Thứ sáu 16/01/2026 15:44
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số cam kết quốc tế của Việt Nam liên quan đến phát triển dịch vụ môi trường

Tóm tắt: Trong khuôn khổ bài viết này, tác giả đề cập và phân tích một số cam kết quốc tế của Việt Nam liên quan đến phát triển dịch vụ môi trường. Từ đó, đưa ra những đánh giá, nhận xét về khả năng đáp ứng các cam kết quốc tế về dịch vụ môi trường của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Abstract: Within this article, the author concerns and analyses some international commitments of Vietnam relating to the development of environment services. From this study, the article brings out assessments, comments on the possibility of meeting international commitments relating to environment services in Vietnam in the current phase.

Dịch vụ môi trường (DVMT) hiện đóng vai trò ngày càng quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt trong bối cảnh tự do hóa thương mại và tăng trưởng kinh tế toàn cầu mạnh mẽ trong những thập kỷ vừa qua đã làm gia tăng quy mô sản xuất và tiêu dùng toàn cầu, qua đó dẫn đến sự gia tăng sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn nguyên liệu hóa thạch và chất thải mà hậu quả là gia tăng ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu. Bên cạnh đó, cùng với sự gia tăng dân số thế giới, xu hướng đô thị hóa và thay đổi trong mẫu hình tiêu thụ đã khiến môi trường phải chịu sức ép ngày càng tăng và phát triển DVMT đang là một nhu cầu hết sức cấp thiết ở các quốc gia, bao gồm cả Việt Nam để giải quyết các áp lực về ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu.

1. Các cam kết quốc tế về dịch vụ môi trường của Việt Nam

Các cam kết quốc tế về dịch vụ môi trường của Việt Nam căn cứ trên các cam kết với WTO và các quy định pháp luật của Việt Nam về vấn đề này. Hiện nay, trên thế giới, Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) và Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) đang là những tổ chức quốc tế dẫn đầu trong thúc đẩy quá trình tự do hóa thương mại về dịch vụ môi trường thông qua hình thành Hiệp định thương mại riêng trong khuôn khổ của các tổ chức. Trong đó, các cam kết quốc tế về DVMT chủ yếu tập trung vào nội dung mở cửa thị trường và đối xử quốc gia, cụ thể là các thể thức cung cấp: (i) Cung cấp dịch vụ qua biên giới; (ii) Tiêu dùng nước ngoài; (iii) Hiện diện của thể nhân; (iv) Hiện diện thương mại.

1.1. Cam kết dịch vụ môi trường trong WTO

Các quy định của WTO về các dịch vụ môi trường được quy định trong Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ (GATS). GATS đưa ra bốn dạng cung cấp dịch vụ. Trong các dịch vụ, thì dịch vụ môi trường, tiếp cận thị trường và các nghĩa vụ đối xử quốc gia áp dụng chỉ với những lĩnh vực dịch vụ có cam kết cụ thể được các nước thành viên thực hiện riêng rẽ theo từng dạng cung cấp. Cam kết của các nước thành viên được ghi vào lộ trình tương ứng của các cam kết cụ thể. Lộ trình các cam kết liên quan tới DVMT của Việt Nam như sau: Dịch vụ xử lý nước thải; dịch vụ xử lý rác thải; dịch vụ vệ sinh và xử lý khí thải; dịch vụ xử lý tiếng ồn; dịch vụ bảo vệ thiên nhiên và cảnh quan và các dịch vụ bảo vệ môi trường khác[1].

(i) Cung cấp qua biên giới: Việt Nam đưa ra không giới hạn cho tất cả các dịch vụ môi trường được đề cập, ngoại trừ các dịch vụ đánh giá tác động môi trường. Liên quan tới các dịch vụ đánh giá tác động môi trường, Việt Nam không thể đưa ra các hạn chế tiếp cận thị trường và đối xử quốc gia.

(ii) Tiêu dùng nước ngoài: Việt Nam không đưa ra giới hạn về tiếp cận thị trường và đối xử quốc gia trong những lĩnh vực dịch vụ môi trường, tuy nhiên, những cam kết này là những cam kết ít quan trọng để thúc đẩy đầu tư về hàng hóa và dịch vụ môi trường trên lãnh thổ Việt Nam.

(iii) Hiện diện thương mại: Các điều kiện về tiếp cận thị trường được bổ sung: Văn phòng đại diện của các nhà cung cấp dịch vụ được cấp phép để thành lập tại Việt Nam, nhưng những văn phòng này sẽ không được tham gia bất cứ hoạt động có lợi nhuận trực tiếp và không giới hạn việc thành lập các chi nhánh. Liên quan tới đối xử quốc gia, các cam kết chung khẳng định, các điều kiện về trợ cấp có thể bị hạn chế với những nhà cung cấp dịch vụ Việt Nam, cụ thể là hạn chế đối với thể nhân hoạt động trong lãnh thổ Việt Nam, hoặc thuộc một phần lãnh thổ Việt Nam. Việc hỗ trợ, trợ cấp một lần để thúc đẩy và tạo điều kiện cho quá trình cổ phần hóa không vi phạm cam kết này. Việt Nam duy trì không giới hạn với các trợ cấp cho nghiên cứu, phát triển và trợ cấp cho lĩnh vực sức khỏe.

(iv) Hiện diện của thể nhân: Giấy phép làm việc, các điều kiện cấp visa là những quy định hạn chế thương mại trong lĩnh vực DVMT Việt Nam duy trì việc tự do phê chuẩn các giải pháp không tương thích với tiếp cận thị trường và đối xử quốc gia trừ các giải pháp về việc đến và ở tạm thời của những cán bộ được luân chuyển, người bán hàng, cá nhân chịu trách nhiệm thành lập các sự hiện diện về thương mại và các nhà cung cấp dịch vụ theo hợp đồng. Thêm vào đó, các cam kết của Việt Nam gắn với việc miễn trừ theo các nguyên tắc tối huệ quốc (MFN). Việt Nam đã đưa lộ trình miễn trừ chung liên quan tới hiện diện thương mại, áp dụng các giải pháp mở rộng đối xử ưu đãi theo các hiệp định đầu tư song phương (BIT). Trong thực tế, Việt Nam vẫn giữ khả năng phân biệt về ưu tiên đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đến từ các nước có tham gia BIT.

1.2. Cam kết dịch vụ môi trường trong Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN)

Hầu hết các cam kết mới nhất của Việt Nam trong lĩnh vực dịch vụ môi trường là nằm trong gói cam kết thứ 8 ngày 15/5/2012. Gói cam kết thứ 8 theo Hiệp định khung ASEAN về dịch vụ (AFAS), giống như cam kết của GATS[2].

Các cam kết của Việt Nam thừa kế các cam kết của GATS, đồng thời cũng mở rộng các cam kết đó. Việt Nam đã bổ sung các cam kết trong lĩnh vực dịch vụ môi trường như “dịch vụ vệ sinh và tương tự”, “dịch vụ bảo vệ tự nhiên và cảnh quan”. Do đó, phạm vi của AFAS trong lĩnh vực môi trường có phần rộng hơn so với GATS. Các cam kết chung của Việt Nam được đưa vào lộ trình theo AFAS giống như GATS.

1.3. Cam kết dịch vụ môi trường trong Liên minh châu Âu (EU)

Đây là Hiệp định thương mại song phương đầu tiên mà cam kết về hàng hóa và dịch vụ môi trường được đề cập đến tại Chương 15 - Thương mại và phát triển bền vững. Trong đó, Điều 9 của Chương 15 chỉ ra rằng, các nước thành viên đã khẳng định sự cam kết để tăng cường sự đóng góp của các bên trong lĩnh vực thương mại và đầu tư, đồng thời đi kèm với các mục tiêu về phát triển bền vững ở các khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường.

Theo Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam - EU (EVFTA), các bên sẽ nỗ lực tạo thuận lợi và tăng cường thương mại, đầu tư trực tiếp nước ngoài vào DVMT (công nghệ thân thiện với môi trường) gồm cả việc đề cập đến các hàng rào phi thuế quan. Trong khuôn khổ đàm phán, EU đã thúc đẩy việc đàm phán nhằm mở cửa hơn nữa nội dung DVMT như các dịch vụ quản lý nước thải và sử dụng hiệu quả năng lượng để khuyến khích việc tự do hóa các loại DVMT. Vì vậy, đối với lĩnh vực DVMT, cam kết giữa Việt Nam và EU trong lĩnh vực thương mại và môi trường tập trung vào việc cắt giảm các hàng rào thuế quan và phi thuế quan như các dịch vụ tư vấn về quản lý nước thải. Theo quan điểm của các bên, việc tự do hóa dịch vụ môi trường là công cụ quan trọng nhằm đạt được phát triển bền vững[3].

1.4. Cam kết dịch vụ môi trường trong Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP)

TPP là Hiệp định thương mại đa phương đầu tiên đưa nội dung cam kết về hàng hóa và dịch vụ môi trường thành một điều khoản riêng. Tại Điều 18 của Chương 20 về môi trường, các nội dung cam kết đối với hàng hóa và dịch vụ môi trường được đề cập như sau: (i) Thương mại, đầu tư hàng hóa và DVMT được coi là một phương tiện để cải thiện hiệu suất kinh tế và môi trường, từ đó giải quyết các thách thức của môi trường toàn cầu; (ii) Các bên công nhận tầm quan trọng của Hiệp định này để khuyến khích thương mại và đầu tư hàng hóa, DVMT tại các khu vực thương mại tự do; (iii) Ủy ban sẽ xem xét các vấn đề xác định bởi một bên hoặc các bên liên quan đến thương mại hàng hóa và DVMT, bao gồm cả các vấn đề được xác định là các rào cản phi thuế quan đối với tiềm năng thương mại đó. Các bên hoặc một bên sẽ nỗ lực để giải quyết các rào cản đối với thương mại hàng hóa và DVMT, kể cả bằng cách kết hợp với các ủy ban có liên quan khác được thành lập theo Hiệp định này; (iv) Các bên có thể phát triển các dự án hợp tác song phương và đa phương về hàng hóa và dịch vụ để giải quyết những thách thức với thương mại toàn cầu liên quan đến môi trường trong hiện tại và tương lai. Ngoài ra, tại Điều 15, các bên cũng có cam kết liên quan đến thúc đẩy phát triển năng lượng tái tạo và hiệu quả năng lượng với việc cam kết về các lĩnh vực hợp tác có thể bao gồm, nhưng không giới hạn: Hiệu quả năng lượng; phát triển, thay thế công nghệ nhằm làm giảm lượng khí thải với chi phí - hiệu quả, năng lượng sạch, các nguồn năng lượng tái tạo; giao thông vận tải bền vững, phát triển cơ sở hạ tầng đô thị bền vững; giải quyết việc phá rừng và suy thoái rừng; giám sát khí thải theo cơ chế thị trường và phi thị trường, phát triển nền kinh tế, chia sẻ thông tin và kinh nghiệm trong việc giải quyết vấn đề này. Hơn nữa, các bên sẽ (khi thích hợp) tham gia vào các hoạt động hợp tác và xây dựng năng lực liên quan đến việc chuyển đổi sang nền kinh tế ít khí thải.

2. Đánh giá về khả năng đáp ứng các cam kết dịch vụ môi trường của Việt Nam

2.1. Về khuôn khổ pháp luật đáp ứng các yêu cầu thực hiện cam kết

Thứ nhất, môi trường kinh doanh

Thực tế cho thấy, ở nước ta, quyền sở hữu đối với tài nguyên và DVMT chưa được phân định rõ ràng. Tại nước ta, nhiều loại tài nguyên và các DVMT được coi như tài sản công cộng, ai cũng có quyền sử dụng không phải trả phí. Bên cạnh đó, việc khai thác các tài nguyên và DVMT này do một người hoặc một nhóm người không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác chúng đối với những người khác, do vậy dẫn đến hiện tượng suy thoái tài nguyên môi trường hoặc không ai chịu trả cho các hoạt động làm sạch môi trường. Giấy phép kinh doanh và chứng chỉ hành nghề là rất cần thiết đối với việc cung ứng một số dịch vụ chiến lược hay dịch vụ phát triển kinh doanh. Để cung cấp những dịch vụ chuyên nghiệp như DVMT đòi hỏi phải có những chứng chỉ chuyên nghiệp do pháp luật quy định. Tuy nhiên, một số văn bản pháp luật cần thiết cho đến nay vẫn chưa được ban hành, dẫn đến sự lẫn lộn và không rõ ràng về các điều kiện và tiêu chí cho việc cung cấp loại hình dịch vụ này. Các thủ tục về cấp phép đối với DVMT là không rõ ràng và không minh bạch. Bên cạnh đó, chúng ta chưa có cơ chế thị trường cho hàng hóa và DVMT phát triển. Việc xây dựng cơ chế thị trường cho DVMT sẽ giúp giảm gánh nặng ngân sách nhà nước, tăng hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của ngành. Một vấn đề cần điều chỉnh hoặc quy định cụ thể lại một cách thích hợp là mức thuế thu nhập đối với các doanh nghiệp DVMT nhằm khuyến khích sự tham gia của các doanh nghiệp. Hiện nay, trừ một số trường hợp đặc biệt, tất cả các doanh nghiệp ở Việt Nam đều phải đóng thuế giá trị gia tăng (VAT) và thuế thu nhập doanh nghiệp.

Thứ hai, chính sách ưu đãi chưa khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực dịch vụ môi trường

Nhiều chính sách ưu đãi còn quy định chung chung, chẳng hạn, Nhà nước khuyến khích sử dụng các phương pháp quản lý môi trường mang tính hệ thống, những lợi ích của doanh nghiệp và cơ chế hỗ trợ chưa rõ ràng. Tương tự như vậy, việc khuyến khích sử dụng công nghệ thân thiện với môi trường, các nguồn nguyên liệu đầu vào không gây ô nhiễm, hạn chế khai thác tài nguyên, quy trình sản xuất sạch… phải có các quy định hoặc các cơ chế tài chính cụ thể để các doanh nghiệp có thể tiếp cận. Hiện nay, hầu hết các doanh nghiệp kinh doanh bằng vốn tự có, chưa có sự bảo lãnh của các cơ quan tài chính ngân hàng…

Thứ ba, công tác quản lý dịch vụ môi trường

Một thách thức lớn đối với hầu hết các nền kinh tế là trách nhiệm đối với ngành DVMT lại thuộc phạm vi quản lý của nhiều bộ, ngành. Hơn nữa, các tỉnh và các sở cũng chịu trách nhiệm về các hoạt động của ngành dịch vụ đó trong phạm vi của tỉnh. Kết quả là một hệ thống quản lý hành chính phức tạp với các mối liên kết hàng dọc và hàng ngang. Hiệu quả hoạt động của hệ thống hành chính phức tạp như vậy phụ thuộc vào một số điều kiện như độ minh bạch, tính rõ ràng, quá trình giám sát và đánh giá tốt.

2.2. Về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ môi trường

DVMT là phân ngành dịch vụ thuộc nhóm ngành hỗ trợ sản xuất, kinh doanh và phục vụ nhu cầu đời sống xã hội. Năng lực cạnh tranh của ngành DVMT nói chung và doanh nghiệp DVMT nói riêng nếu đáp ứng các cam kết quốc tế cần quan tâm một số vấn đề sau đây:

Một là, về khả năng cung cấp dịch vụ

Trình độ phát triển ngành DVMT ở Việt Nam còn ở mức thấp, một mặt là khó khăn song cũng chính là cơ hội lớn cho các doanh nghiệp tham gia đầu tư và tổ chức kinh doanh, khai thác thị trường và thu lợi nhuận. Thực tế là nhu cầu về cấp nước, xử lý ô nhiễm môi trường đang tăng với tốc độ rất nhanh và đòi hỏi chất lượng ngày càng cao. Trong khi “cung” chưa đủ đáp ứng được “cầu” thì việc tham gia vào thị trường này luôn hứa hẹn khả năng thu lợi và đem lại cơ hội thành công cao cho các nhà đầu tư. Chủ trương xã hội hóa, mở rộng sự tham gia của các thành phần kinh tế trong và ngoài nước vào đầu tư phát triển ngành DVMT đã được khẳng định trong các văn bản, chính sách, quy định của Việt Nam là thuận lợi rất cơ bản cho các doanh nghiệp xác định chiến lược kinh doanh dài hạn trong lĩnh vực này ở Việt Nam trong thời gian tới. Bên cạnh đó, cần chú trọng đào tạo nguồn nhân lực, bởi đội ngũ nhân viên của doanh nghiệp dịch vụ là người tạo ra dịch vụ; tăng cường nguồn lực, tạo điều kiện cho hoạt động nghiên cứu và phát triển trong lĩnh vực DVMT; đổi mới cách thức quản lý và tổ chức hoạt động kinh doanh của ngành DVMT ở Việt Nam; chủ động giáo dục hình thành thói quen sử dụng DVMT của đại đa số các doanh nghiệp ở Việt Nam.

Hai là, về các yếu tố về thị trường

Đây là ngành dịch vụ có tiềm năng phát triển rất rộng lớn trên cơ sở của một thị trường với quy mô doanh nghiệp lớn, đang trong quá trình phát triển. Sự phát triển kinh tế - xã hội trước hết tạo nên những nhu cầu về dịch vụ phục vụ sản xuất, kinh doanh nhiều hơn là những nhu cầu về dịch vụ phục vụ đời sống, nhưng đến một giai đoạn nhất định thì những nhu cầu về dịch vụ phục vụ đời sống sẽ đóng vai trò quyết định cho sự tăng trưởng của toàn bộ khu vực dịch vụ. Việt Nam có thể được coi là một thị trường đang trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ cả ở hai nhóm ngành dịch vụ này. Theo đánh giá hiện nay, phần lớn các doanh nghiệp còn bỏ ngỏ hay trốn tránh việc xử lý ô nhiễm môi trường từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình, do đó trong thời gian tới, việc thắt chặt hoạt động quản lý bảo vệ môi trường bằng các công cụ chính sách pháp luật sẽ mở ra một thị trường phát triển dịch vụ môi trường rất rộng lớn.

Tóm lại, các cam kết về DVMT của Việt Nam vẫn chỉ dừng lại ở các tuyên bố chung, chưa tạo ra bước đột phá nào so với các cam kết trước đây. Tuy nhiên, đây được xem là một bước tiến thành công nhất cho đến thời điểm hiện tại đối với vấn đề tự do hóa thương mại đối với dịch vụ môi trường do những khó khăn về thống nhất được danh mục và sự không đồng nhất của các quốc gia đàm phán, mà bản thân các cam kết về DVMT cũng như sự cam kết của Việt Nam đều chưa tạo ra nhiều khác biệt so với các cam kết đối với các nhóm dịch vụ khác. Đặc biệt là các cam kết trong TPP, EVFTA hiện nay cũng mới chỉ dừng lại ở mức độ quá chung chung, do đó, thực tiễn áp dụng sẽ gặp những khó khăn nhất định.

ThS. Võ Thị Kim Tuyến

Viện Nghiên cứu Thương mại, Bộ Công thương

Tài liệu tham khảo:

[1]. https://docs.wto.org.

[2].http://www.asean.org/communities/asean-economic-community/item/member-countries-horizontal-commitments-schedules-of-specific-commitments-and-the-list-of-most-favoured-nation-exemptions Annexes to the Protocol to Implement the Eighth Package of Commitments under the ASEAN Framework Agreement on Services.

[3]. Tài liệu Hội thảo chuyên đề “Đánh giá tác động kinh tế, xã hội và môi trường của Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA)”, Hà Nội, năm 2014.



Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích những bất cập trong quy định của pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con, từ đó, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy quyền được giáo dục của con trong gia đình được thực hiện hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển của trẻ em và xã hội trong bối cảnh hiện nay.
Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu một số học thuyết và phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật, chỉ ra những bất cập tồn tại trong quy định pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam chưa phù hợp với các học thuyết này. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng trong thời gian tới.
Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Tóm tắt: Cải cách thủ tục hành chính là yếu tố quan trọng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính, thúc đẩy cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đặc biệt là tạo động lực cho đổi mới sáng tạo. Nghiên cứu này phân tích sự cần thiết của cải cách thủ tục hành chính và thực trạng cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam trong việc khơi thông động lực đổi mới sáng tạo, từ đó, đề xuất giải pháp cải cách.
Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích quá trình phát triển tư tưởng về mối quan hệ giữa luật pháp và kinh tế học, tập trung vào trường phái kinh tế học pháp luật với phương pháp phân tích chi phí - lợi ích làm nổi bật vai trò quan trọng của việc cân nhắc các tác động hành vi cùng hiệu quả phân bổ nguồn lực trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật. Trên cơ sở đó, đề xuất áp dụng phương pháp kinh tế học pháp luật vào quy trình lập pháp tại Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả, tính minh bạch, sự công bằng xã hội và góp phần thúc đẩy cải cách pháp luật bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chuyển đổi số.
Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Tranh chấp lao động cá nhân là tranh chấp phổ biến nhất trong quan hệ lao động và ngày càng diễn biến phức tạp, cùng với đó, nhu cầu về cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả, linh hoạt và bảo đảm quyền lợi cho các bên cũng ngày càng tăng trong lĩnh vực lao động. Trọng tài lao động với tính chất độc lập và được thiết kế theo cơ chế ba bên, có tiềm năng trở thành phương thức giải quyết tranh chấp lao động cá nhân hiệu quả. Bài viết phân tích thực trạng pháp luật hiện hành về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.
Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích các dấu hiệu nhận diện đặc trưng của tài sản số, những khó khăn, bất cập khi thiếu khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số, kinh nghiệm của Hoa Kỳ và giá trị tham khảo cho Việt Nam. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng khung pháp lý vững chắc giúp Việt Nam có cơ hội phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực công nghệ, bảo vệ quyền lợi của người sở hữu tài sản số, tận dụng tối đa tiềm năng từ tài sản số và tiếp tục vững bước trên con đường phát triển kinh tế số.

Theo dõi chúng tôi trên: