Thứ ba 26/05/2026 06:42
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Mối quan hệ pháp luật và đạo đức trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình - Nghiên cứu so sánh Việt Nam và Hàn Quốc

Quan hệ hôn nhân và gia đình là quan hệ nền tảng và quan trọng nhất trong các mối quan hệ xã hội. Bởi đó là mối quan hệ đầu tiên, gần gũi nhất của mỗi con người và là cơ sở để xã hội hình thành và phát triển. Thông qua hôn nhân và gia đình, con người thực hiện các chức năng duy trì nòi giống, giáo dục và hình thành nhân cách. Do đó, việc phát triển các mối quan hệ hôn nhân và gia đình luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu ở mỗi quốc gia.

Theo định nghĩa trong Từ điển tiếng Việt do Giáo sư Hoàng Phê làm chủ biên xuất bản năm 1992 thì: “Hôn nhân là việc nam nữ chính thức lấy nhau làm vợ chồng”. Xét trên quan niệm xã hội, “hôn nhân” có hai nghĩa, nghĩa thứ nhất, là chỉ một cặp nam nữ sống với nhau, sinh hoạt với nhau và xây dựng gia đình trong một cái khung của hôn thú; nghĩa thứ hai, là cá nhân một nam, một nữ chính thức lấy nhau làm vợ chồng dưới sự công nhận của pháp luật.

Về mặt bản chất, hôn nhân là một động thái mang tính nhân loại, chỉ có trong đời sống xã hội của loài người và chỉ xuất hiện ở một giai đoạn phát triển lịch sử nhất định. Đầu tiên, hôn nhân là một động thái xã hội hóa hoạt động ghép đôi của động vật hoang dã. Trải qua tiến trình của lịch sử, những tiến bộ của cấu trúc xã hội, quan niệm xã hội, dần dần hình thành những quan điểm chuẩn mực đạo đức, những quy định, những lễ nghi… và cuối cùng, nó được định hình trong các chế định, các quy ước tồn tại như những văn bản dưới luật và đỉnh cao của nó là sự quy tụ vào những điều khoản, hệ thống pháp luật của một quốc gia. Thông qua hôn nhân, gia đình được hình thành và trở thành một thực thể xã hội được công nhận, được Nhà nước bảo hộ, trước hết là trên nền tảng của hệ thống quan niệm đạo đức xã hội, phong tục, tập quán, văn hóa của cộng đồng dân tộc và cuối cùng, quan trọng nhất chính là hệ thống pháp luật của quốc gia.

Hiện nay, pháp luật là công cụ điều chỉnh xã hội rất quan trọng. Tuy nhiên, nếu chỉ sử dụng các quy định của pháp luật để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội sẽ không đạt được hiệu quả cao nhất do có những vấn đề pháp luật không điều chỉnh tới hoặc không thể điều chỉnh. Đặc biệt là những mối quan hệ được thiết lập dựa trên cơ sở tình cảm trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình. Trong khi đó, đạo đức có thể chi phối và điều chỉnh tất cả các mối quan hệ xã hội. Do vậy, việc kết hợp pháp luật và đạo đức trong điều chỉnh mối quan hệ hôn nhân và gia đình sẽ hỗ trợ và tăng cường thêm hiệu quả của pháp luật.

1. Mối quan hệ pháp luật và đạo đức trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình

Pháp luật xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử loài người, tuy nhiên qua các thời kỳ lịch sử, do điều kiện kinh tế, năng lực nhận thức của con người... khác nhau nên pháp luật và vai trò của pháp luật trong từng thời kỳ cũng khác nhau. Ngày nay, pháp luật có vai trò rất quan trọng và không thể thiếu trong việc điều chỉnh các mối quan hệ xã hội.

Theo lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, pháp luật là một hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội theo định hướng, mục tiêu cụ thể. Trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, pháp luật đi sâu điều chỉnh hai nhóm quan hệ là quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản. Quan hệ nhân thân là những quan hệ xã hội phát sinh giữa các thành viên trong gia đình về những lợi ích nhân thân như quan hệ giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con cái...; Quan hệ tài sản là những quan hệ xã hội phát sinh giữa các thành viên trong gia đình về lợi ích tài sản như quan hệ cấp dưỡng giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con cái, giữa các thành viên khác trong gia đình, quan hệ sở hữu chung của vợ chồng...

Cùng với pháp luật, đạo đức cũng được hình thành để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, trong đó các quan hệ hôn nhân và gia đình. Theo định nghĩa trong Từ điển Hán - Việt của Giáo sư Đào Duy Anh, thì “đạo” là nguyên lý tự nhiên, được vào lòng người là “đức”[1]. Như vậy, hiểu theo nghĩa đầu tiên của định nghĩa thì đạo đức chính là nguyên lý của tự nhiên và được lòng của con người, công chúng. Nó bao hàm theo hai nghĩa, nghĩa thứ nhất là một quy luật mang tính tự nhiên và nghĩa thứ hai là một sự thu nhận mang tính nhân sinh của con người.

Đạo đức có vai trò vô cùng quan trọng trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình. Bởi lẽ, các mối quan hệ hôn nhân và gia đình chủ yếu được thiết lập dựa trên cơ sở tình cảm và huyết thống, đó là lĩnh vực điều chỉnh sở trường của đạo đức. Hơn nữa, đạo đức gia đình hình thành nên các khôn mẫu, chuẩn mực hành vi ứng xử của các thành viên trong gia đình, đảm bảo trật tự và sự ổn định của các thành viên trong gia đình. Trong khi đó, pháp luật lại không thể điều chỉnh các mối quan hệ được thiết lập trên cơ sở tình cảm và không điều chỉnh những hành vi ứng xử cụ thể của các thành viên trong gia đình. Có thể thấy, sự suy thoái đạo đức gia đình là một trong những nguyên nhân chính khiến tình hình vi phạm pháp luật gia tăng và kéo theo đó là sự bất ổn của xã hội.

Về sự tương tác giữa pháp luật và đạo đức trong quá trình điều chỉnh các mối quan hệ hôn nhân và gia đình. Cũng như các mối quan hệ khác, các quan hệ hôn nhân và gia đình được điều chỉnh bởi nhiều công cụ khác nhau như pháp luật, đạo đức, phong tục, tập quán, tôn giáo… Các công cụ này có mối quan hệ tác động qua lại với nhau trong quá trình điều chỉnh các quan hệ xã hội. Trong đó, pháp luật và đạo đức nổi lên là hai công cụ quan trọng nhất và có mối quan hệ mật thiết, hỗ trợ nhau trong quá trình điều chỉnh các quan hệ xã hội.

Thứ nhất, trong mối quan hệ này, đạo đức là cơ sở của pháp luật.

Ngay khi chưa có pháp luật, những chuẩn mực đạo đức đã được hình thành để điều chỉnh các mối quan hệ hôn nhân và gia đình như một cách tất yếu, giải quyết những yêu cầu của đời sống xã hội và được tất cả xã hội thừa nhận, đảm bảo lợi ích chung của cộng đồng. Nhà nước thừa nhận các giá trị đạo đức và cụ thể hóa thành các quy định của pháp luật với tính chất bắt buộc chung cho tất cả mọi người. Có thể nói, bất kỳ một hệ thống pháp luật nào cũng được xây dựng, tồn tại và phát triển dựa trên một nền tảng đạo đức nhất định. Bởi lẽ, pháp luật được xây dựng trên nền tảng của đạo đức là pháp luật phù hợp với đời sống thực tiễn, được xã hội chấp nhận và đảm bảo lợi ích chung của mọi người, phù hợp với sự phát triển xã hội.

Thứ hai, đạo đức là động cơ tốt để thúc đẩy thực hiện pháp luật.

Pháp luật hiện nay được phủ sóng rộng rãi và có nhiều ưu điểm trong việc điều chỉnh các mối quan hệ xã hội với những quy định mang tính xử sự chung, tính cưỡng chế của Nhà nước. Tuy nhiên, việc thực hiện pháp luật còn phụ thuộc vào ý thức thực hiện pháp luật của người dân. Qua các chuẩn mực đạo đức, cá nhân sẽ nâng cao ý thức, tinh thần tự giác và trách nhiệm của bản thân đối với mỗi hành vi.

Luật Hôn nhân và gia đình được xây dựng dựa trên nền tảng là những chuẩn mực đạo đức sẽ giúp người dân dễ dàng thực hiện các quy định của pháp luật dù có thể không hiểu biết đầy đủ các quy định, bởi trên thực tế, mọi người đã quá quen thuộc với những chuẩn mực đạo đức gia đình và luôn thực hiện các chuẩn mực hành vi đó mỗi ngày. Những chuẩn mực đạo đức gia đình được các thành viên trong gia đình, xã hội coi trọng thì việc thực hiện các quy định của pháp luật sẽ nghiêm chỉnh hơn. Ngược lại, khi việc giáo dục đạo đức gia đình không được quan tâm và xuống cấp sẽ dẫn đến ý thức đạo đức không cao và việc thực hiện pháp luật sẽ không nghiêm chỉnh, không chỉ là pháp luật hôn nhân và gia đình mà trong cả các lĩnh vực pháp luật khác. Đặc biệt, khi đạo đức gia đình trở thành phong tục, tập quán của một cộng đồng, quốc gia và dân tộc, nó sẽ ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc thực hiện pháp luật. Nếu pháp luật phù hợp với các chuẩn mực đạo đức, nó sẽ thúc đẩy mạnh mẽ việc thực hiện pháp luật và ngược lại, nó sẽ cản trở việc thực hiện pháp luật.

Thứ ba, pháp luật phản ánh những quan điểm, quan niệm, tư tưởng, chuẩn mực đạo đức

Ngay từ khi gia đình được hình thành, những mối quan hệ trong gia đình đã được điều chỉnh bởi các chuẩn mực đạo đức. Vì vậy, mặc dù không có pháp luật, gia đình thời kỳ này vẫn giữ được sự ổn định. Trong xã hội có giai cấp, giai cấp thống trị luôn tìm mọi cách để duy trì sự thống trị của giai cấp mình. Thông qua đạo đức, giai cấp thống trị truyền bá, áp đặt hệ tư tưởng của giai cấp mình buộc các giai cấp khác phải phục tùng, tuân theo, thậm chí là nghĩ theo những tư tưởng đó và cho đó là tất yếu, là khuôn mẫu, là nguyên lý tự nhiên phải thế.

Để đảm bảo cho những chuẩn mực đạo đức, hệ tư tưởng của mình có thể đi vào thực tế, giai cấp thống trị thông qua quyền lực của Nhà nước để cụ thể hóa các quan điểm đạo đức thành pháp luật, sử dụng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước để pháp luật được thực hiện. Có thể thấy, pháp luật của bất kỳ quốc gia nào, ở thời kỳ nào cũng được xây dựng dựa trên một nền tảng đạo đức nhất định. Thực tế cho thấy, pháp luật phong kiến của Việt Nam, Hàn Quốc và các nước Á Đông thể hiện quan điểm đạo đức của Nho giáo, Phật giáo; pháp luật phong kiến của các nước Tây Âu thể hiện quan điểm đạo đức của Thiên chúa giáo; pháp luật của các quốc gia theo Đạo hồi là quan điểm đạo đức Hồi giáo;... Do đó, pháp luật hôn nhân và gia đình của một quốc gia phản ánh tư tưởng quan điểm, chuẩn mực đạo đức hôn nhân và gia đình của quốc gia đó.

Thứ tư, pháp luật giữ gìn và phát huy những giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp; tiếp nhận, hình thành những chuẩn mực đạo đức mới tiến bộ; đồng thời loại bỏ những chuẩn mực đạo đức lạc hậu, chuẩn mực đạo đức không chính thống, không phù hợp

Hiện nay, khi hôn nhân và gia đình đã mở rộng thành một vấn đề mang tính toàn cầu, các quyền con người, quyền công dân được đề cao thì hầu hết các quốc gia đều hướng đến xây dựng một chế độ hôn nhân và gia đình tiến bộ, bình đẳng, hạnh phúc. Pháp luật ghi nhận và phát huy những chuẩn mực đạo đức truyền thống tốt đẹp của quốc gia, những chuẩn mực đạo đức mới tiến bộ phù hợp với sự phát triển của xã hội, đồng thời loại bỏ những chuẩn mực đạo đức lạc hậu ảnh hưởng đến các quyền tự do, bình đẳng của con người và những chuẩn mực đạo đức không chính thống và không phù hợp.

Việt Nam và Hàn Quốc đều là những quốc gia phương Đông có nhiều nét văn hóa tương đồng. Quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế là một thách thức lớn cho các chuẩn mực đạo đức truyền thống tốt đẹp khi có sự giao thoa về văn hóa giữa các quốc gia, sự du nhập của các văn hóa ngoại lai. Do đó, pháp luật có vai trò vô cùng quan trọng trong việc đảm bảo cho các giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp được phát huy, tiếp nhận có chọn lọc những chuẩn mực đạo đức tiến bộ, phù hợp với sự phát triển, đồng thời ngăn chặn, loại bỏ những chuẩn mực đạo đức lạc hậu, không phù hợp.

Xã hội ngày càng phát triển, pháp luật càng phổ biến và có một vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh các mối quan hệ xã hội. Dù vậy, pháp luật không phải công cụ vạn năng mà nó cũng có những hạn chế. Việc quá đề cao hay xem nhẹ pháp luật đều có thể ảnh hưởng tiêu cực đến việc quản lý xã hội, đồng thời không phát huy được tối đa vai trò, giá trị của pháp luật. Cùng với pháp luật, đạo đức cũng có những vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh các mối quan hệ xã hội và có thể hỗ trợ, bổ sung cho những hạn chế của pháp luật. Do đó, trong quá trình điều chỉnh các mối quan hệ hôn nhân và gia đình cần phải có sự kết hợp chặt chẽ và linh hoạt mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức.

2. Mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình ở Việt Nam và Hàn Quốc hiện nay

Ở Việt Nam, pháp luật hôn nhân và gia đình của Việt Nam đã ghi nhận những chuẩn mực đạo đức gia đình truyền thống và các chuẩn mực đạo đức tiến bộ nhằm xây dựng chế hộ hôn nhân và gia đình tiến bộ. Hiện nay, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã ghi nhận rất nhiều những chuẩn mực đạo đức truyền thống tốt đẹp, những chuẩn mực đạo đức tiến bộ phù hợp với các quyền con người. Tương tự, Luật Gia đình Hàn Quốc cũng ghi nhận những chuẩn mực đạo đức tiến bộ, phù hợp. Qua nghiên cứu các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam và các quy định của Luật Gia đình Hàn Quốc có thể nhận thấy những điểm tương đồng trong việc ghi nhận những chuẩn mực đạo đức.

Một là, pháp luật ghi nhận chế độ hôn nhân tự do, tự nguyện, một vợ một chồng. Đây là chế độ hôn nhân tiến bộ trên thế giới, đảm bảo các quyền tự do, bình đẳng của cả nam và nữ. Tất cả mọi người đủ các điều kiện kết hôn theo quy định đều có quyền được tự do, tự nguyện lựa chọn bạn đời, bất kỳ ai cũng không được ngăn cấm, cản trở việc kết hôn.

Hai là, trong quan hệ vợ chồng, pháp luật ghi nhận những chuẩn mực đạo đức tiến bộ như vợ, chồng bình đẳng với nhau về mọi mặt. Với sự ghi nhận này, vai trò, địa vị của người phụ nữ đã được nâng cao; họ có các quyền và nghĩa vụ ngang bằng với người đàn ông. Đây là xu thế phát triển chung của thế giới về việc đảm bảo các quyền con người trong đó có quyền bình đẳng giới. Bên cạnh đó, pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam cũng ghi nhận và phát huy chuẩn mực đạo đức truyền thống tốt đẹp trong quan hệ vợ chồng, đó là vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.

Ba là, trong quan hệ giữa cha mẹ với con cái, pháp luật cũng ghi nhận những chuẩn mực đạo đức tốt đẹp đó là cha mẹ thương yêu, quan tâm, chăm sóc, dạy dỗ con cái; con cái phải hiếu kính, phụng dưỡng ông bà, cha mẹ. Đây là những chuẩn mực đạo đức truyền thống tốt đẹp trong gia đình Việt Nam và Hàn Quốc do ảnh hưởng của những chuẩn mực đạo đức Nho giáo.

Bốn là, pháp luật cũng ghi nhận những chuẩn mực đạo đức trong quan hệ giữa các thành viên khác trong gia đình, đó là sự yêu thương, chăm sóc, giúp đỡ nhau… nó thể hiện những đạo đức tốt đẹp trong tình cảm gia đình.

Năm là, pháp luật về hôn nhân và gia đình cũng như các chính sách của Việt Nam hay Hàn Quốc đều hướng tới bảo vệ, giúp đỡ các thành viên là phụ nữ, người già, trẻ em, những người mất năng lực hành vi. Đó là những người cần được chăm sóc, giúp đỡ và bảo vệ. Nó thể hiện truyền thống, những chuẩn mực đạo đức tốt đẹp, nhân văn của Việt Nam và Hàn Quốc, là hai quốc gia có nhiều nét tương đồng về văn hóa.

Mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức cũng được thể hiện trong việc áp dụng các quy định của pháp luật. Đó là việc cụ thể hóa những quy định, những chính sách của nhà nước trong thực tiễn, đảm bảo các giá trị đạo đức mà pháp luật ghi nhận được thực thi trên thực tiễn. Trong quá trình áp dụng pháp luật, thẩm phán Hàn Quốc có đủ thẩm quyền để đưa phán quyết dựa trên những chuẩn mực đạo đức nếu pháp luật không được cụ thể. Ở Việt Nam, có nhiều vụ việc đã được thẩm phán căn cứ tinh thần của Luật Hôn nhân và gia đình, vào các chuẩn mực đạo đức để giải quyết và một số vụ việc tiêu biểu đã được ghi nhận thành án lệ để giải quyết những vụ việc tương tự.

Những chuẩn mực đạo đức gia đình đã trở thành nét đẹp văn hóa, bản sắc riêng của Việt Nam và Hàn Quốc trong thời kỳ hộ nhập. Người dân Việt Nam và Hàn Quốc rất coi trọng các giá trị, chuẩn mực đạo đức gia đình, thậm chí còn hơn cả các quy định của pháp luật. Vì vậy, pháp luật hôn nhân và gia đình được xây dựng dựa trên nền tảng là các chuẩn mực đạo đức truyền thống tốt đẹp, những chuẩn mực đạo đức tốt đẹp sẽ nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật và phù hợp với sự phát triển của xã hội.

3. Kết luận

Có thể thấy, pháp luật và đạo đức không điều chỉnh các mối quan hệ xã hội một cách độc lập mà luôn có sự tương tác, hỗ trợ lẫn nhau. Trong các quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình của Việt Nam và Hàn Quốc đều đã ghi nhận những chuẩn mực đạo đức truyền thống tốt đẹp, những chuẩn mực đạo đức mới tiến bộ. Trong các hoạt động áp dụng pháp luật và thực hiện pháp luật của cá nhân cũng dễ dàng nhận thấy được yếu tố đạo đức. Tuy nhiên, để mối quan hệ pháp luật và đạo đức thực sự có hiệu quả cao trong việc điều chỉnh các mối quan hệ hôn nhân và gia đình thì cần phải được nghiên cứu một cách hệ thống và có sự vận dụng linh hoạt trong từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể.

Lee Seon Hee
Nghiên cứu sinh tại Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội



Tài liệu tham khảo:
  1. Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014.
  2. Luật Gia đình Hàn Quốc năm 2005;
  3. Luật Hỗ trợ gia đình đa văn hóa Hàn Quốc năm 2007;
  4. GS.TS Hoàng Thị Kim Quế, Những vấn đề hôm nay của pháp luật và đạo đức, Tạp chí Luật học số 7/2006.
  5. TS. Nguyễn Văn Năm, Quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến sĩ, Đại học Luật Hà Nội, 2012.
  6. Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, 1997.
  7. Nguyễn Khắc Viện (chủ biên), Từ điển Xã hội học, Nxb. Thế giới, Hà Nội, 1994


[1] Đào Duy Anh, Từ điển Hán Việt, Nxb. Minh Tân số 7, Rue Guériégaud, Paris, 1949.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: