Thứ năm 18/06/2026 02:57
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số bất cập của Luật Bảo vệ môi trường về kiểm soát ô nhiễm không khí ở Việt Nam

Tóm tắt: Trên cơ sở những sửa đổi của Hiến pháp năm 2013 về bảo vệ môi trường, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014. Tuy nhiên, sau hơn một năm thực hiện, các quy định trong Luật này đã bộc lộ nhiều hạn chế ảnh hưởng không tốt đến hiệu quả kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí, đặc biệt là quyền được sống trong môi trường trong lành của người dân được Hiến pháp ghi nhận. Bài viết này sẽ phân tích và làm sáng tỏ những thiếu sót, bất cập, hạn chế trong Luật Bảo vệ môi trường hiện hành về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí.

Abstract: Based on the amendments of the Constitution of 2013 with respect to environmental protection, the National Assembly - XIII. Session - enacted Environment Protection Law in 2014. After over one year of implementation, however, regulations of this Law have revealed many shortcomings, which have not good impact on air pollution control, especially on the right to life in the healthy environment of the people recognized by the Constitution. This article analyzes and clarifies the shortcomings, inadequacies and limitations of existing Environment Protection Law of 2014 with respect to air pollution control.

Sau 30 năm đổi mới, mở cửa phát triển đất nước, Việt Nam đã thu được nhiều thành tựu về kinh tế, văn hóa, xã hội, đời sống của nhân dân ngày càng được cải thiện. Mặc dù vậy, bên cạnh những thành tựu, Việt Nam cũng phải đối mặt với những mặt trái của kinh tế thị trường như chênh lệch giàu nghèo, bất bình đẳng xã hội, đặc biệt là ô nhiễm môi trường, trong đó có môi trường không khí. Đứng trước bối cảnh đó, Việt Nam đã thông qua, sửa đổi, bổ sung nhiều văn bản pháp luật (như: Luật Bảo vệ môi trường năm 1993, Luật Bảo vệ môi trường 2005 và hiện nay là Luật Bảo vệ môi trường năm 2014) nhằm bảo vệ, kiểm soát ô nhiễm môi trường ngày càng hiệu quả hơn. Tuy nhiên, nghiên cứu Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 cho thấy, vẫn còn những bất cập, hạn chế ảnh hưởng đến hiệu quả kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí ở Việt Nam. Cụ thể:

Một là, cho đến nay, Việt Nam chưa có chiến lược thu hút đầu tư và quy hoạch phát triển kinh tế hợp lý. Từ khi mở cửa thu hút đầu tư nước ngoài đến nay, đa phần hoạt động đầu tư đến nước ta là tập trung vào các ngành nghề tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây ô nhiễm môi trường đặc biệt nghiêm trọng. Do vậy, đã đến lúc chúng ta phải nhìn nhận lại chiến lược thu hút đầu tư của mình[1].

Hai là, mặc dù Ban Chấp hành trung ương Đảng đã thông qua Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03/6/2013 về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, nhưng cho đến nay, Việt Nam chưa có một chiến lược tổng thể dài hạn về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí. Trong đó, tiếp cận kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí cần đặt trong mối quan hệ với chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, quyền được sống trong môi trường trong lành và gắn với yêu cầu phát triển bền vững quốc gia[2].

Ba là, chính sách, pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí ngày càng hoàn thiện, nhưng còn nhiều thiếu sót. Cụ thể: (i) Thiếu các quy chuẩn kỹ thuật môi trường không khí đối với mùi và quy chuẩn môi trường không khí trong nhà; (ii) Các chính sách về ưu đãi liên quan đến sự tham gia của tổ chức, cá nhân vào kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí còn quy định chung chung, chưa rõ ràng; (iii) Trong chính sách về phát triển bền vững quy định khá rõ ràng về việc ưu tiên lĩnh vực thân thiện môi trường, nhưng thực tiễn áp dụng pháp luật lại chưa hiệu quả, như Chiến lược về phát triển bền vững của Việt Nam hạn chế các dự án đầu tư gây ô nhiễm môi trường, song thực tiễn vẫn cấp phép cho các dự án luyện kim, khai thác tài nguyên gây ô nhiễm môi trường; (iv) Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 chưa đưa ra cách hiểu thế nào là biến đổi khí hậu, chưa xây dựng các quy định về ứng phó với biến đổi khí hậu theo nhóm các quy định về thích ứng với biến đổi khí hậu và nhóm các quy định về giảm nhẹ biến đổi khí hậu; (v) Các quy định về dự án phát triển sạch nhằm giảm thiểu cacbon và hình thành thị trường mua bán quyền phát thải đã được quy định trong pháp luật nước ta nhưng còn rườm rà, thiếu cụ thể, đặc biệt quá trình thực hiện còn rất nhiều vướng mắc và khó khăn[3]; (vi) Các quy định về cấm các hành vi làm ô nhiễm môi trường, trong đó có môi trường không khí đã được ghi nhận trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, nhưng một số quy định lại chưa được cụ thể hóa trong Bộ luật Hình sự hiện hành, ví dụ: Vi phạm các quy định về độ rung, tiếng ồn, pháp nhân gây ô nhiễm môi trường4; (vii) Chưa có quy định về đánh giá tác động môi trường không khí riêng. Hội đồng thẩm định báo cáo nhiều trường hợp do chính cơ quan phê duyệt dự án thành lập đã dẫn tới hiện tượng “cha chung không ai khóc”[5], việc kiểm soát thực hiện các cam kết trong báo cáo đánh giá tác động môi trường còn chưa hiệu quả, cơ chế tiền kiểm và hậu kiểm chưa thực sự chặt chẽ. Đặc biệt Luật yêu cầu đánh giá tác động môi trường cần dựa vào sức chịu tải của môi trường, nhưng chưa quy định cụ thể sức chịu tải của môi trường được xác định như thế nào; (viii) Quy định về quan trắc ô nhiễm môi trường không khí còn chưa đồng bộ, mạng lưới quan trắc ô nhiễm môi trường không khí vẫn còn thiếu và mỏng ảnh hưởng đến hiệu quả phát hiện ô nhiễm môi trường không khí[6]; (ix) Quy định về thông tin tình hình môi trường không khí chưa đáp ứng được yêu cầu của quá trình phát triển. Với các thông tin cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm công bố, thì Nhà nước cung cấp thông tin gì, người dân biết thông tin đó và thực tế cho thấy thông tin từ kênh này chưa nhiều và chưa kịp thời, chưa đáp ứng được mong mỏi của người dân. Pháp luật quy định tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền, chủ thể sản xuất kinh doanh phải cung cấp thông tin về tình hình môi trường, nhưng cá nhân lại không có quyền trực tiếp thực hiện quyền này mà phải thông qua tổ chức hoặc đại diện cộng đồng dân cư[7]. Điều này ảnh hưởng đến quyền được thông tin, đến đời sống, sản xuất của người dân; (x) Quy định về thanh tra môi trường không khí còn tản mạn, chưa thống nhất so với Luật Thanh tra năm 2010[8]. Về thực tiễn, hoạt động của thanh tra môi trường vẫn còn chồng chéo, thiếu sự phối hợp giữa thanh tra Bộ Tài nguyên và môi trường, thanh tra Tổng cục Môi trường, thanh tra Sở Tài nguyên và môi trường và hoạt động thanh tra của chính quyền địa phương, vẫn có những tiêu cực trong quá trình thanh tra ảnh hưởng đến xử lý dứt điểm các cơ sở gây ô nhiễm môi trường; (xi) Về ngăn chặn, khắc phục ô nhiễm, phục hồi hiện trạng môi trường không khí, pháp luật môi trường hiện hành chưa đưa ra cách hiểu thế nào là ngăn chặn ô nhiễm môi trường, chưa quy định cụ thể về trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân chủ nguồn thải trong ngăn chặn ô nhiễm môi trường không khí từ nguồn thải di động cũng như nguồn thải cố định mà chỉ có quy định về ngăn chặn sự cố môi trường9; (xii) Chưa có quy định cụ thể về phục hồi hiện trạng môi trường không khí, xác định thiệt hại về môi trường không khí[10]; (xiii) Quy định về xử lý các hành vi vi phạm pháp luật môi trường không khí: Về trách nhiệm hình sự, tội gây ô nhiễm môi trường được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 1999, theo đó tội này có cấu thành vật chất, tức là phải có hậu quả nghiêm trọng xảy ra mới bị truy cứu nên cũng gây khó khăn cho quá trình đấu tranh phòng, chống tội phạm bởi thực tế cho thấy, việc xác định thiệt hại do ô nhiễm môi trường không khí gây ra là không dễ dàng, đặc biệt là khó xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây ô nhiễm môi trường không khí và thiệt hại xảy ra. Do vậy, đến nay chưa có một cá nhân nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này. Theo Bộ luật Hình sự năm 2015 thì tội gây ô nhiễm môi trường chuyển sang cấu thành hình thức (tức là chỉ cần có hành vi nguy hiểm cho xã hội là bị truy cứu trách nhiệm hình sự). Mặc dù vậy, tội này vẫn chỉ áp dụng với hành vi thải khí và bụi, mà chưa quy định đối với hành vi vi phạm pháp luật môi trường về độ rung, tiếng ồn, mùi. Hơn nữa, theo quy định hành vi xả thải phải đạt một tải lượng nhất định thì mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự, tuy nhiên việc xác định tải lượng này với môi trường không khí là không hề dễ dàng[11]. Về trách nhiệm kỷ luật với cán bộ, công chức quản lý nhà nước về môi trường cũng chưa được quy định rõ ràng và thực tiễn áp dụng chưa thật khách quan, công khai, minh bạch[12]; (xiv) Về tổ chức và hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường không khí: Có thể thấy, các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường nhiều, nhưng chưa có cơ quan chuyên trách về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí. Hơn nữa, nhiều cơ quan tham gia quản lý nhưng không hiệu quả, dẫn tới môi trường không khí vẫn bị ô nhiễm trầm trọngpp13]; (xv) Tổ chức chính trị xã hội, xã hội nghề nghiệp, tổ chức quốc tế phi chính phủ và cộng đồng dân cư có vai trò đặc biệt quan trọng trong kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí. Mặc dù Luật Bảo vệ môi trường đã phần nào ghi nhận trách nhiệm của các tổ chức này, nhưng chưa có những quy định cụ thể nhằm phát huy mạnh mẽ hơn sự tham gia của các chủ thể này vào giám sát, kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí; (xvi) Chưa có chính sách khuyến khích thúc đẩy thực hiện trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp; các công cụ kinh tế đã được sử dụng để kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí nhưng vẫn chưa đạt được hiệu quả mong muốn.

Bốn là, chưa có văn bản dưới luật hướng dẫn cụ thể về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí được ghi nhận trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 nên rất khó thực hiện[14].

Năm là, chức năng, nhiệm vụ, thể chế và thiết chế quản lý môi trường không khí đô thị chưa rõ ràng, thiếu nhất quán giữa các ngành tài nguyên môi trường, giao thông vận tải, chất thải, xây dựng… Bộ Tài nguyên và Môi trường được Chính phủ giao thống nhất đầu mối quản lý nhà nước về môi trường trong đó có môi trường không khí, nhưng Quyết định số 328/2005/QĐ-TTg ngày 12/12/2005 của Thủ tướng Chính phủ quyết định phê duyệt Kế hoạch quốc gia kiểm soát ô nhiễm môi trường đến năm 2010, giao nhiệm vụ kiểm soát ô nhiễm không khí đô thị, cải thiện chất lượng không khí đô thị cho Bộ Giao thông vận tải. Cơ chế phối hợp công tác, chia sẻ thông tin quản lý nhà nước về kiểm soát ô nhiễm của Bộ Tài nguyên và Môi trường và các bộ ngành, giữa cơ quan trung ương và địa phương chưa được thực hiện.

Sáu là, về thực tiễn kiểm soát cho thấy, tổ chức bộ máy chưa hoàn thiện, đầy đủ từ trung ương đến địa phương (từ năm 2008 mới có cơ quan quản lý nhà nước cấp trung ương về không khí)[15]; quan trắc và kiểm kê nguồn phát thải còn yếu (chưa chính xác, đồng bộ, hiệu quả, kết nối thông tin…); công cụ kiểm soát ô nhiễm không khí còn thiếu (quy định, công nghệ, theo dõi, kiểm kê…); đầu tư cho hoạt động quản lý và bảo vệ môi trường không khí chưa đáp ứng được yêu cầu (ít dự án về không khí); đào tạo, nghiên cứu chưa đáp ứng yêu cầu (đào tạo chuyên nghiệp, ngắn hạn); truyền thông, nâng cao nhận thức chưa tốt (chưa có chương trình riêng, dân ít biết, các cấp lãnh đạo ít quan tâm); sự tham gia của cộng đồng, chia sẻ thông tin còn hạn chế (ít thông tin về không khí); doanh nghiệp chưa nhận thức được việc bảo vệ môi trường không khí không chỉ là trách nhiệm pháp lý mà còn là trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp .

TS. Bùi Đức Hiển

Viện Nhà nước và Pháp luật

Tài liệu tham khảo:

[1]. Đỗ Đức Bình, Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam: Những bất cập về chính sách và giải pháp thúc đẩy, Tạp chí Kinh tế & Phát triển, số 194, tháng 8/2013.

[2]. Nguyễn Minh Khoa, Trần Minh Huyền, Ô nhiễm không khí: Những bất cập trong quản lý và kiến nghị, Bộ Tài nguyên và Môi trường, nguồn: http://khoahocvacongnghevietnam.com.vn/khcn-trung-uong/12876-o-nhiem-khong-khi-nhung-bat-cap-trong-quan-ly-va-kien-nghi.html.

[3]. Phạm Văn Hảo (2013), “Việt Nam với việc thực hiện điều ước quốc tế về biến đổi khí hậu, hướng tới hoàn thiện các quy định pháp luật về cơ chế phát triển sạch và xuất khẩu chứng nhận giảm phát thải khí nhà kính”, Luận văn Thạc sĩ luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội.

[4]. Điều 182 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).

[5]. Thanh Hải, Đánh giá tác động môi trường: Chấm dứt tính hình thức, nguồn: http://hanoimoi.com.vn/Tin-tuc/Xa-hoi/844577/danh-gia-tac-dong-moi-truong-cham-dut-tinh-hinh-thuc.

[6]. Minh Khang, Hệ thống quan trắc không khí tê liệt, nguồn: http://nld.com.vn/thoi-su-trong-nuoc/he-thong-quan-trac-khong-khi-te-liet-20121112101323148.htm.

[7]. Điều 145, Điều 146 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 và Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường.

[8]. Theo đó ngoài thanh tra Bộ, thanh tra Tổng cục Môi trường, Thanh tra Sở Tài nguyên và môi trường như Luật Thanh tra năm 2010 thì Luật quy định các Bộ trưởng Bộ Tài nguyên Môi trường, Thủ trưởng các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân các cấp cũng có quyền kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm về môi trường.

[9]. Xem Điểm b khoản 1 Điều 112 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 quy định: Tổ chức, cá nhân phải: “Tiến hành ngay biện pháp ngăn chặn, hạn chế nguồn gây ô nhiễm môi trường và hạn chế sự lan rộng, ảnh hưởng đến sức khỏe và đời sống của nhân dân trong vùng”.

[10]. Xem: Nghị định số 03/2015/NĐ-CP ngày 06/01/2015 của Chính phủ quy định về xác định thiệt hại môi trường chưa có quy định về xác định thiệt hại môi trường không khí.

[11]. Xem: Điều 231 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[12]. Xem: Nguyễn Thị Dung, Sửa luật để xử nghiêm công chức vi phạm, nguồn: http://tuoitre.vn/tin/ban-doc/cung-lam-bao/20130731/sua-luat-de-xu-nghiem-cong-chuc-vi-pham/560329.html.

[13]. Xem: Bảo An, Những bất cập trong công tác quản lý, bảo vệ môi trường, nguồn: http://www.baoquangninh.com.vn/ doi-song/moi-truong/201204/Nhung-bat-cap-trong-cong-tac-quan-ly-bao-ve-moi-truong-2166185/.

[14]. Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 có duy nhất một điều luật quy định về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí là Điều 64. Hiện nay, Chính phủ chưa có văn bản hướng dẫn thực hiện Điều này.

[15]. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện phân công, phân cấp quản lý nhà nước về môi trường ở trung ương và địa phương, Đề tài khoa học cấp trường, nguồn: http://123doc.org//document/135930-mot-so-giai-phap-nham-hoan-thien-phan-cong-phan-cap-quan-ly-nha-nuoc-ve-moi-truong-o-trung-uong-va-dia-phuong.htm.


Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Quy định mới tại Nghị quyết số 254/2025/QH15 và Nghị định số 49/2026/NĐ-CP với cơ chế đồng thuận trên 75% được kỳ vọng khơi thông hàng nghìn dự án, sẽ tháo gỡ một trong những vướng mắc lớn nhất trong quá trình triển khai các dự án có sử dụng đất.
Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Ngày 10/12/2025, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 chính thức thông qua Luật số 132/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026).
Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 thay thế Pháp lệnh Dân số số 06/2004/PL-UBTVQH11 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Pháp lệnh số 07/2025/UBTVQH15). Một trong những thay đổi căn bản của Luật Dân số năm 2025 là chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển. Những nội dung liên quan đến dân số và phát triển đã được thể hiện trong việc hướng tới giải quyết đồng bộ các vấn đề về quy mô dân số, cơ cấu dân số, thích ứng với già hóa dân số, nâng cao chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của từng địa phương, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.
Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.

Theo dõi chúng tôi trên: