Thứ bảy 16/05/2026 05:47
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một nền tài chính công minh bạch và hiểu quả theo Luật Ngân sách nhà nước năm 2015

Ngân sách nhà nước nhằm phục vụ việc thực hiện các chức năng của Nhà nước và đáp ứng các nhu cầu, lợi ích chung của toàn xã hội. Để điều chỉnh lĩnh vực này, Nhà nước ta đã ban hành hệ thống pháp luật tương đối đầy đủ, liên tục được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với điều kiện, tình hình chung của đất nước trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.

Luật Ngân sách nhà nước năm 2015 (thay thế Luật Ngân sách nhà nước năm 2002) được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 25/6/2015, có hiệu lực thi hành từ năm ngân sách 2017. Luật Ngân sách nhà nước năm 2015 ra đời phù hợp với các quy định mới của Hiến pháp năm 2013, phù hợp với chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, thống nhất với các luật hiện hành và thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Một trong những nguyên tắc của Luật là xây dựng một nền tài chính công minh bạch và hiệu quả.

Cấu trúc tài chính công theo nghĩa rộng thường được sử dụng để thống kê, đánh giá các hoạt động tài chính công trong quản lý kinh tế. Hàng năm, Ngân hàng Thế giới, Liên minh Châu Âu và các tổ chức quốc tế khác thường thống kê các số liệu tài chính công theo cấu trúc này. Căn cứ vào nội dung quản lý, cấu trúc tài chính công được hiểu là sự phân chia các bộ phận tài chính công của một quốc gia gắn liền với việc sử dụng các quỹ công mà nhà nước có quyền chi phối, bao gồm quỹ ngân sách nhà nước, các quỹ tài chính ngoài ngân sách và nợ công.

1. Yêu cầu cho một nền tài chính công minh bạch và hiệu quả

1.1. Khuyến nghị của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế về minh bạch tài chính công

Theo thông lệ quốc tế, minh bạch là một trong những nguyên tắc quan trọng nhất về tài chính công và cũng được các tổ chức quốc tế như Ngân Hàng Thế giới (WB) đánh giá độc lập, trong đó có việc đánh giá đối với Việt Nam.

Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) đã công bố các khuyến nghị cho một nền tài chính công minh bạch. Thông lệ tốt nhất về minh bạch tài khóa (Best Practices for Budget Transparency - BPBT)1 được ban hành vào 2002 cho các thành viên của OECD tham khảo và ngay cả các quốc gia không phải là thành viên của OECD cũng thực hiện. BPBT với nội dung cơ bản đề cập đến các loại báo cáo khác nhau với những độ minh bạch khác nhau. Đó là:

- Báo cáo tiền ngân sách phát hành ít nhất một tháng trước khi trình dự thảo ngân sách nhà nước. Mục tiêu của báo cáo này là tạo cơ sở để tranh luận về các vấn đề còn tồn tại và tác động tới nền kinh tế, góp phần tạo ra những kỳ vọng phù hợp với khả năng ngân sách. Báo cáo tiền ngân sách phải làm nổi bật tổng thu, chi phí, thiếu hụt hoặc bội thu và các khoản nợ Chính phủ.

- Báo cáo hàng tháng thực hiện vào tuần cuối cùng của tháng cho thấy quá trình thực hiện ngân sách trong năm tài khóa. Với kết quả thu - chi trong tháng có so sánh với tháng tương tự của năm trước và những nhận xét ngắn gọn đánh giá tính hiệu quả thực thi.

- Báo cáo 06 tháng là báo cáo cung cấp kết quả cho năm tài chính hiện tại với tầm nhìn ít nhất cho hai năm tiếp theo, được phát hành trong vòng sáu tuần cuối của quý II. Báo cáo 06 tháng cũng yêu cầu phải được thảo luận trong một cuộc họp của Chính phủ một cách toàn diện.

- Báo cáo cuối năm là báo cáo quan trọng nhất của Chính phủ và phải được kiểm toán theo các chuẩn mực BPBT, công bố trong vòng sáu tháng trước khi kết thúc năm tài chính và cung phải được Chính phủ thảo luận một cách cụ thể.

- Báo cáo trước bầu cử là báo cáo thể hiện tình trạng chung của nền tài chính trước khi bầu cử, được phát hành trước ít nhất hai tháng trước khi bầu cử với những thông tin tương tự như báo cáo sáu tháng.

- Báo cáo dài hạn nhằm đánh giá tính bền vững của chính sách tài chính hiện hành của Chính phủ, phát hành ít nhất năm năm một lần.

Như vậy, trong thực tế, các bộ phận khác nhau trong đó bộ phận quan trọng nhất là ngân sách nhà nước cần phải được thể hiện trên cơ sở các báo cáo này.

1.2. Yêu cầu cho một nền tài chính công hiệu quả

Bất cứ nguồn tài chính nào khi sử dụng cũng đặt ra yêu cầu hiệu quả. Từ những quy định của Luật Ngân sách nhà nước năm 2002 đến Luật Ngân sách nhà nước năm 2015, thì ngân sách nhà nước luôn nhằm phục vụ việc thực hiện các chức năng của Nhà nước và đáp ứng các nhu cầu, lợi ích chung của toàn xã hội. Đối với quỹ tài chính công ngoài ngân sách, hoạt động vay nợ và quản lý nợ công cũng luôn đặt ra yêu cầu hiệu quả. Tính hiệu quả của tài chính công được xem xét, đánh giá chủ yếu dựa vào việc phân phối, sử dụng các quỹ công và nợ công. Chi tiêu công là hình thức cụ thể của sử dụng nguồn tài chính công, luôn gắn với việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước, đáp ứng các nhu cầu chung mang tính vĩ mô. Tính hiệu quả của chi tiêu công thường dựa vào hai tiêu chí cơ bản là kết quả đạt được và chi phí bỏ ra. Kết quả đạt được có thể là kết quả kinh tế và lợi ích xã hội. Tính hiệu quả tài chính công được thể hiện thông qua việc:

- Xác định đúng đối tượng thụ hưởng ngân sách nhà nước và các khoản tài chính công ngoài ngân sách;

- Chi ngân sách nhà nước đúng điều kiện luật định. Về nguyên tắc, các khoản chi của các quỹ tài chính công ngoài ngân sách cũng cần quy định trong văn bản luật và có cơ chế giám sát như chi ngân sách;

- Cần có hệ thống thông tin đủ để quản lý hiệu quả giúp chủ thể có thẩm quyền giám sát việc thực thi ngân sách nhà nước;

- Có quy định nhằm sử dụng hiệu quả nguồn vốn từ vay nợ cho đầu tư phát triển gắn với kết cấu chi ngân sách nhà nước, tránh gánh nặng trả nợ cho nợ công từ chính ngân sách nhà nước;

- Thường xuyên phân tích và đánh giá chất lượng quản lý tài chính và can thiệp kịp thời nhằm nâng cao hiệu quả nguồn tài chính công.

2. Một số điểm sáng cho sự minh bạch và hiệu quả của tài chính công trong Luật Ngân sách nhà nước năm 2015

2.1. Hiện thực hóa nguyên tắc minh bạch và hiệu quả của tài chính công

Trên cơ sở kế thừa các nguyên tắc của Luật Ngân sách nhà nước năm 2002 và tiếp thu các nguyên tắc được các tổ chức quốc tế khuyến nghị, Điều 8 Luật Ngân sách nhà nước năm 2015 quy định nguyên tắc minh bạch và hiệu quả. Theo đó, ngân sách nhà nước được quản lý thống nhất, tập trung dân chủ, hiệu quả, tiết kiệm, công khai, minh bạch, công bằng.

Luật Ngân sách nhà nước năm 2015 cũng bổ sung nguyên tắc quản lý ngân sách nhà nước như: Các khoản chi ngân sách chỉ được thực hiện khi có dự toán được cấp có thẩm quyền giao, đảm bảo đúng chế độ tiêu chuẩn, định mức chi do cơ quan có thẩm quyền quy định; đảm bảo ưu tiên bố trí ngân sách thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trong từng thời kỳ; đảm bảo chi trả các khoản lãi đến hạn thuộc ngân sách nhà nước.

Điều 55 Hiến pháp năm 2013 quy định: Ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia, quỹ tài chính nhà nước và các nguồn tài chính công khác do Nhà nước thông nhất quản lý và phải được sử dụng hiệu quả, công bằng, công khai, minh bạch, đúng pháp luật. Thêm nữa, để tạo căn cứ pháp lý đầy đủ cho các chủ thể liên quan, nội dung về công khai ngân sách cũng được xác định rõ ràng tại Luật Ngân sách nhà nước năm 2015. Để phát huy hơn nữa hiệu quả của việc công khai ngân sách, Luật Ngân sách nhà nước năm 2015 bổ sung quy định các cấp ngân sách và các đơn vị sử dụng ngân sách có trách nhiệm công khai tình hình thực hiện dự toán ngân sách; công khai các thủ tục ngân sách nhà nước… Lần đầu tiên trong Luật Ngân sách nhà nước quy định: Các đối tượng có trách nhiệm phải thực hiện công khai theo quy định, mà không thực hiện công khai đầy đủ, đúng hạn, sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật, đồng thời chỉ rõ trách nhiệm thực hiện công khai ngân sách nhà nước được giao cho Bộ Tài chính2.

2.2. Cơ chế báo cáo trên cơ sở các khuyến nghị BPBT của OECD

Không chỉ đến khi Luật Ngân sách nhà nước năm 2015 có hiệu lực, các loại báo cáo về ngân sách nhà nước mang tính định kỳ mới được thực hiện, mà việc báo cáo tình hình ngân sách nhà nước với công dân đã được công bố trên trang thông tin điện tử của Bộ Tài chính3. Hiện nay, các khuyến nghị về minh bạch tài khóa đã được thể hiện khá rõ tại Luật Ngân sách nhà nước năm 2015.

Điều 15 Luật Ngân sách nhà nước năm 2015 quy định về đối tượng công khai, nội dung công khai và thời gian cần phải thực hiện công khai. Đây là cơ sở để người dân tiếp cận sớm, nhanh chóng và kịp thời các thông tin tài chính và giám sát công tác quản lý ngân sách từ khâu đầu tiên đến khâu cuối cùng của chu kỳ ngân sách. Tuy vậy, Luật này mới chỉ dừng lại ở việc cung cấp thông tin của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân liên quan, mà chưa quy định về trách nhiệm giải trình, thuyết minh về các số liệu của các cơ quan, đơn vị, cá nhân. Bên cạnh đó, nhiều chương trình, đề án sự nghiệp đã được đưa lên cổng thông tin điện tử, nhưng thông tin chưa được cập nhật thường xuyên, việc công bố các báo cáo tổng kết, đánh giá kết quả quản lý, sử dụng ngân sách còn nhiều hạn chế. Phương thức công khai cũng mới chỉ là một mặt của tính minh bạch. Việc minh bạch ngân sách yêu cầu phải quy định rõ các chỉ tiêu tài chính và trách nhiệm giải trình, thuyết minh cho từng chỉ tiêu.

Luật Ngân sách nhà nước năm 2015 quy định về công khai ngân sách nhà nước nhưng chưa đề cập đến việc công khai các quỹ tài chính công ngoài ngân sách, mặc dù nguồn tài chính được tạo lập và sử dụng của mỗi quỹ rất lớn. Cơ chế điều hành quỹ tài chính công ngoài ngân sách dưới sự quản lý của hội đồng quản lý quỹ hoàn toàn có thể gây nên mối quan ngại cho dân chúng.

2.3. Quy định về tính thống nhất của hệ thống ngân sách từ khâu phân phối nguồn thu, chi

Luật Ngân sách nhà nước năm 2015 quy định về phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi, theo đó ngân sách trung ương đóng vai trò chủ đạo, đúng như quy định của Hiến pháp năm 2013. Quy định về phân cấp đã làm tăng tính chủ động, tích cực của chính quyền địa phương trong việc xác định và phân bổ, sử dụng các nguồn lực để thực hiện nhiệm vụ chi đã phân cấp, hạn chế tư tưởng trông chờ vào ngân sách cấp trên. Tính hiệu quả của ngân sách cũng được thể hiện trong quy định về chi ngân sách và điều kiện chi ngân sách (Điều 12): Đối với hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản phải đáp ứng điều kiện của luật đầu tư công và luật xây dựng; đối với chi thường xuyên phải đảm bảo đúng chế độ, định mức, tiêu chuẩn chi. Đó chính là cách để kiểm soát chi tiêu ngân sách có hiệu quả và đúng mục đích, bên cạnh đó, thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách chịu trách nhiệm về việc quản lý, sử dụng ngân sách theo dự toán được giao, bảo đảm hiệu quả, tiết kiệm… (Điều 25 Luật Ngân sách nhà nước năm 2015). Đối với Việt Nam, phương thức đo lường hiệu quả quản lý ngân sách bằng kết quả đầu ra là phương thức mới, cần có khuôn khổ pháp lý đi kèm để đảm bảo thực hiện, vì trước đây chúng ta quản lý ngân sách chủ yếu dựa trên các yếu tố đầu vào, ngân sách có quy mô nhỏ và sử dụng dàn trải.

Cũng liên quan đến hệ thống ngân sách nhà nước và yêu cầu phân phối nguồn thu, nhiệm vụ chi các cấp ngân sách nhà nước, Luật Ngân sách nhà nước năm 2015 có nhiều điểm tương đồng với pháp luật ngân sách các quốc gia khác về vấn đề này. Chẳng hạn, Điều 11 Luật Ngân sách Liên bang Nga4 quy định: Ngân sách liên bang và quỹ ngân sách các bang sẽ được tổng hợp thành ngân sách Liên bang Nga. Mỗi cấp ngân sách với nguồn thu và nhiệm vụ chi được quy định trước và được Quốc hội quyết định, quy định này đảm bảo tính thống nhất của hệ thống ngân sách và thể hiện một trong những quyền hạn quan trọng nhất của Quốc hội, tránh tình trạng xin cho và tránh việc mất khả năng kiểm soát đối với hoạt động ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, thực tế việc xin cho vẫn diễn ra dưới những hình thức phức tạp hơn.

Mặc dù, Luật Ngân sách nhà nước năm 2015 có kế thừa và quy định rõ tính thống nhất của hệ thống, tính hiệu quả sử dụng nguồn lực tài chính ở các cấp ngân sách và đơn vị sử dụng ngân sách nhưng thực tiễn còn nhiều nội dung cần tiếp tục đánh giá để điều chỉnh. Trước hết, nguồn lực dành cho chương trình phát triển sự nghiệp kinh tế của các cơ quan trung ương còn hạn chế chưa đáp ứng được yêu cầu do khả năng cân đối ngân sách nhà nước5. Bên cạnh đó, việc giải ngân còn nhiều hạn chế, thủ tục phức tạp, công tác thẩm định, phê duyệt nhiệm vụ chi mất nhiều thời gian; kết quả giải ngân của các chương trình quốc gia còn thấp. Như vậy, tính hiệu quả sử dụng ngân sách cần phải xử lý được những vấn đề nêu trên.

2.4. Việc hình thành các trung tâm mua sắm tài sản công - dấu hiệu của việc sử dụng nguồn tài chính công minh bạch, hiệu quả

Mua sắm công theo phương thức tập trung là công cụ đã được nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế áp dụng thành công để cắt giảm chi tiêu công. Pháp luật các quốc gia đều rất quan tâm và ghi nhận cơ sở để sử dụng hiệu quả nhất kinh phí từ ngân sách nhà nước.

Ở Việt Nam, để giảm thiểu chi phí trung gian và chống gian lận trong mua sắm, quản lý tài sản nhà nước, từ năm 2013, các bộ, ngành và địa phương thực hiện mua sắm tài sản công từ nguồn ngân sách nhà nước theo nguyên tắc triệt để tiết kiệm, đúng tiêu chuẩn, định mức và chế độ. Việc thí điểm thực hiện mua sắm tài sản nhà nước theo Quyết định 179/2007/QĐ-TTg ngày 26/11/2007 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế tổ chức mua sắm tài sản, hàng hoá từ ngân sách nhà nước theo phương thức tập trung là có hiệu quả, tiết kiệm chi phí và thời gian mua sắm phù hợp với thông lệ quốc tế. Hiện nay, Quyết định 08/2016/QĐ-TTg ngày 26/02/2016 quy định việc mua sắm tài sản nhà nước theo phương thức tập trung. Tuy nhiên, việc mua sắm tập trung chưa có tính bắt buộc chung, quy trình mua sắm chưa thực sự phù hợp, đơn vị và cán bộ mua sắm tập trung chưa được chuyên nghiệp hóa.

2.5. Quy định về đầu tư công với những dẫn chiếu những luật liên quan - dấu hiệu cho một hoạt động đầu tư có hiệu quả và đúng mục đích

Quản lý và sử dụng vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước không chỉ chịu sự điều chỉnh của Luật Ngân sách nhà nước, mà còn được điều chỉnh bằng nhiều văn bản luật có liên quan như: Luật Xây dựng, Luật Đấu thầu, Luật Đất đai… với mục đích sử dụng có hiệu quả và đúng mục đích nguồn vốn của Nhà nước.

Luật Ngân sách nhà nước năm 2015 chỉ rõ trách nhiệm của Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong việc xây dựng kế hoạch phân bổ ngân sách ngân sách trung ương cho đầu tư phát triển, tham gia xây dựng kế hoạch tài chính trung hạn, dự toán ngân sách hàng năm (Điều 27). Về điều kiện chi ngân sách cho đầu tư phát triển cũng được khẳng định tại Điều 12 Luật Ngân sách Nhà nước năm 2015, theo đó chi đầu tư xây dựng cơ bản phải đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật về đầu tư công và xây dựng.

PGS. TS. Phạm Thị Giang Thu
Trường Đại học Luật Hà Nội

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: