Thứ ba 26/05/2026 03:54
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số cam kết quốc tế của Việt Nam liên quan đến phát triển dịch vụ môi trường

Tóm tắt: Trong khuôn khổ bài viết này, tác giả đề cập và phân tích một số cam kết quốc tế của Việt Nam liên quan đến phát triển dịch vụ môi trường. Từ đó, đưa ra những đánh giá, nhận xét về khả năng đáp ứng các cam kết quốc tế về dịch vụ môi trường của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Abstract: Within this article, the author concerns and analyses some international commitments of Vietnam relating to the development of environment services. From this study, the article brings out assessments, comments on the possibility of meeting international commitments relating to environment services in Vietnam in the current phase.

Dịch vụ môi trường (DVMT) hiện đóng vai trò ngày càng quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt trong bối cảnh tự do hóa thương mại và tăng trưởng kinh tế toàn cầu mạnh mẽ trong những thập kỷ vừa qua đã làm gia tăng quy mô sản xuất và tiêu dùng toàn cầu, qua đó dẫn đến sự gia tăng sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn nguyên liệu hóa thạch và chất thải mà hậu quả là gia tăng ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu. Bên cạnh đó, cùng với sự gia tăng dân số thế giới, xu hướng đô thị hóa và thay đổi trong mẫu hình tiêu thụ đã khiến môi trường phải chịu sức ép ngày càng tăng và phát triển DVMT đang là một nhu cầu hết sức cấp thiết ở các quốc gia, bao gồm cả Việt Nam để giải quyết các áp lực về ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu.

1. Các cam kết quốc tế về dịch vụ môi trường của Việt Nam

Các cam kết quốc tế về dịch vụ môi trường của Việt Nam căn cứ trên các cam kết với WTO và các quy định pháp luật của Việt Nam về vấn đề này. Hiện nay, trên thế giới, Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) và Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) đang là những tổ chức quốc tế dẫn đầu trong thúc đẩy quá trình tự do hóa thương mại về dịch vụ môi trường thông qua hình thành Hiệp định thương mại riêng trong khuôn khổ của các tổ chức. Trong đó, các cam kết quốc tế về DVMT chủ yếu tập trung vào nội dung mở cửa thị trường và đối xử quốc gia, cụ thể là các thể thức cung cấp: (i) Cung cấp dịch vụ qua biên giới; (ii) Tiêu dùng nước ngoài; (iii) Hiện diện của thể nhân; (iv) Hiện diện thương mại.

1.1. Cam kết dịch vụ môi trường trong WTO

Các quy định của WTO về các dịch vụ môi trường được quy định trong Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ (GATS). GATS đưa ra bốn dạng cung cấp dịch vụ. Trong các dịch vụ, thì dịch vụ môi trường, tiếp cận thị trường và các nghĩa vụ đối xử quốc gia áp dụng chỉ với những lĩnh vực dịch vụ có cam kết cụ thể được các nước thành viên thực hiện riêng rẽ theo từng dạng cung cấp. Cam kết của các nước thành viên được ghi vào lộ trình tương ứng của các cam kết cụ thể. Lộ trình các cam kết liên quan tới DVMT của Việt Nam như sau: Dịch vụ xử lý nước thải; dịch vụ xử lý rác thải; dịch vụ vệ sinh và xử lý khí thải; dịch vụ xử lý tiếng ồn; dịch vụ bảo vệ thiên nhiên và cảnh quan và các dịch vụ bảo vệ môi trường khác[1].

(i) Cung cấp qua biên giới: Việt Nam đưa ra không giới hạn cho tất cả các dịch vụ môi trường được đề cập, ngoại trừ các dịch vụ đánh giá tác động môi trường. Liên quan tới các dịch vụ đánh giá tác động môi trường, Việt Nam không thể đưa ra các hạn chế tiếp cận thị trường và đối xử quốc gia.

(ii) Tiêu dùng nước ngoài: Việt Nam không đưa ra giới hạn về tiếp cận thị trường và đối xử quốc gia trong những lĩnh vực dịch vụ môi trường, tuy nhiên, những cam kết này là những cam kết ít quan trọng để thúc đẩy đầu tư về hàng hóa và dịch vụ môi trường trên lãnh thổ Việt Nam.

(iii) Hiện diện thương mại: Các điều kiện về tiếp cận thị trường được bổ sung: Văn phòng đại diện của các nhà cung cấp dịch vụ được cấp phép để thành lập tại Việt Nam, nhưng những văn phòng này sẽ không được tham gia bất cứ hoạt động có lợi nhuận trực tiếp và không giới hạn việc thành lập các chi nhánh. Liên quan tới đối xử quốc gia, các cam kết chung khẳng định, các điều kiện về trợ cấp có thể bị hạn chế với những nhà cung cấp dịch vụ Việt Nam, cụ thể là hạn chế đối với thể nhân hoạt động trong lãnh thổ Việt Nam, hoặc thuộc một phần lãnh thổ Việt Nam. Việc hỗ trợ, trợ cấp một lần để thúc đẩy và tạo điều kiện cho quá trình cổ phần hóa không vi phạm cam kết này. Việt Nam duy trì không giới hạn với các trợ cấp cho nghiên cứu, phát triển và trợ cấp cho lĩnh vực sức khỏe.

(iv) Hiện diện của thể nhân: Giấy phép làm việc, các điều kiện cấp visa là những quy định hạn chế thương mại trong lĩnh vực DVMT Việt Nam duy trì việc tự do phê chuẩn các giải pháp không tương thích với tiếp cận thị trường và đối xử quốc gia trừ các giải pháp về việc đến và ở tạm thời của những cán bộ được luân chuyển, người bán hàng, cá nhân chịu trách nhiệm thành lập các sự hiện diện về thương mại và các nhà cung cấp dịch vụ theo hợp đồng. Thêm vào đó, các cam kết của Việt Nam gắn với việc miễn trừ theo các nguyên tắc tối huệ quốc (MFN). Việt Nam đã đưa lộ trình miễn trừ chung liên quan tới hiện diện thương mại, áp dụng các giải pháp mở rộng đối xử ưu đãi theo các hiệp định đầu tư song phương (BIT). Trong thực tế, Việt Nam vẫn giữ khả năng phân biệt về ưu tiên đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đến từ các nước có tham gia BIT.

1.2. Cam kết dịch vụ môi trường trong Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN)

Hầu hết các cam kết mới nhất của Việt Nam trong lĩnh vực dịch vụ môi trường là nằm trong gói cam kết thứ 8 ngày 15/5/2012. Gói cam kết thứ 8 theo Hiệp định khung ASEAN về dịch vụ (AFAS), giống như cam kết của GATS[2].

Các cam kết của Việt Nam thừa kế các cam kết của GATS, đồng thời cũng mở rộng các cam kết đó. Việt Nam đã bổ sung các cam kết trong lĩnh vực dịch vụ môi trường như “dịch vụ vệ sinh và tương tự”, “dịch vụ bảo vệ tự nhiên và cảnh quan”. Do đó, phạm vi của AFAS trong lĩnh vực môi trường có phần rộng hơn so với GATS. Các cam kết chung của Việt Nam được đưa vào lộ trình theo AFAS giống như GATS.

1.3. Cam kết dịch vụ môi trường trong Liên minh châu Âu (EU)

Đây là Hiệp định thương mại song phương đầu tiên mà cam kết về hàng hóa và dịch vụ môi trường được đề cập đến tại Chương 15 - Thương mại và phát triển bền vững. Trong đó, Điều 9 của Chương 15 chỉ ra rằng, các nước thành viên đã khẳng định sự cam kết để tăng cường sự đóng góp của các bên trong lĩnh vực thương mại và đầu tư, đồng thời đi kèm với các mục tiêu về phát triển bền vững ở các khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường.

Theo Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam - EU (EVFTA), các bên sẽ nỗ lực tạo thuận lợi và tăng cường thương mại, đầu tư trực tiếp nước ngoài vào DVMT (công nghệ thân thiện với môi trường) gồm cả việc đề cập đến các hàng rào phi thuế quan. Trong khuôn khổ đàm phán, EU đã thúc đẩy việc đàm phán nhằm mở cửa hơn nữa nội dung DVMT như các dịch vụ quản lý nước thải và sử dụng hiệu quả năng lượng để khuyến khích việc tự do hóa các loại DVMT. Vì vậy, đối với lĩnh vực DVMT, cam kết giữa Việt Nam và EU trong lĩnh vực thương mại và môi trường tập trung vào việc cắt giảm các hàng rào thuế quan và phi thuế quan như các dịch vụ tư vấn về quản lý nước thải. Theo quan điểm của các bên, việc tự do hóa dịch vụ môi trường là công cụ quan trọng nhằm đạt được phát triển bền vững[3].

1.4. Cam kết dịch vụ môi trường trong Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP)

TPP là Hiệp định thương mại đa phương đầu tiên đưa nội dung cam kết về hàng hóa và dịch vụ môi trường thành một điều khoản riêng. Tại Điều 18 của Chương 20 về môi trường, các nội dung cam kết đối với hàng hóa và dịch vụ môi trường được đề cập như sau: (i) Thương mại, đầu tư hàng hóa và DVMT được coi là một phương tiện để cải thiện hiệu suất kinh tế và môi trường, từ đó giải quyết các thách thức của môi trường toàn cầu; (ii) Các bên công nhận tầm quan trọng của Hiệp định này để khuyến khích thương mại và đầu tư hàng hóa, DVMT tại các khu vực thương mại tự do; (iii) Ủy ban sẽ xem xét các vấn đề xác định bởi một bên hoặc các bên liên quan đến thương mại hàng hóa và DVMT, bao gồm cả các vấn đề được xác định là các rào cản phi thuế quan đối với tiềm năng thương mại đó. Các bên hoặc một bên sẽ nỗ lực để giải quyết các rào cản đối với thương mại hàng hóa và DVMT, kể cả bằng cách kết hợp với các ủy ban có liên quan khác được thành lập theo Hiệp định này; (iv) Các bên có thể phát triển các dự án hợp tác song phương và đa phương về hàng hóa và dịch vụ để giải quyết những thách thức với thương mại toàn cầu liên quan đến môi trường trong hiện tại và tương lai. Ngoài ra, tại Điều 15, các bên cũng có cam kết liên quan đến thúc đẩy phát triển năng lượng tái tạo và hiệu quả năng lượng với việc cam kết về các lĩnh vực hợp tác có thể bao gồm, nhưng không giới hạn: Hiệu quả năng lượng; phát triển, thay thế công nghệ nhằm làm giảm lượng khí thải với chi phí - hiệu quả, năng lượng sạch, các nguồn năng lượng tái tạo; giao thông vận tải bền vững, phát triển cơ sở hạ tầng đô thị bền vững; giải quyết việc phá rừng và suy thoái rừng; giám sát khí thải theo cơ chế thị trường và phi thị trường, phát triển nền kinh tế, chia sẻ thông tin và kinh nghiệm trong việc giải quyết vấn đề này. Hơn nữa, các bên sẽ (khi thích hợp) tham gia vào các hoạt động hợp tác và xây dựng năng lực liên quan đến việc chuyển đổi sang nền kinh tế ít khí thải.

2. Đánh giá về khả năng đáp ứng các cam kết dịch vụ môi trường của Việt Nam

2.1. Về khuôn khổ pháp luật đáp ứng các yêu cầu thực hiện cam kết

Thứ nhất, môi trường kinh doanh

Thực tế cho thấy, ở nước ta, quyền sở hữu đối với tài nguyên và DVMT chưa được phân định rõ ràng. Tại nước ta, nhiều loại tài nguyên và các DVMT được coi như tài sản công cộng, ai cũng có quyền sử dụng không phải trả phí. Bên cạnh đó, việc khai thác các tài nguyên và DVMT này do một người hoặc một nhóm người không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác chúng đối với những người khác, do vậy dẫn đến hiện tượng suy thoái tài nguyên môi trường hoặc không ai chịu trả cho các hoạt động làm sạch môi trường. Giấy phép kinh doanh và chứng chỉ hành nghề là rất cần thiết đối với việc cung ứng một số dịch vụ chiến lược hay dịch vụ phát triển kinh doanh. Để cung cấp những dịch vụ chuyên nghiệp như DVMT đòi hỏi phải có những chứng chỉ chuyên nghiệp do pháp luật quy định. Tuy nhiên, một số văn bản pháp luật cần thiết cho đến nay vẫn chưa được ban hành, dẫn đến sự lẫn lộn và không rõ ràng về các điều kiện và tiêu chí cho việc cung cấp loại hình dịch vụ này. Các thủ tục về cấp phép đối với DVMT là không rõ ràng và không minh bạch. Bên cạnh đó, chúng ta chưa có cơ chế thị trường cho hàng hóa và DVMT phát triển. Việc xây dựng cơ chế thị trường cho DVMT sẽ giúp giảm gánh nặng ngân sách nhà nước, tăng hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của ngành. Một vấn đề cần điều chỉnh hoặc quy định cụ thể lại một cách thích hợp là mức thuế thu nhập đối với các doanh nghiệp DVMT nhằm khuyến khích sự tham gia của các doanh nghiệp. Hiện nay, trừ một số trường hợp đặc biệt, tất cả các doanh nghiệp ở Việt Nam đều phải đóng thuế giá trị gia tăng (VAT) và thuế thu nhập doanh nghiệp.

Thứ hai, chính sách ưu đãi chưa khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực dịch vụ môi trường

Nhiều chính sách ưu đãi còn quy định chung chung, chẳng hạn, Nhà nước khuyến khích sử dụng các phương pháp quản lý môi trường mang tính hệ thống, những lợi ích của doanh nghiệp và cơ chế hỗ trợ chưa rõ ràng. Tương tự như vậy, việc khuyến khích sử dụng công nghệ thân thiện với môi trường, các nguồn nguyên liệu đầu vào không gây ô nhiễm, hạn chế khai thác tài nguyên, quy trình sản xuất sạch… phải có các quy định hoặc các cơ chế tài chính cụ thể để các doanh nghiệp có thể tiếp cận. Hiện nay, hầu hết các doanh nghiệp kinh doanh bằng vốn tự có, chưa có sự bảo lãnh của các cơ quan tài chính ngân hàng…

Thứ ba, công tác quản lý dịch vụ môi trường

Một thách thức lớn đối với hầu hết các nền kinh tế là trách nhiệm đối với ngành DVMT lại thuộc phạm vi quản lý của nhiều bộ, ngành. Hơn nữa, các tỉnh và các sở cũng chịu trách nhiệm về các hoạt động của ngành dịch vụ đó trong phạm vi của tỉnh. Kết quả là một hệ thống quản lý hành chính phức tạp với các mối liên kết hàng dọc và hàng ngang. Hiệu quả hoạt động của hệ thống hành chính phức tạp như vậy phụ thuộc vào một số điều kiện như độ minh bạch, tính rõ ràng, quá trình giám sát và đánh giá tốt.

2.2. Về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ môi trường

DVMT là phân ngành dịch vụ thuộc nhóm ngành hỗ trợ sản xuất, kinh doanh và phục vụ nhu cầu đời sống xã hội. Năng lực cạnh tranh của ngành DVMT nói chung và doanh nghiệp DVMT nói riêng nếu đáp ứng các cam kết quốc tế cần quan tâm một số vấn đề sau đây:

Một là, về khả năng cung cấp dịch vụ

Trình độ phát triển ngành DVMT ở Việt Nam còn ở mức thấp, một mặt là khó khăn song cũng chính là cơ hội lớn cho các doanh nghiệp tham gia đầu tư và tổ chức kinh doanh, khai thác thị trường và thu lợi nhuận. Thực tế là nhu cầu về cấp nước, xử lý ô nhiễm môi trường đang tăng với tốc độ rất nhanh và đòi hỏi chất lượng ngày càng cao. Trong khi “cung” chưa đủ đáp ứng được “cầu” thì việc tham gia vào thị trường này luôn hứa hẹn khả năng thu lợi và đem lại cơ hội thành công cao cho các nhà đầu tư. Chủ trương xã hội hóa, mở rộng sự tham gia của các thành phần kinh tế trong và ngoài nước vào đầu tư phát triển ngành DVMT đã được khẳng định trong các văn bản, chính sách, quy định của Việt Nam là thuận lợi rất cơ bản cho các doanh nghiệp xác định chiến lược kinh doanh dài hạn trong lĩnh vực này ở Việt Nam trong thời gian tới. Bên cạnh đó, cần chú trọng đào tạo nguồn nhân lực, bởi đội ngũ nhân viên của doanh nghiệp dịch vụ là người tạo ra dịch vụ; tăng cường nguồn lực, tạo điều kiện cho hoạt động nghiên cứu và phát triển trong lĩnh vực DVMT; đổi mới cách thức quản lý và tổ chức hoạt động kinh doanh của ngành DVMT ở Việt Nam; chủ động giáo dục hình thành thói quen sử dụng DVMT của đại đa số các doanh nghiệp ở Việt Nam.

Hai là, về các yếu tố về thị trường

Đây là ngành dịch vụ có tiềm năng phát triển rất rộng lớn trên cơ sở của một thị trường với quy mô doanh nghiệp lớn, đang trong quá trình phát triển. Sự phát triển kinh tế - xã hội trước hết tạo nên những nhu cầu về dịch vụ phục vụ sản xuất, kinh doanh nhiều hơn là những nhu cầu về dịch vụ phục vụ đời sống, nhưng đến một giai đoạn nhất định thì những nhu cầu về dịch vụ phục vụ đời sống sẽ đóng vai trò quyết định cho sự tăng trưởng của toàn bộ khu vực dịch vụ. Việt Nam có thể được coi là một thị trường đang trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ cả ở hai nhóm ngành dịch vụ này. Theo đánh giá hiện nay, phần lớn các doanh nghiệp còn bỏ ngỏ hay trốn tránh việc xử lý ô nhiễm môi trường từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình, do đó trong thời gian tới, việc thắt chặt hoạt động quản lý bảo vệ môi trường bằng các công cụ chính sách pháp luật sẽ mở ra một thị trường phát triển dịch vụ môi trường rất rộng lớn.

Tóm lại, các cam kết về DVMT của Việt Nam vẫn chỉ dừng lại ở các tuyên bố chung, chưa tạo ra bước đột phá nào so với các cam kết trước đây. Tuy nhiên, đây được xem là một bước tiến thành công nhất cho đến thời điểm hiện tại đối với vấn đề tự do hóa thương mại đối với dịch vụ môi trường do những khó khăn về thống nhất được danh mục và sự không đồng nhất của các quốc gia đàm phán, mà bản thân các cam kết về DVMT cũng như sự cam kết của Việt Nam đều chưa tạo ra nhiều khác biệt so với các cam kết đối với các nhóm dịch vụ khác. Đặc biệt là các cam kết trong TPP, EVFTA hiện nay cũng mới chỉ dừng lại ở mức độ quá chung chung, do đó, thực tiễn áp dụng sẽ gặp những khó khăn nhất định.

ThS. Võ Thị Kim Tuyến

Viện Nghiên cứu Thương mại, Bộ Công thương

Tài liệu tham khảo:

[1]. https://docs.wto.org.

[2].http://www.asean.org/communities/asean-economic-community/item/member-countries-horizontal-commitments-schedules-of-specific-commitments-and-the-list-of-most-favoured-nation-exemptions Annexes to the Protocol to Implement the Eighth Package of Commitments under the ASEAN Framework Agreement on Services.

[3]. Tài liệu Hội thảo chuyên đề “Đánh giá tác động kinh tế, xã hội và môi trường của Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA)”, Hà Nội, năm 2014.



Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: