm quyền để đưa phán quyết dựa trên những chuẩn mực đạo đức nếu pháp luật không được cụ thể. Ở Việt Nam, có nhiều vụ việc đã được thẩm phán căn cứ tinh thần của Luật Hôn nhân và gia đình, vào các chuẩn mực đạo đức để giải quyết và một số vụ việc tiêu biểu đã được ghi nhận thành án lệ để giải quyết những vụ việc tương tự.

Những chuẩn mực đạo đức gia đình đã trở thành nét đẹp văn hóa, bản sắc riêng của Việt Nam và Hàn Quốc trong thời kỳ hộ nhập. Người dân Việt Nam và Hàn Quốc rất coi trọng các giá trị, chuẩn mực đạo đức gia đình, thậm chí còn hơn cả các quy định của pháp luật. Vì vậy, pháp luật hôn nhân và gia đình được xây dựng dựa trên nền tảng là các chuẩn mực đạo đức truyền thống tốt đẹp, những chuẩn mực đạo đức tốt đẹp sẽ nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật và phù hợp với sự phát triển của xã hội.

3. Kết luận

Có thể thấy, pháp luật và đạo đức không điều chỉnh các mối quan hệ xã hội một cách độc lập mà luôn có sự tương tác, hỗ trợ lẫn nhau. Trong các quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình của Việt Nam và Hàn Quốc đều đã ghi nhận những chuẩn mực đạo đức truyền thống tốt đẹp, những chuẩn mực đạo đức mới tiến bộ. Trong các hoạt động áp dụng pháp luật và thực hiện pháp luật của cá nhân cũng dễ dàng nhận thấy được yếu tố đạo đức. Tuy nhiên, để mối quan hệ pháp luật và đạo đức thực sự có hiệu quả cao trong việc điều chỉnh các mối quan hệ hôn nhân và gia đình thì cần phải được nghiên cứu một cách hệ thống và có sự vận dụng linh hoạt trong từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể.

Lee Seon Hee
Nghiên cứu sinh tại Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội



Tài liệu tham khảo:
  1. Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014.
  2. Luật Gia đình Hàn Quốc năm 2005;
  3. Luật Hỗ trợ gia đình đa văn hóa Hàn Quốc năm 2007;
  4. GS.TS Hoàng Thị Kim Quế, Những vấn đề hôm nay của pháp luật và đạo đức, Tạp chí Luật học số 7/2006.
  5. TS. Nguyễn Văn Năm, Quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến sĩ, Đại học Luật Hà Nội, 2012.
  6. Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, 1997.
  7. Nguyễn Khắc Viện (chủ biên), Từ điển Xã hội học, Nxb. Thế giới, Hà Nội, 1994


[1] Đào Duy Anh, Từ điển Hán Việt, Nxb. Minh Tân số 7, Rue Guériégaud, Paris, 1949.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.

Theo dõi chúng tôi trên: