Thứ năm 12/03/2026 08:03
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số bất cập về thời hiệu xử lý kỷ luật các chức danh lãnh đạo, quản lý trong doanh nghiệp nhà nước và người đại diện phần vốn nhà nước tại các doanh nghiệp

Một số bất cập về thời hiệu xử lý kỷ luật các chức danh lãnh đạo, quản lý trong doanh nghiệp nhà nước và người đại diện phần vốn nhà nước tại các doanh nghiệp

Chức danh lãnh đạo, quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu (sau đây gọi là người quản lý doanh nghiệp) và người được cử làm đại diện chủ sở hữu phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp có vốn góp của Nhà nước (sau đây gọi là người đại diện) có vai trò quan trọng trong việc chỉ đạo, điều hành, kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp cũng như thông qua hoạt động của những chủ thể này, Nhà nước thực hiện quyền hạn, trách nhiệm, nghĩa vụ của chủ sở hữu đối với doanh nghiệp. Do tính chất đặc thù trên, Luật Cán bộ, công chức năm 2008 (sau đây gọi là Luật Cán bộ, công chức) đã giao Chính phủ quy định cụ thể việc áp dụng Luật Cán bộ, công chức đối với người quản lý doanh nghiệp và người đại diện[1].

Theo quy định tại Nghị định số 66/2011/NĐ-CP ngày 01/8/2011 của Chính phủ quy định việc áp dụng Luật Cán bộ, công chức đối với chức danh lãnh đạo, quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu và người được cử làm đại diện chủ sở hữu phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp có vốn góp của Nhà nước (sau đây gọi là Nghị định số 66/2011/NĐ-CP), người quản lý doanh nghiệp gồm: Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty, Thành viên Hội đồng thành viên, Kiểm soát viên, Tổng giám đốc, Phó Tổng giám đốc hoặc Giám đốc, Phó Giám đốc, Kế toán trưởng. Ngoài ra, pháp luật quy định người đại diện là cá nhân được chủ sở hữu phần vốn nhà nước ủy quyền bằng văn bản để thực hiện quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ của chủ sở hữu phần vốn nhà nước, bao gồm: Người đại diện là người làm việc chuyên trách tại doanh nghiệp và người đại diện là cán bộ, công chức thuộc cơ quan hành chính nhà nước (Bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh) được cử hoặc chỉ định làm người đại diện kiêm nhiệm tại doanh nghiệp[2].

Bên cạnh các quy định về bổ nhiệm, điều động, luân chuyển, từ chức, miễn nhiệm, thôi làm người đại diện… pháp luật còn quy định vấn đề khen thưởng, kỷ luật đối với người quản lý doanh nghiệp và người đại diện để kịp thời động viên, khuyến khích họ phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ, đồng thời xử lý nghiêm minh mọi hành vi vi phạm pháp luật. Tuy một số quy định về xử lý kỷ luật người quản lý doanh nghiệp và người đại diện vẫn thực hiện theo quy định chung về kỷ luật cán bộ, công chức theo Luật Cán bộ, công chức và Nghị định số 34/2011/NĐ-CP ngày 17/5/2011 của Chính phủ quy định về xử lý kỷ luật đối với công chức (sau đây gọi là Nghị định số 34/2011/NĐ-CP), nhưng Nghị định số 66/2011/NĐ-CP cũng có những quy định riêng biệt về xử lý kỷ luật người quản lý doanh nghiệp và người đại diện so với công chức như: Hình thức kỷ luật chỉ gồm khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, cách chức, buộc thôi việc (không có hình thức giáng chức); không quy định về tổ chức họp kiểm điểm người có hành vi vi phạm…

Trong các quy định về xử lý kỷ luật người quản lý doanh nghiệp và người đại diện, việc quy định thời hiệu xử lý kỷ luật đối với nhóm người này có ý nghĩa rất quan trọng, buộc các cơ quan quản lý nhà nước thường xuyên có các biện pháp kiểm tra, rà soát tình hình thực hiện nhiệm vụ được giao của người quản lý doanh nghiệp và người đại diện để chủ động, thường xuyên có sự phối hợp nhằm phát hiện, kịp thời xử lý các hành vi vi phạm kỷ luật ngay từ khi mới phát sinh. Tuy nhiên, trong thực tế vẫn có một số trường hợp vì lý do này hay lý do khác mà cơ quan có thẩm quyền xử lý kỷ luật đã không xử lý hành vi vi phạm. Đối với những trường hợp này, nếu trong một thời gian nhất định, người quản lý doanh nghiệp, người đại diện được giải thoát khỏi trách nhiệm kỷ luật trong trường hợp đã hết thời hiệu xử lý kỷ luật. Bởi lẽ, xử lý kỷ luật trong trường hợp này là không cần thiết, hơn nữa, lúc này mục đích và hiệu quả xử lý kỷ luật cũng không đạt được. Tuy nhiên, một số quy định của pháp luật về thời hiệu xử lý kỷ luật còn chưa rõ ràng, cụ thể, cần phải tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện, như:

1. Thời hiệu trong trường hợp chưa xem xét xử lý kỷ luật

Mặc dù Nghị định số 66/2011/NĐ-CP không quy định cụ thể về thời hiệu xử lý kỷ luật đối với người quản lý doanh nghiệp, người đại diện, nhưng có thể vận dụng quy định của Luật Cán bộ, công chức và văn bản hướng dẫn thi hành về thời hiệu xử lý kỷ luật để áp dụng đối với người quản lý doanh nghiệp, người đại diện. Theo quy định tại Điều 80 Luật Cán bộ, công chức; Điều 6 Nghị định số 34/2011/NĐ-CP thì:

Thời hiệu xử lý kỷ luật là 24 tháng, kể từ thời điểm công chức có hành vi vi phạm đến thời điểm cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ra thông báo bằng văn bản về việc xem xét kỷ luật. Khi phát hiện công chức có hành vi vi phạm pháp luật, người đứng đầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền phải ra thông báo bằng văn bản về việc xem xét xử lý kỷ luật. Thông báo phải nêu rõ thời điểm công chức có hành vi vi phạm pháp luật, thời điểm phát hiện công chức có hành vi vi phạm pháp luật và thời hạn xử lý kỷ luật.

Thời hạn xử lý kỷ luật là 2 tháng kể từ thời điểm phát hiện hành vi vi phạm kỷ luật của công chức đến khi có quyết định xử lý kỷ luật của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Trường hợp phức tạp, có thể kéo dài thời hạn xử lý kỷ luật nhưng tối đa không quá 4 tháng.

Theo quy định trên, thời hiệu xử lý kỷ luật là thời hạn do pháp luật quy định mà khi hết thời hạn đó thì người vi phạm không bị truy cứu trách nhiệm pháp lý. Thời hiệu xử lý kỷ luật là 2 năm từ ngày công chức có hành vi vi phạm đến thời điểm có thông báo về việc xem xét xử lý kỷ luật. Về nguyên tắc, khi phát hiện người quản lý doanh nghiệp, người đại diện có hành vi vi phạm pháp luật, người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền bổ nhiệm người quản lý doanh nghiệp hoặc cử người đại diện phải tiến hành xử lý kỷ luật. Tuy nhiên, để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người quản lý doanh nghiệp, người đại diện trong trường hợp ốm đau hoặc để phục vụ công tác điều tra, truy tố, xét xử của cơ quan tiến hành tố tụng, pháp luật quy định chưa xem xét xử lý kỷ luật đối với những trường hợp trên. Việc quy định này là phù hợp, vừa thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của Nhà nước ta là ưu tiên chăm sóc sức khỏe cho người lao động, vừa bảo đảm cho cơ quan có thẩm quyền hoàn thành nhiệm vụ được giao khi điều tra, truy tố, xét xử về hành vi vi phạm pháp luật đối với người quản lý doanh nghiệp, người đại diện.

Tại khoản 1 Điều 20 Nghị định số 66/2011/NĐ-CP quy định các trường hợp chưa xem xét xử lý kỷ luật gồm: “a) Đang trong thời gian nghỉ hàng năm, nghỉ theo chế độ, nghỉ việc riêng được cấp có thẩm quyền chấp thuận; b) Đang trong thời gian điều trị có xác nhận của cơ quan y tế có thẩm quyền; c) Đang trong thời gian mang thai, nghỉ thai sản, đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi; d) Đang bị tạm giữ, tạm giam chờ kết luận của cơ quan có thẩm quyền điều tra, truy tố, xét xử về hành vi vi phạm pháp luật”. Bên cạnh đó, để không ảnh hưởng đến quá trình xem xét xử lý kỷ luật đối với người quản lý doanh nghiệp, người đại diện khi xảy ra các trường hợp trên, tại khoản 5 Điều 12 Nghị định số 66/2011/NĐ-CP quy định: “Thời gian chưa xem xét xử lý kỷ luật đối với người quản lý doanh nghiệp và người đại diện trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 20 Nghị định này không tính vào thời hạn xử lý kỷ luật”.

Trong những trường hợp hành vi vi phạm pháp luật của người quản lý doanh nghiệp, người đại diện không xuất hiện các trường hợp chưa xem xét kỷ luật quy định tại khoản 1 Điều 20 Nghị định số 66/2011/NĐ-CP thì cách tính thời hiệu, thời hạn như trên hoàn toàn hợp lý. Nhưng nếu hành vi vi phạm kỷ luật lại có dấu hiệu tội phạm hoặc người vi phạm phải điều trị bệnh hay đang trong thời gian mang thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi; quá trình này lại nằm trong giai đoạn từ khi phát hiện đến lúc ra thông báo về việc xem xét xử lý kỷ luật, sau khi có bản án hoặc quyết định của Tòa án hoặc người đó đi làm bình thường trở lại mà hết thời hiệu xử lý kỷ luật thì việc xử lý kỷ luật được thực hiện như thế nào? Lúc này thời hạn xử lý kỷ luật vẫn còn, nhưng thời hiệu xử lý kỷ luật thì đã hết, vậy hành vi vi phạm đó có bị xử lý kỷ luật không?

Ví dụ: Ông D là người đại diện phần vốn của Nhà nước tại doanh nghiệp, thực hiện một tội phạm ít nghiêm trọng (thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự cho tội này là 5 năm). Đến năm thứ 3, cơ quan có thẩm quyền phát hiện tội phạm (lúc này cơ quan quản lý người đại diện cũng mới biết). Giả sử lúc này chưa hết thời hiệu xử lý kỷ luật thì cơ quan có thẩm quyền sẽ ra thông báo về việc xem xét kỷ luật. Theo quy định, thời gian điều tra, truy tố, xét xử không được tính vào thời hạn, do đó, sau khi có bản án có hiệu lực pháp luật, nếu ông D bị Tòa án phạt tù cho hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ thì sẽ bị xử lý kỷ luật bằng hình thức cách chức (theo khoản 3 Điều 17 Nghị định số 66/2011/NĐ-CP). Nếu ông D bị Tòa án phạt tù không được hưởng án treo thì sẽ bị xử lý kỷ luật bằng hình thức buộc thôi việc (theo khoản 1 Điều 18 Nghị định số 66/2011/NĐ-CP).

Trong ví dụ trên, thời điểm cơ quan có thẩm quyền xử lý kỷ luật phát hiện hành vi vi phạm đã quá 24 tháng kể từ ngày ông D có hành vi vi phạm, tức là hết thời hiệu xử lý kỷ luật. Vì vậy, trong trường hợp này không thể kỷ luật đối với ông D và đương nhiên, việc không xử lý kỷ luật trong trường này vừa không hợp lý, vừa không phù hợp với chính quy định tại khoản 3 Điều 17, khoản 1 Điều 18 Nghị định số 66/2011/NĐ-CP. Trường hợp này chưa được đề cập trong Nghị định số 66/2011/NĐ-CP và cũng chưa được quy định rõ trong Điều 80 Luật Cán bộ, công chức, Nghị định số 34/2011/NĐ-CP.

Rõ ràng hành vi vi phạm của người quản lý doanh nghiệp, người đại diện có dấu hiệu tội phạm hoặc đang phải điều trị thì cơ quan có thẩm quyền xử lý kỷ luật cũng không thể tiến hành kỷ luật khi chưa có kết luận cuối cùng của cơ quan tiến hành tố tụng hoặc cơ quan y tế có thẩm quyền. Mặt khác, khi người quản lý doanh nghiệp, người đại diện bị khởi tố, điều tra, xét xử thì việc kỷ luật bằng hình thức gì (cách chức hay buộc thôi việc) phụ thuộc hoàn toàn vào việc Tòa án tuyên phạt họ bằng hình thức gì (phạt tù cho hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ hay phạt tù mà không được hưởng án treo).

Từ ví dụ trên, để bảo đảm việc xử lý kỷ luật người quản lý doanh nghiệp, người đại diện tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội, đồng thời để bảo đảm việc áp dụng thống nhất giữa các quy định của pháp luật về xử lý kỷ luật, chúng tôi thấy rằng, pháp luật cần quy định bổ sung trường hợp: “Thời gian chưa xem xét xử lý kỷ luật đối với người quản lý doanh nghiệp và người đại diện trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 20 Nghị định này không tính vào thời hiệu xử lý kỷ luật”.

Như vậy, thời hiệu trong trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 20 Nghị định 66/2011/NĐ-CP tính từ thời điểm nào? Để giải quyết vấn đề này thì thời hiệu xử lý kỷ luật không nên tính từ khi người quản lý doanh nghiệp và người đại diện vi phạm như quy định tại Luật Cán bộ, công chức và Nghị định số 34/2011/NĐ-CP mà tùy từng trường hợp cụ thể để tính như sau: Trường hợp người quản lý doanh nghiệp, người đại diện có dấu hiệu phạm tội, bị khởi tố, truy tố hoặc đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục tố tụng hình sự thì thời hiệu xử lý kỷ luật tính từ ngày quyết định đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án hoặc ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Trường hợp người quản lý doanh nghiệp, người đại diện đang điều trị tại cơ sở y tế thì thời hiệu xử lý kỷ luật tính từ ngày người đó đi làm trở lại bình thường.

2. Thời hiệu xử lý kỷ luật trong trường hợp có hành vi vi phạm kéo dài, liên tục

Theo quy định chung, thời hiệu tính từ thời điểm có hành vi vi phạm xảy ra. Do đó, nếu tính từ ngày người quản lý doanh nghiệp, người đại diện bắt đầu có hành vi vi phạm đến ngày cơ quan có thẩm quyền ra thông báo xem xét xử lý kỷ luật chưa quá 24 tháng thì việc xử lý kỷ luật không có vấn đề gì. Tuy nhiên, có trường hợp, nếu tính từ ngày người quản lý doanh nghiệp, người đại diện bắt đầu có hành vi vi phạm đến ngày cơ quan có thẩm quyền xử lý kỷ luật ra thông báo xem xét xử lý kỷ luật đã quá 24 tháng nhưng nếu tính từ ngày người đó chấm dứt hành vi vi phạm đến ngày cơ quan có thẩm quyền ra thông báo xem xét xử lý kỷ luật chưa quá 24 tháng thì việc xử lý kỷ luật có được tiến hành không?

Ví dụ: Từ khi được bổ nhiệm giữ chức Phó Tổng giám đốc (tháng 10/2012), bà Y thường xuyên ký các văn bản, giấy tờ không đúng thẩm quyền liên quan đến hoạt động của công ty. Đến tháng 11/2014, công ty mới phát hiện ra hành vi vi phạm của bà Y (lúc này, bà Y mới chấm dứt hành vi vi phạm của mình). Như vậy, nếu tính từ thời điểm bà Y bắt đầu vi phạm đến thời điểm phát hiện thì đã quá 24 tháng, nhưng nếu tính từ thời điểm bà Y chấm dứt hành vi vi phạm đến thời điểm bị phát hiện thì chưa quá 24 tháng.

Trường hợp khác: Trong lúc làm quy trình bổ nhiệm ông K giữ chức Thành viên chuyên trách Hội đồng thành viên, ông K đã sử dụng Bằng tốt nghiệp giả để hoàn thiện hồ sơ đề nghị bổ nhiệm của mình. 03 năm sau, hành vi của ông K mới bị phát hiện (lúc này, ông K vẫn đang trong nhiệm kỳ giữ chức vụ). Như vậy, nếu áp dụng thời hiệu xử lý kỷ luật theo cách tính từ ngày thực hiện hành vi thì không thể xử lý kỷ luật bằng hình thức cách chức theo quy định tại khoản 1 Điều 17 Nghị định số 66/2011/NĐ-CP đối với ông K được.

Các tình huống này chưa được quy định rõ trong khoản 1 Điều 80 Luật Cán bộ, công chức; khoản 1 Điều 6 Nghị định số 34/2011/NĐ-CP. Nội dung khoản 1 Điều 80 Luật Cán bộ, công chức; khoản 1 Điều 6 Nghị định số 34/2011/NĐ-CP chỉ quy định về thời hiệu xử lý kỷ luật là 24 tháng mà không quy định ngoại lệ nên có thể hiểu theo cách mọi trường hợp khi hết 24 tháng kể từ thời điểm có hành vi vi phạm thì việc xử lý kỷ luật không được đặt ra nữa. Rõ ràng là trong trường hợp này, việc xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức nói chung, người quản lý doanh nghiệp, người đại diện nói riêng là rất cần thiết. Tuy nhiên, muốn xử lý kỷ luật trong trường hợp này thì phải coi hành vi vi phạm của người quản lý doanh nghiệp, người đại diện vẫn trong thời hiệu. Ở ví dụ trên, có thể coi hành vi vi phạm của bà Y có dấu hiệu vi phạm liên tục, hành vi của ông K có dấu hiệu kéo dài. Vi phạm liên tục là trường hợp người vi phạm thực hiện nhiều hành động vi phạm cùng tính chất đối với một đối tượng, vi phạm kéo dài là trường hợp xét về bản chất, hành vi đó kéo dài từ lúc bắt đầu thực hiện và chỉ kết thúc khi hành vi đó bị phát hiện hoặc người vi phạm chủ động kết thúc hành vi đó.

Ở đây, theo chúng tôi, có thể tham khảo quy định của pháp luật hình sự về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với trường hợp phạm tội liên tục, phạm tội kéo dài và pháp luật hành chính về hành vi vi phạm liên tục, kéo dài[3] để quy định thời hiệu xử lý kỷ luật đối với người quản lý doanh nghiệp, người đại diện trong trường hợp họ có hành vi vi phạm liên tục, vi phạm kéo dài. Theo đó, đối với hành vi vi phạm liên tục, thời hiệu xử lý kỷ luật là thời điểm khi người vi phạm thực hiện hành vi cuối cùng. Đối với vi phạm kéo dài, thời hiệu xử lý kỷ luật tính từ thời điểm hành vi đó chấm dứt hoặc là ngày cơ quan có thẩm quyền phát hiện ra vi phạm đó, không phụ thuộc vào việc vi phạm đó được thực hiện từ ngày nào.

3. Thời hiệu trong trường hợp kỷ luật lại

Hiện nay, pháp luật chưa có quy định cụ thể về vấn đề khiếu nại quyết định kỷ luật khi người quản lý doanh nghiệp, người đại diện bị xử lý kỷ luật. Tuy nhiên, có thể vận dụng các quy định về khiếu nại đối với công chức để áp dụng cho người quản lý doanh nghiệp, người đại diện. Theo quy định tại khoản 7 Điều 23 Nghị định số 34/2011/NĐ-CP thì: “Trường hợp cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo kết luận việc xử lý kỷ luật công chức tiến hành không đúng quy định về áp dụng hình thức kỷ luật, trình tự, thủ tục và thẩm quyền xử lý kỷ luật thì người đứng đầu cơ quan đã ký quyết định kỷ luật phải ra quyết định hủy bỏ quyết định xử lý kỷ luật; đồng thời cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền xử lý kỷ luật phải tiến hành xem xét xử lý kỷ luật công chức theo đúng quy định tại Nghị định này”.

Theo quy định trên, khi có căn cứ để cho rằng quyết định xử lý kỷ luật là trái pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì người quản lý doanh nghiệp, người đại diện có thể khiếu nại quyết định đó đến người ra quyết định xử lý kỷ luật hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật Tố tụng hành chính. Khi đó, cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại sẽ thực hiện việc giải quyết yêu cầu của người quản lý doanh nghiệp, người đại diện theo quy định của pháp luật về khiếu nại. Tuy nhiên, ở đây xảy ra hai trường hợp, nếu quá trình giải quyết khiếu nại, cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại khẳng định cơ quan ra quyết định xử lý kỷ luật đã làm đúng các quy định của pháp luật thì không có vấn đề gì đặt ra, nhưng nếu cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại kết luận việc xử lý kỷ luật người quản lý doanh nghiệp, người đại diện tiến hành không đúng quy định về nội dung, hình thức, quy trình xử lý và tuyên hủy hoặc yêu cầu người có thẩm quyền ký quyết định kỷ luật phải ra quyết định hủy bỏ quyết định xử lý kỷ luật và tổ chức lại việc xem xét kỷ luật người quản lý doanh nghiệp, người đại diện thì thời hiệu xử lý kỷ luật lại tính từ khi nào? Khoản 7 Điều 23 Nghị định số 34/2011/NĐ-CP chỉ quy định “…cơ quan có thẩm quyền xử lý kỷ luật phải tiến hành xem xét xử lý kỷ luật công chức theo đúng quy định tại Nghị định này”. Điều này sẽ đồng nghĩa với việc thời hiệu xử lý kỷ luật sẽ được tính từ thời điểm xảy ra hành vi vi phạm. Khi đó, việc xử lý kỷ luật sẽ không thể thực hiện được vì có thể đã quá 24 tháng, kể từ thời điểm hành vi vi phạm xảy ra.

Vì vậy, để giải quyết tình huống trên, theo chúng tôi, Luật Cán bộ, công chức; Nghị định số 34/2011/NĐ-CP hoặc Nghị định số 66/2011/NĐ-CP cần bổ sung quy định về thời hiệu xử lý kỷ luật như sau: “Trường hợp phải tiến hành xem xét lại việc kỷ luật người quản lý doanh nghiệp, người dại diện theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền về giải quyết khiếu nại thì thời hiệu xem xét xử lý kỷ luật được tính từ thời điểm kết luận của cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại có hiệu lực”.

Tóm lại, xử lý kỷ luật người quản lý doanh nghiệp, người đại diện là vấn đề quan trọng, không chỉ ảnh hưởng trực tiếp tới quyền, lợi ích của họ mà đôi khi còn ảnh hưởng đến uy tín, hình ảnh của doanh nghiệp. Nếu việc xử lý kỷ luật đối với người quản lý doanh nghiệp, người đại diện được thực hiện nghiêm minh, đúng pháp luật cộng với hệ thống pháp luật đầy đủ, khoa học sẽ góp phần ngăn ngừa hành vi vi phạm, nâng cao chất lượng đội ngũ lãnh đạo, quản lý, điều hành doanh nghiệp, đồng thời càng khẳng định vai trò của Nhà nước trong việc thực hiện quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước và phần vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp. Qua nghiên cứu các quy định của pháp luật về thời hiệu xử lý kỷ luật đối với người quản lý doanh nghiệp, người đại diện cho thấy, một số quy định liên quan cần được cơ quan có thẩm quyền tiếp tục nghiên cứu, làm sáng tỏ để kịp thời chỉnh sửa, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn, nhằm tạo cơ sở pháp lý đồng bộ, khoa học, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung, pháp luật về xử lý kỷ luật người quản lý doanh nghiệp, người đại diện nói riêng.

ThS. Nguyễn Cao Hiếu

Vụ Tổ chức cán bộ, Bộ Giao thông - Vận tải


[1] Xem: Khoản 3 Điều 84 Luật Cán bộ, công chức.

[2] Xem: Khoản 2 Điều 2 Quy chế hoạt động của người đại diện theo ủy quyền đối với phần vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp ban hành kèm theo Thông tư số 21/2014/TT-BTC ngày 14/02/2014 của Bộ Tài chính.

[3] Đại học Luật Hà Nội: Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, 2006, Nxb. Công an nhân dân, tr 320; Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam, 2009, Nxb. Công an nhân dân, tr.225.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: