Thứ năm 12/03/2026 20:21
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số bất cập của Luật Bảo vệ môi trường về kiểm soát ô nhiễm không khí ở Việt Nam

Tóm tắt: Trên cơ sở những sửa đổi của Hiến pháp năm 2013 về bảo vệ môi trường, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014. Tuy nhiên, sau hơn một năm thực hiện, các quy định trong Luật này đã bộc lộ nhiều hạn chế ảnh hưởng không tốt đến hiệu quả kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí, đặc biệt là quyền được sống trong môi trường trong lành của người dân được Hiến pháp ghi nhận. Bài viết này sẽ phân tích và làm sáng tỏ những thiếu sót, bất cập, hạn chế trong Luật Bảo vệ môi trường hiện hành về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí.

Abstract: Based on the amendments of the Constitution of 2013 with respect to environmental protection, the National Assembly - XIII. Session - enacted Environment Protection Law in 2014. After over one year of implementation, however, regulations of this Law have revealed many shortcomings, which have not good impact on air pollution control, especially on the right to life in the healthy environment of the people recognized by the Constitution. This article analyzes and clarifies the shortcomings, inadequacies and limitations of existing Environment Protection Law of 2014 with respect to air pollution control.

Sau 30 năm đổi mới, mở cửa phát triển đất nước, Việt Nam đã thu được nhiều thành tựu về kinh tế, văn hóa, xã hội, đời sống của nhân dân ngày càng được cải thiện. Mặc dù vậy, bên cạnh những thành tựu, Việt Nam cũng phải đối mặt với những mặt trái của kinh tế thị trường như chênh lệch giàu nghèo, bất bình đẳng xã hội, đặc biệt là ô nhiễm môi trường, trong đó có môi trường không khí. Đứng trước bối cảnh đó, Việt Nam đã thông qua, sửa đổi, bổ sung nhiều văn bản pháp luật (như: Luật Bảo vệ môi trường năm 1993, Luật Bảo vệ môi trường 2005 và hiện nay là Luật Bảo vệ môi trường năm 2014) nhằm bảo vệ, kiểm soát ô nhiễm môi trường ngày càng hiệu quả hơn. Tuy nhiên, nghiên cứu Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 cho thấy, vẫn còn những bất cập, hạn chế ảnh hưởng đến hiệu quả kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí ở Việt Nam. Cụ thể:

Một là, cho đến nay, Việt Nam chưa có chiến lược thu hút đầu tư và quy hoạch phát triển kinh tế hợp lý. Từ khi mở cửa thu hút đầu tư nước ngoài đến nay, đa phần hoạt động đầu tư đến nước ta là tập trung vào các ngành nghề tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây ô nhiễm môi trường đặc biệt nghiêm trọng. Do vậy, đã đến lúc chúng ta phải nhìn nhận lại chiến lược thu hút đầu tư của mình[1].

Hai là, mặc dù Ban Chấp hành trung ương Đảng đã thông qua Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03/6/2013 về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, nhưng cho đến nay, Việt Nam chưa có một chiến lược tổng thể dài hạn về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí. Trong đó, tiếp cận kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí cần đặt trong mối quan hệ với chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, quyền được sống trong môi trường trong lành và gắn với yêu cầu phát triển bền vững quốc gia[2].

Ba là, chính sách, pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí ngày càng hoàn thiện, nhưng còn nhiều thiếu sót. Cụ thể: (i) Thiếu các quy chuẩn kỹ thuật môi trường không khí đối với mùi và quy chuẩn môi trường không khí trong nhà; (ii) Các chính sách về ưu đãi liên quan đến sự tham gia của tổ chức, cá nhân vào kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí còn quy định chung chung, chưa rõ ràng; (iii) Trong chính sách về phát triển bền vững quy định khá rõ ràng về việc ưu tiên lĩnh vực thân thiện môi trường, nhưng thực tiễn áp dụng pháp luật lại chưa hiệu quả, như Chiến lược về phát triển bền vững của Việt Nam hạn chế các dự án đầu tư gây ô nhiễm môi trường, song thực tiễn vẫn cấp phép cho các dự án luyện kim, khai thác tài nguyên gây ô nhiễm môi trường; (iv) Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 chưa đưa ra cách hiểu thế nào là biến đổi khí hậu, chưa xây dựng các quy định về ứng phó với biến đổi khí hậu theo nhóm các quy định về thích ứng với biến đổi khí hậu và nhóm các quy định về giảm nhẹ biến đổi khí hậu; (v) Các quy định về dự án phát triển sạch nhằm giảm thiểu cacbon và hình thành thị trường mua bán quyền phát thải đã được quy định trong pháp luật nước ta nhưng còn rườm rà, thiếu cụ thể, đặc biệt quá trình thực hiện còn rất nhiều vướng mắc và khó khăn[3]; (vi) Các quy định về cấm các hành vi làm ô nhiễm môi trường, trong đó có môi trường không khí đã được ghi nhận trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, nhưng một số quy định lại chưa được cụ thể hóa trong Bộ luật Hình sự hiện hành, ví dụ: Vi phạm các quy định về độ rung, tiếng ồn, pháp nhân gây ô nhiễm môi trường4; (vii) Chưa có quy định về đánh giá tác động môi trường không khí riêng. Hội đồng thẩm định báo cáo nhiều trường hợp do chính cơ quan phê duyệt dự án thành lập đã dẫn tới hiện tượng “cha chung không ai khóc”[5], việc kiểm soát thực hiện các cam kết trong báo cáo đánh giá tác động môi trường còn chưa hiệu quả, cơ chế tiền kiểm và hậu kiểm chưa thực sự chặt chẽ. Đặc biệt Luật yêu cầu đánh giá tác động môi trường cần dựa vào sức chịu tải của môi trường, nhưng chưa quy định cụ thể sức chịu tải của môi trường được xác định như thế nào; (viii) Quy định về quan trắc ô nhiễm môi trường không khí còn chưa đồng bộ, mạng lưới quan trắc ô nhiễm môi trường không khí vẫn còn thiếu và mỏng ảnh hưởng đến hiệu quả phát hiện ô nhiễm môi trường không khí[6]; (ix) Quy định về thông tin tình hình môi trường không khí chưa đáp ứng được yêu cầu của quá trình phát triển. Với các thông tin cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm công bố, thì Nhà nước cung cấp thông tin gì, người dân biết thông tin đó và thực tế cho thấy thông tin từ kênh này chưa nhiều và chưa kịp thời, chưa đáp ứng được mong mỏi của người dân. Pháp luật quy định tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền, chủ thể sản xuất kinh doanh phải cung cấp thông tin về tình hình môi trường, nhưng cá nhân lại không có quyền trực tiếp thực hiện quyền này mà phải thông qua tổ chức hoặc đại diện cộng đồng dân cư[7]. Điều này ảnh hưởng đến quyền được thông tin, đến đời sống, sản xuất của người dân; (x) Quy định về thanh tra môi trường không khí còn tản mạn, chưa thống nhất so với Luật Thanh tra năm 2010[8]. Về thực tiễn, hoạt động của thanh tra môi trường vẫn còn chồng chéo, thiếu sự phối hợp giữa thanh tra Bộ Tài nguyên và môi trường, thanh tra Tổng cục Môi trường, thanh tra Sở Tài nguyên và môi trường và hoạt động thanh tra của chính quyền địa phương, vẫn có những tiêu cực trong quá trình thanh tra ảnh hưởng đến xử lý dứt điểm các cơ sở gây ô nhiễm môi trường; (xi) Về ngăn chặn, khắc phục ô nhiễm, phục hồi hiện trạng môi trường không khí, pháp luật môi trường hiện hành chưa đưa ra cách hiểu thế nào là ngăn chặn ô nhiễm môi trường, chưa quy định cụ thể về trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân chủ nguồn thải trong ngăn chặn ô nhiễm môi trường không khí từ nguồn thải di động cũng như nguồn thải cố định mà chỉ có quy định về ngăn chặn sự cố môi trường9; (xii) Chưa có quy định cụ thể về phục hồi hiện trạng môi trường không khí, xác định thiệt hại về môi trường không khí[10]; (xiii) Quy định về xử lý các hành vi vi phạm pháp luật môi trường không khí: Về trách nhiệm hình sự, tội gây ô nhiễm môi trường được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 1999, theo đó tội này có cấu thành vật chất, tức là phải có hậu quả nghiêm trọng xảy ra mới bị truy cứu nên cũng gây khó khăn cho quá trình đấu tranh phòng, chống tội phạm bởi thực tế cho thấy, việc xác định thiệt hại do ô nhiễm môi trường không khí gây ra là không dễ dàng, đặc biệt là khó xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây ô nhiễm môi trường không khí và thiệt hại xảy ra. Do vậy, đến nay chưa có một cá nhân nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này. Theo Bộ luật Hình sự năm 2015 thì tội gây ô nhiễm môi trường chuyển sang cấu thành hình thức (tức là chỉ cần có hành vi nguy hiểm cho xã hội là bị truy cứu trách nhiệm hình sự). Mặc dù vậy, tội này vẫn chỉ áp dụng với hành vi thải khí và bụi, mà chưa quy định đối với hành vi vi phạm pháp luật môi trường về độ rung, tiếng ồn, mùi. Hơn nữa, theo quy định hành vi xả thải phải đạt một tải lượng nhất định thì mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự, tuy nhiên việc xác định tải lượng này với môi trường không khí là không hề dễ dàng[11]. Về trách nhiệm kỷ luật với cán bộ, công chức quản lý nhà nước về môi trường cũng chưa được quy định rõ ràng và thực tiễn áp dụng chưa thật khách quan, công khai, minh bạch[12]; (xiv) Về tổ chức và hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường không khí: Có thể thấy, các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường nhiều, nhưng chưa có cơ quan chuyên trách về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí. Hơn nữa, nhiều cơ quan tham gia quản lý nhưng không hiệu quả, dẫn tới môi trường không khí vẫn bị ô nhiễm trầm trọngpp13]; (xv) Tổ chức chính trị xã hội, xã hội nghề nghiệp, tổ chức quốc tế phi chính phủ và cộng đồng dân cư có vai trò đặc biệt quan trọng trong kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí. Mặc dù Luật Bảo vệ môi trường đã phần nào ghi nhận trách nhiệm của các tổ chức này, nhưng chưa có những quy định cụ thể nhằm phát huy mạnh mẽ hơn sự tham gia của các chủ thể này vào giám sát, kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí; (xvi) Chưa có chính sách khuyến khích thúc đẩy thực hiện trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp; các công cụ kinh tế đã được sử dụng để kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí nhưng vẫn chưa đạt được hiệu quả mong muốn.

Bốn là, chưa có văn bản dưới luật hướng dẫn cụ thể về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí được ghi nhận trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 nên rất khó thực hiện[14].

Năm là, chức năng, nhiệm vụ, thể chế và thiết chế quản lý môi trường không khí đô thị chưa rõ ràng, thiếu nhất quán giữa các ngành tài nguyên môi trường, giao thông vận tải, chất thải, xây dựng… Bộ Tài nguyên và Môi trường được Chính phủ giao thống nhất đầu mối quản lý nhà nước về môi trường trong đó có môi trường không khí, nhưng Quyết định số 328/2005/QĐ-TTg ngày 12/12/2005 của Thủ tướng Chính phủ quyết định phê duyệt Kế hoạch quốc gia kiểm soát ô nhiễm môi trường đến năm 2010, giao nhiệm vụ kiểm soát ô nhiễm không khí đô thị, cải thiện chất lượng không khí đô thị cho Bộ Giao thông vận tải. Cơ chế phối hợp công tác, chia sẻ thông tin quản lý nhà nước về kiểm soát ô nhiễm của Bộ Tài nguyên và Môi trường và các bộ ngành, giữa cơ quan trung ương và địa phương chưa được thực hiện.

Sáu là, về thực tiễn kiểm soát cho thấy, tổ chức bộ máy chưa hoàn thiện, đầy đủ từ trung ương đến địa phương (từ năm 2008 mới có cơ quan quản lý nhà nước cấp trung ương về không khí)[15]; quan trắc và kiểm kê nguồn phát thải còn yếu (chưa chính xác, đồng bộ, hiệu quả, kết nối thông tin…); công cụ kiểm soát ô nhiễm không khí còn thiếu (quy định, công nghệ, theo dõi, kiểm kê…); đầu tư cho hoạt động quản lý và bảo vệ môi trường không khí chưa đáp ứng được yêu cầu (ít dự án về không khí); đào tạo, nghiên cứu chưa đáp ứng yêu cầu (đào tạo chuyên nghiệp, ngắn hạn); truyền thông, nâng cao nhận thức chưa tốt (chưa có chương trình riêng, dân ít biết, các cấp lãnh đạo ít quan tâm); sự tham gia của cộng đồng, chia sẻ thông tin còn hạn chế (ít thông tin về không khí); doanh nghiệp chưa nhận thức được việc bảo vệ môi trường không khí không chỉ là trách nhiệm pháp lý mà còn là trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp .

TS. Bùi Đức Hiển

Viện Nhà nước và Pháp luật

Tài liệu tham khảo:

[1]. Đỗ Đức Bình, Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam: Những bất cập về chính sách và giải pháp thúc đẩy, Tạp chí Kinh tế & Phát triển, số 194, tháng 8/2013.

[2]. Nguyễn Minh Khoa, Trần Minh Huyền, Ô nhiễm không khí: Những bất cập trong quản lý và kiến nghị, Bộ Tài nguyên và Môi trường, nguồn: http://khoahocvacongnghevietnam.com.vn/khcn-trung-uong/12876-o-nhiem-khong-khi-nhung-bat-cap-trong-quan-ly-va-kien-nghi.html.

[3]. Phạm Văn Hảo (2013), “Việt Nam với việc thực hiện điều ước quốc tế về biến đổi khí hậu, hướng tới hoàn thiện các quy định pháp luật về cơ chế phát triển sạch và xuất khẩu chứng nhận giảm phát thải khí nhà kính”, Luận văn Thạc sĩ luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội.

[4]. Điều 182 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).

[5]. Thanh Hải, Đánh giá tác động môi trường: Chấm dứt tính hình thức, nguồn: http://hanoimoi.com.vn/Tin-tuc/Xa-hoi/844577/danh-gia-tac-dong-moi-truong-cham-dut-tinh-hinh-thuc.

[6]. Minh Khang, Hệ thống quan trắc không khí tê liệt, nguồn: http://nld.com.vn/thoi-su-trong-nuoc/he-thong-quan-trac-khong-khi-te-liet-20121112101323148.htm.

[7]. Điều 145, Điều 146 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 và Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường.

[8]. Theo đó ngoài thanh tra Bộ, thanh tra Tổng cục Môi trường, Thanh tra Sở Tài nguyên và môi trường như Luật Thanh tra năm 2010 thì Luật quy định các Bộ trưởng Bộ Tài nguyên Môi trường, Thủ trưởng các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân các cấp cũng có quyền kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm về môi trường.

[9]. Xem Điểm b khoản 1 Điều 112 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 quy định: Tổ chức, cá nhân phải: “Tiến hành ngay biện pháp ngăn chặn, hạn chế nguồn gây ô nhiễm môi trường và hạn chế sự lan rộng, ảnh hưởng đến sức khỏe và đời sống của nhân dân trong vùng”.

[10]. Xem: Nghị định số 03/2015/NĐ-CP ngày 06/01/2015 của Chính phủ quy định về xác định thiệt hại môi trường chưa có quy định về xác định thiệt hại môi trường không khí.

[11]. Xem: Điều 231 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[12]. Xem: Nguyễn Thị Dung, Sửa luật để xử nghiêm công chức vi phạm, nguồn: http://tuoitre.vn/tin/ban-doc/cung-lam-bao/20130731/sua-luat-de-xu-nghiem-cong-chuc-vi-pham/560329.html.

[13]. Xem: Bảo An, Những bất cập trong công tác quản lý, bảo vệ môi trường, nguồn: http://www.baoquangninh.com.vn/ doi-song/moi-truong/201204/Nhung-bat-cap-trong-cong-tac-quan-ly-bao-ve-moi-truong-2166185/.

[14]. Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 có duy nhất một điều luật quy định về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí là Điều 64. Hiện nay, Chính phủ chưa có văn bản hướng dẫn thực hiện Điều này.

[15]. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện phân công, phân cấp quản lý nhà nước về môi trường ở trung ương và địa phương, Đề tài khoa học cấp trường, nguồn: http://123doc.org//document/135930-mot-so-giai-phap-nham-hoan-thien-phan-cong-phan-cap-quan-ly-nha-nuoc-ve-moi-truong-o-trung-uong-va-dia-phuong.htm.


Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: