Thứ tư 11/03/2026 18:26
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Mối quan hệ pháp luật và đạo đức trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình - Nghiên cứu so sánh Việt Nam và Hàn Quốc

Quan hệ hôn nhân và gia đình là quan hệ nền tảng và quan trọng nhất trong các mối quan hệ xã hội. Bởi đó là mối quan hệ đầu tiên, gần gũi nhất của mỗi con người và là cơ sở để xã hội hình thành và phát triển. Thông qua hôn nhân và gia đình, con người thực hiện các chức năng duy trì nòi giống, giáo dục và hình thành nhân cách. Do đó, việc phát triển các mối quan hệ hôn nhân và gia đình luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu ở mỗi quốc gia.

Theo định nghĩa trong Từ điển tiếng Việt do Giáo sư Hoàng Phê làm chủ biên xuất bản năm 1992 thì: “Hôn nhân là việc nam nữ chính thức lấy nhau làm vợ chồng”. Xét trên quan niệm xã hội, “hôn nhân” có hai nghĩa, nghĩa thứ nhất, là chỉ một cặp nam nữ sống với nhau, sinh hoạt với nhau và xây dựng gia đình trong một cái khung của hôn thú; nghĩa thứ hai, là cá nhân một nam, một nữ chính thức lấy nhau làm vợ chồng dưới sự công nhận của pháp luật.

Về mặt bản chất, hôn nhân là một động thái mang tính nhân loại, chỉ có trong đời sống xã hội của loài người và chỉ xuất hiện ở một giai đoạn phát triển lịch sử nhất định. Đầu tiên, hôn nhân là một động thái xã hội hóa hoạt động ghép đôi của động vật hoang dã. Trải qua tiến trình của lịch sử, những tiến bộ của cấu trúc xã hội, quan niệm xã hội, dần dần hình thành những quan điểm chuẩn mực đạo đức, những quy định, những lễ nghi… và cuối cùng, nó được định hình trong các chế định, các quy ước tồn tại như những văn bản dưới luật và đỉnh cao của nó là sự quy tụ vào những điều khoản, hệ thống pháp luật của một quốc gia. Thông qua hôn nhân, gia đình được hình thành và trở thành một thực thể xã hội được công nhận, được Nhà nước bảo hộ, trước hết là trên nền tảng của hệ thống quan niệm đạo đức xã hội, phong tục, tập quán, văn hóa của cộng đồng dân tộc và cuối cùng, quan trọng nhất chính là hệ thống pháp luật của quốc gia.

Hiện nay, pháp luật là công cụ điều chỉnh xã hội rất quan trọng. Tuy nhiên, nếu chỉ sử dụng các quy định của pháp luật để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội sẽ không đạt được hiệu quả cao nhất do có những vấn đề pháp luật không điều chỉnh tới hoặc không thể điều chỉnh. Đặc biệt là những mối quan hệ được thiết lập dựa trên cơ sở tình cảm trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình. Trong khi đó, đạo đức có thể chi phối và điều chỉnh tất cả các mối quan hệ xã hội. Do vậy, việc kết hợp pháp luật và đạo đức trong điều chỉnh mối quan hệ hôn nhân và gia đình sẽ hỗ trợ và tăng cường thêm hiệu quả của pháp luật.

1. Mối quan hệ pháp luật và đạo đức trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình

Pháp luật xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử loài người, tuy nhiên qua các thời kỳ lịch sử, do điều kiện kinh tế, năng lực nhận thức của con người... khác nhau nên pháp luật và vai trò của pháp luật trong từng thời kỳ cũng khác nhau. Ngày nay, pháp luật có vai trò rất quan trọng và không thể thiếu trong việc điều chỉnh các mối quan hệ xã hội.

Theo lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, pháp luật là một hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội theo định hướng, mục tiêu cụ thể. Trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, pháp luật đi sâu điều chỉnh hai nhóm quan hệ là quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản. Quan hệ nhân thân là những quan hệ xã hội phát sinh giữa các thành viên trong gia đình về những lợi ích nhân thân như quan hệ giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con cái...; Quan hệ tài sản là những quan hệ xã hội phát sinh giữa các thành viên trong gia đình về lợi ích tài sản như quan hệ cấp dưỡng giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con cái, giữa các thành viên khác trong gia đình, quan hệ sở hữu chung của vợ chồng...

Cùng với pháp luật, đạo đức cũng được hình thành để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, trong đó các quan hệ hôn nhân và gia đình. Theo định nghĩa trong Từ điển Hán - Việt của Giáo sư Đào Duy Anh, thì “đạo” là nguyên lý tự nhiên, được vào lòng người là “đức”[1]. Như vậy, hiểu theo nghĩa đầu tiên của định nghĩa thì đạo đức chính là nguyên lý của tự nhiên và được lòng của con người, công chúng. Nó bao hàm theo hai nghĩa, nghĩa thứ nhất là một quy luật mang tính tự nhiên và nghĩa thứ hai là một sự thu nhận mang tính nhân sinh của con người.

Đạo đức có vai trò vô cùng quan trọng trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình. Bởi lẽ, các mối quan hệ hôn nhân và gia đình chủ yếu được thiết lập dựa trên cơ sở tình cảm và huyết thống, đó là lĩnh vực điều chỉnh sở trường của đạo đức. Hơn nữa, đạo đức gia đình hình thành nên các khôn mẫu, chuẩn mực hành vi ứng xử của các thành viên trong gia đình, đảm bảo trật tự và sự ổn định của các thành viên trong gia đình. Trong khi đó, pháp luật lại không thể điều chỉnh các mối quan hệ được thiết lập trên cơ sở tình cảm và không điều chỉnh những hành vi ứng xử cụ thể của các thành viên trong gia đình. Có thể thấy, sự suy thoái đạo đức gia đình là một trong những nguyên nhân chính khiến tình hình vi phạm pháp luật gia tăng và kéo theo đó là sự bất ổn của xã hội.

Về sự tương tác giữa pháp luật và đạo đức trong quá trình điều chỉnh các mối quan hệ hôn nhân và gia đình. Cũng như các mối quan hệ khác, các quan hệ hôn nhân và gia đình được điều chỉnh bởi nhiều công cụ khác nhau như pháp luật, đạo đức, phong tục, tập quán, tôn giáo… Các công cụ này có mối quan hệ tác động qua lại với nhau trong quá trình điều chỉnh các quan hệ xã hội. Trong đó, pháp luật và đạo đức nổi lên là hai công cụ quan trọng nhất và có mối quan hệ mật thiết, hỗ trợ nhau trong quá trình điều chỉnh các quan hệ xã hội.

Thứ nhất, trong mối quan hệ này, đạo đức là cơ sở của pháp luật.

Ngay khi chưa có pháp luật, những chuẩn mực đạo đức đã được hình thành để điều chỉnh các mối quan hệ hôn nhân và gia đình như một cách tất yếu, giải quyết những yêu cầu của đời sống xã hội và được tất cả xã hội thừa nhận, đảm bảo lợi ích chung của cộng đồng. Nhà nước thừa nhận các giá trị đạo đức và cụ thể hóa thành các quy định của pháp luật với tính chất bắt buộc chung cho tất cả mọi người. Có thể nói, bất kỳ một hệ thống pháp luật nào cũng được xây dựng, tồn tại và phát triển dựa trên một nền tảng đạo đức nhất định. Bởi lẽ, pháp luật được xây dựng trên nền tảng của đạo đức là pháp luật phù hợp với đời sống thực tiễn, được xã hội chấp nhận và đảm bảo lợi ích chung của mọi người, phù hợp với sự phát triển xã hội.

Thứ hai, đạo đức là động cơ tốt để thúc đẩy thực hiện pháp luật.

Pháp luật hiện nay được phủ sóng rộng rãi và có nhiều ưu điểm trong việc điều chỉnh các mối quan hệ xã hội với những quy định mang tính xử sự chung, tính cưỡng chế của Nhà nước. Tuy nhiên, việc thực hiện pháp luật còn phụ thuộc vào ý thức thực hiện pháp luật của người dân. Qua các chuẩn mực đạo đức, cá nhân sẽ nâng cao ý thức, tinh thần tự giác và trách nhiệm của bản thân đối với mỗi hành vi.

Luật Hôn nhân và gia đình được xây dựng dựa trên nền tảng là những chuẩn mực đạo đức sẽ giúp người dân dễ dàng thực hiện các quy định của pháp luật dù có thể không hiểu biết đầy đủ các quy định, bởi trên thực tế, mọi người đã quá quen thuộc với những chuẩn mực đạo đức gia đình và luôn thực hiện các chuẩn mực hành vi đó mỗi ngày. Những chuẩn mực đạo đức gia đình được các thành viên trong gia đình, xã hội coi trọng thì việc thực hiện các quy định của pháp luật sẽ nghiêm chỉnh hơn. Ngược lại, khi việc giáo dục đạo đức gia đình không được quan tâm và xuống cấp sẽ dẫn đến ý thức đạo đức không cao và việc thực hiện pháp luật sẽ không nghiêm chỉnh, không chỉ là pháp luật hôn nhân và gia đình mà trong cả các lĩnh vực pháp luật khác. Đặc biệt, khi đạo đức gia đình trở thành phong tục, tập quán của một cộng đồng, quốc gia và dân tộc, nó sẽ ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc thực hiện pháp luật. Nếu pháp luật phù hợp với các chuẩn mực đạo đức, nó sẽ thúc đẩy mạnh mẽ việc thực hiện pháp luật và ngược lại, nó sẽ cản trở việc thực hiện pháp luật.

Thứ ba, pháp luật phản ánh những quan điểm, quan niệm, tư tưởng, chuẩn mực đạo đức

Ngay từ khi gia đình được hình thành, những mối quan hệ trong gia đình đã được điều chỉnh bởi các chuẩn mực đạo đức. Vì vậy, mặc dù không có pháp luật, gia đình thời kỳ này vẫn giữ được sự ổn định. Trong xã hội có giai cấp, giai cấp thống trị luôn tìm mọi cách để duy trì sự thống trị của giai cấp mình. Thông qua đạo đức, giai cấp thống trị truyền bá, áp đặt hệ tư tưởng của giai cấp mình buộc các giai cấp khác phải phục tùng, tuân theo, thậm chí là nghĩ theo những tư tưởng đó và cho đó là tất yếu, là khuôn mẫu, là nguyên lý tự nhiên phải thế.

Để đảm bảo cho những chuẩn mực đạo đức, hệ tư tưởng của mình có thể đi vào thực tế, giai cấp thống trị thông qua quyền lực của Nhà nước để cụ thể hóa các quan điểm đạo đức thành pháp luật, sử dụng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước để pháp luật được thực hiện. Có thể thấy, pháp luật của bất kỳ quốc gia nào, ở thời kỳ nào cũng được xây dựng dựa trên một nền tảng đạo đức nhất định. Thực tế cho thấy, pháp luật phong kiến của Việt Nam, Hàn Quốc và các nước Á Đông thể hiện quan điểm đạo đức của Nho giáo, Phật giáo; pháp luật phong kiến của các nước Tây Âu thể hiện quan điểm đạo đức của Thiên chúa giáo; pháp luật của các quốc gia theo Đạo hồi là quan điểm đạo đức Hồi giáo;... Do đó, pháp luật hôn nhân và gia đình của một quốc gia phản ánh tư tưởng quan điểm, chuẩn mực đạo đức hôn nhân và gia đình của quốc gia đó.

Thứ tư, pháp luật giữ gìn và phát huy những giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp; tiếp nhận, hình thành những chuẩn mực đạo đức mới tiến bộ; đồng thời loại bỏ những chuẩn mực đạo đức lạc hậu, chuẩn mực đạo đức không chính thống, không phù hợp

Hiện nay, khi hôn nhân và gia đình đã mở rộng thành một vấn đề mang tính toàn cầu, các quyền con người, quyền công dân được đề cao thì hầu hết các quốc gia đều hướng đến xây dựng một chế độ hôn nhân và gia đình tiến bộ, bình đẳng, hạnh phúc. Pháp luật ghi nhận và phát huy những chuẩn mực đạo đức truyền thống tốt đẹp của quốc gia, những chuẩn mực đạo đức mới tiến bộ phù hợp với sự phát triển của xã hội, đồng thời loại bỏ những chuẩn mực đạo đức lạc hậu ảnh hưởng đến các quyền tự do, bình đẳng của con người và những chuẩn mực đạo đức không chính thống và không phù hợp.

Việt Nam và Hàn Quốc đều là những quốc gia phương Đông có nhiều nét văn hóa tương đồng. Quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế là một thách thức lớn cho các chuẩn mực đạo đức truyền thống tốt đẹp khi có sự giao thoa về văn hóa giữa các quốc gia, sự du nhập của các văn hóa ngoại lai. Do đó, pháp luật có vai trò vô cùng quan trọng trong việc đảm bảo cho các giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp được phát huy, tiếp nhận có chọn lọc những chuẩn mực đạo đức tiến bộ, phù hợp với sự phát triển, đồng thời ngăn chặn, loại bỏ những chuẩn mực đạo đức lạc hậu, không phù hợp.

Xã hội ngày càng phát triển, pháp luật càng phổ biến và có một vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh các mối quan hệ xã hội. Dù vậy, pháp luật không phải công cụ vạn năng mà nó cũng có những hạn chế. Việc quá đề cao hay xem nhẹ pháp luật đều có thể ảnh hưởng tiêu cực đến việc quản lý xã hội, đồng thời không phát huy được tối đa vai trò, giá trị của pháp luật. Cùng với pháp luật, đạo đức cũng có những vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh các mối quan hệ xã hội và có thể hỗ trợ, bổ sung cho những hạn chế của pháp luật. Do đó, trong quá trình điều chỉnh các mối quan hệ hôn nhân và gia đình cần phải có sự kết hợp chặt chẽ và linh hoạt mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức.

2. Mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình ở Việt Nam và Hàn Quốc hiện nay

Ở Việt Nam, pháp luật hôn nhân và gia đình của Việt Nam đã ghi nhận những chuẩn mực đạo đức gia đình truyền thống và các chuẩn mực đạo đức tiến bộ nhằm xây dựng chế hộ hôn nhân và gia đình tiến bộ. Hiện nay, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã ghi nhận rất nhiều những chuẩn mực đạo đức truyền thống tốt đẹp, những chuẩn mực đạo đức tiến bộ phù hợp với các quyền con người. Tương tự, Luật Gia đình Hàn Quốc cũng ghi nhận những chuẩn mực đạo đức tiến bộ, phù hợp. Qua nghiên cứu các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam và các quy định của Luật Gia đình Hàn Quốc có thể nhận thấy những điểm tương đồng trong việc ghi nhận những chuẩn mực đạo đức.

Một là, pháp luật ghi nhận chế độ hôn nhân tự do, tự nguyện, một vợ một chồng. Đây là chế độ hôn nhân tiến bộ trên thế giới, đảm bảo các quyền tự do, bình đẳng của cả nam và nữ. Tất cả mọi người đủ các điều kiện kết hôn theo quy định đều có quyền được tự do, tự nguyện lựa chọn bạn đời, bất kỳ ai cũng không được ngăn cấm, cản trở việc kết hôn.

Hai là, trong quan hệ vợ chồng, pháp luật ghi nhận những chuẩn mực đạo đức tiến bộ như vợ, chồng bình đẳng với nhau về mọi mặt. Với sự ghi nhận này, vai trò, địa vị của người phụ nữ đã được nâng cao; họ có các quyền và nghĩa vụ ngang bằng với người đàn ông. Đây là xu thế phát triển chung của thế giới về việc đảm bảo các quyền con người trong đó có quyền bình đẳng giới. Bên cạnh đó, pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam cũng ghi nhận và phát huy chuẩn mực đạo đức truyền thống tốt đẹp trong quan hệ vợ chồng, đó là vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.

Ba là, trong quan hệ giữa cha mẹ với con cái, pháp luật cũng ghi nhận những chuẩn mực đạo đức tốt đẹp đó là cha mẹ thương yêu, quan tâm, chăm sóc, dạy dỗ con cái; con cái phải hiếu kính, phụng dưỡng ông bà, cha mẹ. Đây là những chuẩn mực đạo đức truyền thống tốt đẹp trong gia đình Việt Nam và Hàn Quốc do ảnh hưởng của những chuẩn mực đạo đức Nho giáo.

Bốn là, pháp luật cũng ghi nhận những chuẩn mực đạo đức trong quan hệ giữa các thành viên khác trong gia đình, đó là sự yêu thương, chăm sóc, giúp đỡ nhau… nó thể hiện những đạo đức tốt đẹp trong tình cảm gia đình.

Năm là, pháp luật về hôn nhân và gia đình cũng như các chính sách của Việt Nam hay Hàn Quốc đều hướng tới bảo vệ, giúp đỡ các thành viên là phụ nữ, người già, trẻ em, những người mất năng lực hành vi. Đó là những người cần được chăm sóc, giúp đỡ và bảo vệ. Nó thể hiện truyền thống, những chuẩn mực đạo đức tốt đẹp, nhân văn của Việt Nam và Hàn Quốc, là hai quốc gia có nhiều nét tương đồng về văn hóa.

Mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức cũng được thể hiện trong việc áp dụng các quy định của pháp luật. Đó là việc cụ thể hóa những quy định, những chính sách của nhà nước trong thực tiễn, đảm bảo các giá trị đạo đức mà pháp luật ghi nhận được thực thi trên thực tiễn. Trong quá trình áp dụng pháp luật, thẩm phán Hàn Quốc có đủ thẩm quyền để đưa phán quyết dựa trên những chuẩn mực đạo đức nếu pháp luật không được cụ thể. Ở Việt Nam, có nhiều vụ việc đã được thẩm phán căn cứ tinh thần của Luật Hôn nhân và gia đình, vào các chuẩn mực đạo đức để giải quyết và một số vụ việc tiêu biểu đã được ghi nhận thành án lệ để giải quyết những vụ việc tương tự.

Những chuẩn mực đạo đức gia đình đã trở thành nét đẹp văn hóa, bản sắc riêng của Việt Nam và Hàn Quốc trong thời kỳ hộ nhập. Người dân Việt Nam và Hàn Quốc rất coi trọng các giá trị, chuẩn mực đạo đức gia đình, thậm chí còn hơn cả các quy định của pháp luật. Vì vậy, pháp luật hôn nhân và gia đình được xây dựng dựa trên nền tảng là các chuẩn mực đạo đức truyền thống tốt đẹp, những chuẩn mực đạo đức tốt đẹp sẽ nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật và phù hợp với sự phát triển của xã hội.

3. Kết luận

Có thể thấy, pháp luật và đạo đức không điều chỉnh các mối quan hệ xã hội một cách độc lập mà luôn có sự tương tác, hỗ trợ lẫn nhau. Trong các quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình của Việt Nam và Hàn Quốc đều đã ghi nhận những chuẩn mực đạo đức truyền thống tốt đẹp, những chuẩn mực đạo đức mới tiến bộ. Trong các hoạt động áp dụng pháp luật và thực hiện pháp luật của cá nhân cũng dễ dàng nhận thấy được yếu tố đạo đức. Tuy nhiên, để mối quan hệ pháp luật và đạo đức thực sự có hiệu quả cao trong việc điều chỉnh các mối quan hệ hôn nhân và gia đình thì cần phải được nghiên cứu một cách hệ thống và có sự vận dụng linh hoạt trong từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể.

Lee Seon Hee
Nghiên cứu sinh tại Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội



Tài liệu tham khảo:
  1. Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014.
  2. Luật Gia đình Hàn Quốc năm 2005;
  3. Luật Hỗ trợ gia đình đa văn hóa Hàn Quốc năm 2007;
  4. GS.TS Hoàng Thị Kim Quế, Những vấn đề hôm nay của pháp luật và đạo đức, Tạp chí Luật học số 7/2006.
  5. TS. Nguyễn Văn Năm, Quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến sĩ, Đại học Luật Hà Nội, 2012.
  6. Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, 1997.
  7. Nguyễn Khắc Viện (chủ biên), Từ điển Xã hội học, Nxb. Thế giới, Hà Nội, 1994


[1] Đào Duy Anh, Từ điển Hán Việt, Nxb. Minh Tân số 7, Rue Guériégaud, Paris, 1949.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.

Theo dõi chúng tôi trên: