Thứ ba 22/09/2026 05:12
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số cam kết quốc tế của Việt Nam liên quan đến phát triển dịch vụ môi trường

Tóm tắt: Trong khuôn khổ bài viết này, tác giả đề cập và phân tích một số cam kết quốc tế của Việt Nam liên quan đến phát triển dịch vụ môi trường. Từ đó, đưa ra những đánh giá, nhận xét về khả năng đáp ứng các cam kết quốc tế về dịch vụ môi trường của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Abstract: Within this article, the author concerns and analyses some international commitments of Vietnam relating to the development of environment services. From this study, the article brings out assessments, comments on the possibility of meeting international commitments relating to environment services in Vietnam in the current phase.

Dịch vụ môi trường (DVMT) hiện đóng vai trò ngày càng quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt trong bối cảnh tự do hóa thương mại và tăng trưởng kinh tế toàn cầu mạnh mẽ trong những thập kỷ vừa qua đã làm gia tăng quy mô sản xuất và tiêu dùng toàn cầu, qua đó dẫn đến sự gia tăng sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn nguyên liệu hóa thạch và chất thải mà hậu quả là gia tăng ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu. Bên cạnh đó, cùng với sự gia tăng dân số thế giới, xu hướng đô thị hóa và thay đổi trong mẫu hình tiêu thụ đã khiến môi trường phải chịu sức ép ngày càng tăng và phát triển DVMT đang là một nhu cầu hết sức cấp thiết ở các quốc gia, bao gồm cả Việt Nam để giải quyết các áp lực về ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu.

1. Các cam kết quốc tế về dịch vụ môi trường của Việt Nam

Các cam kết quốc tế về dịch vụ môi trường của Việt Nam căn cứ trên các cam kết với WTO và các quy định pháp luật của Việt Nam về vấn đề này. Hiện nay, trên thế giới, Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) và Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) đang là những tổ chức quốc tế dẫn đầu trong thúc đẩy quá trình tự do hóa thương mại về dịch vụ môi trường thông qua hình thành Hiệp định thương mại riêng trong khuôn khổ của các tổ chức. Trong đó, các cam kết quốc tế về DVMT chủ yếu tập trung vào nội dung mở cửa thị trường và đối xử quốc gia, cụ thể là các thể thức cung cấp: (i) Cung cấp dịch vụ qua biên giới; (ii) Tiêu dùng nước ngoài; (iii) Hiện diện của thể nhân; (iv) Hiện diện thương mại.

1.1. Cam kết dịch vụ môi trường trong WTO

Các quy định của WTO về các dịch vụ môi trường được quy định trong Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ (GATS). GATS đưa ra bốn dạng cung cấp dịch vụ. Trong các dịch vụ, thì dịch vụ môi trường, tiếp cận thị trường và các nghĩa vụ đối xử quốc gia áp dụng chỉ với những lĩnh vực dịch vụ có cam kết cụ thể được các nước thành viên thực hiện riêng rẽ theo từng dạng cung cấp. Cam kết của các nước thành viên được ghi vào lộ trình tương ứng của các cam kết cụ thể. Lộ trình các cam kết liên quan tới DVMT của Việt Nam như sau: Dịch vụ xử lý nước thải; dịch vụ xử lý rác thải; dịch vụ vệ sinh và xử lý khí thải; dịch vụ xử lý tiếng ồn; dịch vụ bảo vệ thiên nhiên và cảnh quan và các dịch vụ bảo vệ môi trường khác[1].

(i) Cung cấp qua biên giới: Việt Nam đưa ra không giới hạn cho tất cả các dịch vụ môi trường được đề cập, ngoại trừ các dịch vụ đánh giá tác động môi trường. Liên quan tới các dịch vụ đánh giá tác động môi trường, Việt Nam không thể đưa ra các hạn chế tiếp cận thị trường và đối xử quốc gia.

(ii) Tiêu dùng nước ngoài: Việt Nam không đưa ra giới hạn về tiếp cận thị trường và đối xử quốc gia trong những lĩnh vực dịch vụ môi trường, tuy nhiên, những cam kết này là những cam kết ít quan trọng để thúc đẩy đầu tư về hàng hóa và dịch vụ môi trường trên lãnh thổ Việt Nam.

(iii) Hiện diện thương mại: Các điều kiện về tiếp cận thị trường được bổ sung: Văn phòng đại diện của các nhà cung cấp dịch vụ được cấp phép để thành lập tại Việt Nam, nhưng những văn phòng này sẽ không được tham gia bất cứ hoạt động có lợi nhuận trực tiếp và không giới hạn việc thành lập các chi nhánh. Liên quan tới đối xử quốc gia, các cam kết chung khẳng định, các điều kiện về trợ cấp có thể bị hạn chế với những nhà cung cấp dịch vụ Việt Nam, cụ thể là hạn chế đối với thể nhân hoạt động trong lãnh thổ Việt Nam, hoặc thuộc một phần lãnh thổ Việt Nam. Việc hỗ trợ, trợ cấp một lần để thúc đẩy và tạo điều kiện cho quá trình cổ phần hóa không vi phạm cam kết này. Việt Nam duy trì không giới hạn với các trợ cấp cho nghiên cứu, phát triển và trợ cấp cho lĩnh vực sức khỏe.

(iv) Hiện diện của thể nhân: Giấy phép làm việc, các điều kiện cấp visa là những quy định hạn chế thương mại trong lĩnh vực DVMT Việt Nam duy trì việc tự do phê chuẩn các giải pháp không tương thích với tiếp cận thị trường và đối xử quốc gia trừ các giải pháp về việc đến và ở tạm thời của những cán bộ được luân chuyển, người bán hàng, cá nhân chịu trách nhiệm thành lập các sự hiện diện về thương mại và các nhà cung cấp dịch vụ theo hợp đồng. Thêm vào đó, các cam kết của Việt Nam gắn với việc miễn trừ theo các nguyên tắc tối huệ quốc (MFN). Việt Nam đã đưa lộ trình miễn trừ chung liên quan tới hiện diện thương mại, áp dụng các giải pháp mở rộng đối xử ưu đãi theo các hiệp định đầu tư song phương (BIT). Trong thực tế, Việt Nam vẫn giữ khả năng phân biệt về ưu tiên đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đến từ các nước có tham gia BIT.

1.2. Cam kết dịch vụ môi trường trong Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN)

Hầu hết các cam kết mới nhất của Việt Nam trong lĩnh vực dịch vụ môi trường là nằm trong gói cam kết thứ 8 ngày 15/5/2012. Gói cam kết thứ 8 theo Hiệp định khung ASEAN về dịch vụ (AFAS), giống như cam kết của GATS[2].

Các cam kết của Việt Nam thừa kế các cam kết của GATS, đồng thời cũng mở rộng các cam kết đó. Việt Nam đã bổ sung các cam kết trong lĩnh vực dịch vụ môi trường như “dịch vụ vệ sinh và tương tự”, “dịch vụ bảo vệ tự nhiên và cảnh quan”. Do đó, phạm vi của AFAS trong lĩnh vực môi trường có phần rộng hơn so với GATS. Các cam kết chung của Việt Nam được đưa vào lộ trình theo AFAS giống như GATS.

1.3. Cam kết dịch vụ môi trường trong Liên minh châu Âu (EU)

Đây là Hiệp định thương mại song phương đầu tiên mà cam kết về hàng hóa và dịch vụ môi trường được đề cập đến tại Chương 15 - Thương mại và phát triển bền vững. Trong đó, Điều 9 của Chương 15 chỉ ra rằng, các nước thành viên đã khẳng định sự cam kết để tăng cường sự đóng góp của các bên trong lĩnh vực thương mại và đầu tư, đồng thời đi kèm với các mục tiêu về phát triển bền vững ở các khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường.

Theo Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam - EU (EVFTA), các bên sẽ nỗ lực tạo thuận lợi và tăng cường thương mại, đầu tư trực tiếp nước ngoài vào DVMT (công nghệ thân thiện với môi trường) gồm cả việc đề cập đến các hàng rào phi thuế quan. Trong khuôn khổ đàm phán, EU đã thúc đẩy việc đàm phán nhằm mở cửa hơn nữa nội dung DVMT như các dịch vụ quản lý nước thải và sử dụng hiệu quả năng lượng để khuyến khích việc tự do hóa các loại DVMT. Vì vậy, đối với lĩnh vực DVMT, cam kết giữa Việt Nam và EU trong lĩnh vực thương mại và môi trường tập trung vào việc cắt giảm các hàng rào thuế quan và phi thuế quan như các dịch vụ tư vấn về quản lý nước thải. Theo quan điểm của các bên, việc tự do hóa dịch vụ môi trường là công cụ quan trọng nhằm đạt được phát triển bền vững[3].

1.4. Cam kết dịch vụ môi trường trong Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP)

TPP là Hiệp định thương mại đa phương đầu tiên đưa nội dung cam kết về hàng hóa và dịch vụ môi trường thành một điều khoản riêng. Tại Điều 18 của Chương 20 về môi trường, các nội dung cam kết đối với hàng hóa và dịch vụ môi trường được đề cập như sau: (i) Thương mại, đầu tư hàng hóa và DVMT được coi là một phương tiện để cải thiện hiệu suất kinh tế và môi trường, từ đó giải quyết các thách thức của môi trường toàn cầu; (ii) Các bên công nhận tầm quan trọng của Hiệp định này để khuyến khích thương mại và đầu tư hàng hóa, DVMT tại các khu vực thương mại tự do; (iii) Ủy ban sẽ xem xét các vấn đề xác định bởi một bên hoặc các bên liên quan đến thương mại hàng hóa và DVMT, bao gồm cả các vấn đề được xác định là các rào cản phi thuế quan đối với tiềm năng thương mại đó. Các bên hoặc một bên sẽ nỗ lực để giải quyết các rào cản đối với thương mại hàng hóa và DVMT, kể cả bằng cách kết hợp với các ủy ban có liên quan khác được thành lập theo Hiệp định này; (iv) Các bên có thể phát triển các dự án hợp tác song phương và đa phương về hàng hóa và dịch vụ để giải quyết những thách thức với thương mại toàn cầu liên quan đến môi trường trong hiện tại và tương lai. Ngoài ra, tại Điều 15, các bên cũng có cam kết liên quan đến thúc đẩy phát triển năng lượng tái tạo và hiệu quả năng lượng với việc cam kết về các lĩnh vực hợp tác có thể bao gồm, nhưng không giới hạn: Hiệu quả năng lượng; phát triển, thay thế công nghệ nhằm làm giảm lượng khí thải với chi phí - hiệu quả, năng lượng sạch, các nguồn năng lượng tái tạo; giao thông vận tải bền vững, phát triển cơ sở hạ tầng đô thị bền vững; giải quyết việc phá rừng và suy thoái rừng; giám sát khí thải theo cơ chế thị trường và phi thị trường, phát triển nền kinh tế, chia sẻ thông tin và kinh nghiệm trong việc giải quyết vấn đề này. Hơn nữa, các bên sẽ (khi thích hợp) tham gia vào các hoạt động hợp tác và xây dựng năng lực liên quan đến việc chuyển đổi sang nền kinh tế ít khí thải.

2. Đánh giá về khả năng đáp ứng các cam kết dịch vụ môi trường của Việt Nam

2.1. Về khuôn khổ pháp luật đáp ứng các yêu cầu thực hiện cam kết

Thứ nhất, môi trường kinh doanh

Thực tế cho thấy, ở nước ta, quyền sở hữu đối với tài nguyên và DVMT chưa được phân định rõ ràng. Tại nước ta, nhiều loại tài nguyên và các DVMT được coi như tài sản công cộng, ai cũng có quyền sử dụng không phải trả phí. Bên cạnh đó, việc khai thác các tài nguyên và DVMT này do một người hoặc một nhóm người không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác chúng đối với những người khác, do vậy dẫn đến hiện tượng suy thoái tài nguyên môi trường hoặc không ai chịu trả cho các hoạt động làm sạch môi trường. Giấy phép kinh doanh và chứng chỉ hành nghề là rất cần thiết đối với việc cung ứng một số dịch vụ chiến lược hay dịch vụ phát triển kinh doanh. Để cung cấp những dịch vụ chuyên nghiệp như DVMT đòi hỏi phải có những chứng chỉ chuyên nghiệp do pháp luật quy định. Tuy nhiên, một số văn bản pháp luật cần thiết cho đến nay vẫn chưa được ban hành, dẫn đến sự lẫn lộn và không rõ ràng về các điều kiện và tiêu chí cho việc cung cấp loại hình dịch vụ này. Các thủ tục về cấp phép đối với DVMT là không rõ ràng và không minh bạch. Bên cạnh đó, chúng ta chưa có cơ chế thị trường cho hàng hóa và DVMT phát triển. Việc xây dựng cơ chế thị trường cho DVMT sẽ giúp giảm gánh nặng ngân sách nhà nước, tăng hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của ngành. Một vấn đề cần điều chỉnh hoặc quy định cụ thể lại một cách thích hợp là mức thuế thu nhập đối với các doanh nghiệp DVMT nhằm khuyến khích sự tham gia của các doanh nghiệp. Hiện nay, trừ một số trường hợp đặc biệt, tất cả các doanh nghiệp ở Việt Nam đều phải đóng thuế giá trị gia tăng (VAT) và thuế thu nhập doanh nghiệp.

Thứ hai, chính sách ưu đãi chưa khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực dịch vụ môi trường

Nhiều chính sách ưu đãi còn quy định chung chung, chẳng hạn, Nhà nước khuyến khích sử dụng các phương pháp quản lý môi trường mang tính hệ thống, những lợi ích của doanh nghiệp và cơ chế hỗ trợ chưa rõ ràng. Tương tự như vậy, việc khuyến khích sử dụng công nghệ thân thiện với môi trường, các nguồn nguyên liệu đầu vào không gây ô nhiễm, hạn chế khai thác tài nguyên, quy trình sản xuất sạch… phải có các quy định hoặc các cơ chế tài chính cụ thể để các doanh nghiệp có thể tiếp cận. Hiện nay, hầu hết các doanh nghiệp kinh doanh bằng vốn tự có, chưa có sự bảo lãnh của các cơ quan tài chính ngân hàng…

Thứ ba, công tác quản lý dịch vụ môi trường

Một thách thức lớn đối với hầu hết các nền kinh tế là trách nhiệm đối với ngành DVMT lại thuộc phạm vi quản lý của nhiều bộ, ngành. Hơn nữa, các tỉnh và các sở cũng chịu trách nhiệm về các hoạt động của ngành dịch vụ đó trong phạm vi của tỉnh. Kết quả là một hệ thống quản lý hành chính phức tạp với các mối liên kết hàng dọc và hàng ngang. Hiệu quả hoạt động của hệ thống hành chính phức tạp như vậy phụ thuộc vào một số điều kiện như độ minh bạch, tính rõ ràng, quá trình giám sát và đánh giá tốt.

2.2. Về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ môi trường

DVMT là phân ngành dịch vụ thuộc nhóm ngành hỗ trợ sản xuất, kinh doanh và phục vụ nhu cầu đời sống xã hội. Năng lực cạnh tranh của ngành DVMT nói chung và doanh nghiệp DVMT nói riêng nếu đáp ứng các cam kết quốc tế cần quan tâm một số vấn đề sau đây:

Một là, về khả năng cung cấp dịch vụ

Trình độ phát triển ngành DVMT ở Việt Nam còn ở mức thấp, một mặt là khó khăn song cũng chính là cơ hội lớn cho các doanh nghiệp tham gia đầu tư và tổ chức kinh doanh, khai thác thị trường và thu lợi nhuận. Thực tế là nhu cầu về cấp nước, xử lý ô nhiễm môi trường đang tăng với tốc độ rất nhanh và đòi hỏi chất lượng ngày càng cao. Trong khi “cung” chưa đủ đáp ứng được “cầu” thì việc tham gia vào thị trường này luôn hứa hẹn khả năng thu lợi và đem lại cơ hội thành công cao cho các nhà đầu tư. Chủ trương xã hội hóa, mở rộng sự tham gia của các thành phần kinh tế trong và ngoài nước vào đầu tư phát triển ngành DVMT đã được khẳng định trong các văn bản, chính sách, quy định của Việt Nam là thuận lợi rất cơ bản cho các doanh nghiệp xác định chiến lược kinh doanh dài hạn trong lĩnh vực này ở Việt Nam trong thời gian tới. Bên cạnh đó, cần chú trọng đào tạo nguồn nhân lực, bởi đội ngũ nhân viên của doanh nghiệp dịch vụ là người tạo ra dịch vụ; tăng cường nguồn lực, tạo điều kiện cho hoạt động nghiên cứu và phát triển trong lĩnh vực DVMT; đổi mới cách thức quản lý và tổ chức hoạt động kinh doanh của ngành DVMT ở Việt Nam; chủ động giáo dục hình thành thói quen sử dụng DVMT của đại đa số các doanh nghiệp ở Việt Nam.

Hai là, về các yếu tố về thị trường

Đây là ngành dịch vụ có tiềm năng phát triển rất rộng lớn trên cơ sở của một thị trường với quy mô doanh nghiệp lớn, đang trong quá trình phát triển. Sự phát triển kinh tế - xã hội trước hết tạo nên những nhu cầu về dịch vụ phục vụ sản xuất, kinh doanh nhiều hơn là những nhu cầu về dịch vụ phục vụ đời sống, nhưng đến một giai đoạn nhất định thì những nhu cầu về dịch vụ phục vụ đời sống sẽ đóng vai trò quyết định cho sự tăng trưởng của toàn bộ khu vực dịch vụ. Việt Nam có thể được coi là một thị trường đang trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ cả ở hai nhóm ngành dịch vụ này. Theo đánh giá hiện nay, phần lớn các doanh nghiệp còn bỏ ngỏ hay trốn tránh việc xử lý ô nhiễm môi trường từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình, do đó trong thời gian tới, việc thắt chặt hoạt động quản lý bảo vệ môi trường bằng các công cụ chính sách pháp luật sẽ mở ra một thị trường phát triển dịch vụ môi trường rất rộng lớn.

Tóm lại, các cam kết về DVMT của Việt Nam vẫn chỉ dừng lại ở các tuyên bố chung, chưa tạo ra bước đột phá nào so với các cam kết trước đây. Tuy nhiên, đây được xem là một bước tiến thành công nhất cho đến thời điểm hiện tại đối với vấn đề tự do hóa thương mại đối với dịch vụ môi trường do những khó khăn về thống nhất được danh mục và sự không đồng nhất của các quốc gia đàm phán, mà bản thân các cam kết về DVMT cũng như sự cam kết của Việt Nam đều chưa tạo ra nhiều khác biệt so với các cam kết đối với các nhóm dịch vụ khác. Đặc biệt là các cam kết trong TPP, EVFTA hiện nay cũng mới chỉ dừng lại ở mức độ quá chung chung, do đó, thực tiễn áp dụng sẽ gặp những khó khăn nhất định.

ThS. Võ Thị Kim Tuyến

Viện Nghiên cứu Thương mại, Bộ Công thương

Tài liệu tham khảo:

[1]. https://docs.wto.org.

[2].http://www.asean.org/communities/asean-economic-community/item/member-countries-horizontal-commitments-schedules-of-specific-commitments-and-the-list-of-most-favoured-nation-exemptions Annexes to the Protocol to Implement the Eighth Package of Commitments under the ASEAN Framework Agreement on Services.

[3]. Tài liệu Hội thảo chuyên đề “Đánh giá tác động kinh tế, xã hội và môi trường của Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA)”, Hà Nội, năm 2014.



Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.

Theo dõi chúng tôi trên: