Thứ ba 17/02/2026 03:58
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số căn cứ phân loại Nghị quyết của Quốc hội

Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực cao nhất của nước ta. Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và thực hiện giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước. Theo đó, Quốc hội ban hành Hiến pháp và các đạo luật, ban hành nghị quyết để quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước.

Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực cao nhất của nước ta. Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và thực hiện giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước. Theo đó, Quốc hội ban hành Hiến pháp và các đạo luật, ban hành nghị quyết để quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước. Nghị quyết do Quốc hội ban hành có nhiều loại như: Nghị quyết quy phạm pháp luật, nghị quyết không chứa đựng quy phạm pháp luật, nghị quyết ban hành ra quy phạm pháp luật, nghị quyết được ban hành nhằm hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật khác... để phân loại những nghị quyết này phải dựa vào những căn cứ nhất định. Qua bài viết này, tác giả đã giúp bạn đọc hiểu rõ hơn về những căn cứ để phân loại nghị quyết của Quốc hội

Với yêu cầu đảm bảo cơ chế thực hiện quyền lực nhà nước ở nước ta hiện nay, Nghị quyết số 48-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 24/5/2005 về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam định hướng đến năm 2020 rất chú trọng đến hoạt động xây dựng và hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của Quốc hội, đổi mới cơ bản quy trình thủ tục xây dựng pháp luật và nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật. Điều 69 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước”. Theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, ngoài chức năng ban hành Hiến pháp và luật, Quốc hội còn có thẩm quyền ban hành nghị quyết. Việc ban hành nghị quyết của Quốc hội là một trong những nhiệm vụ quan trọng được Quốc hội tiến hành nhằm thực hiện chức năng của mình, trong đó chủ yếu là nhằm thực hiện quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. Thực tiễn trong hoạt động ban hành nghị quyết của Quốc hội cho thấy, nghị quyết của Quốc hội phụ thuộc vào nội dung, tính chất của chúng đã tạo ra sự khác nhau giữa các loại nghị quyết. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi tập trung nghiên cứu về phân loại nghị quyết của Quốc hội dựa trên các căn cứ sau đây:

Một là, căn cứ vào tính chất pháp lý, nghị quyết của Quốc hội có thể được phân thành: Nghị quyết quy phạm pháp luật; nghị quyết không chứa quy phạm pháp luật (nghị quyết cá biệt, nghị quyết áp dụng) và nghị quyết chủ đạo...

(i) Nghị quyết quy phạm pháp luật: Là nghị quyết chứa đựng quy tắc xử sự chung, mang tính bắt buộc chung (chứa đựng quy phạm pháp luật). Đây là dấu hiệu quan trọng của nghị quyết quy phạm pháp luật làm căn cứ để phân biệt với nghị quyết áp dụng pháp luật do Quốc hội ban hành. Nghị quyết quy phạm pháp luật được xác định là khuôn mẫu làm căn cứ pháp lý để đánh giá tính hợp pháp của hành vi, đồng thời, quy phạm pháp luật không chỉ mang tính định hướng cho hành vi của cá nhân, tổ chức, mà còn chỉ ra các chuẩn mực cho hành vi của cá nhân, tổ chức buộc họ phải thực hiện theo những mệnh lệnh đã được quy định trong nghị quyết. Nghị quyết quy phạm được ban hành theo đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền theo luật định và không hạn chế số lần áp dụng. Ví dụ, Nghị quyết số 113/2015/QH13 của Quốc hội ngày 27/11/2015 về tiếp tục thực hiện các nghị quyết của quốc hội khóa XIII về hoạt động giám sát chuyên đề, hoạt động chất vấn...

(ii) Nghị quyết không chứa quy phạm pháp luật (nghị quyết cá biệt, nghị quyết áp dụng): Loại nghị quyết này được Quốc hội ban hành dựa trên quy định của hệ thống pháp luật như Hiến pháp, bộ luật, luật, nghị quyết… nhằm tác động cụ thể đến các đối tượng cụ thể chịu sự điều chỉnh thuộc thẩm quyền của Quốc hội hoặc nhằm thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn được của mình, Quốc hội cũng ban hành nghị quyết để giải quyết các vụ việc mang tính sự vụ, cụ thể và chỉ áp dụng một lần. Đây là điểm khác biệt quan trọng của nghị quyết áp dụng với nghị quyết quy phạm. Nếu nghị quyết quy phạm là văn bản có chứa đựng quy phạm pháp luật, là khuôn mẫu cho hành vi của cá nhân, tổ chức thì nghị quyết áp dụng pháp luật thể hiện mệnh lệnh cụ thể với cá nhân, tổ chức. Ví dụ, Nghị quyết số 15/2008/QH12 ngày 29/5/2008 của Quốc hội về điều chỉnh địa giới hành chính thủ đô Hà Nội và các tỉnh, sáp nhập toàn bộ tỉnh Hà Tây, huyện Mê Linh của tỉnh Vĩnh Phúc và 4 xã thuộc huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình về Hà Nội; hoặc Nghị quyết số 04/2011/QH13 ngày 03/8/2011 phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng Chính phủ về việc bổ nhiệm các Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ... Hiện nay, nghị quyết áp dụng pháp luật của Quốc hội được dùng để bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, các Phó Chủ tịch Quốc hội và các ủy viên của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; phê chuẩn đề nghị của Chủ tịch nước về việc thành lập Hội đồng quốc phòng và an ninh; phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng Chính phủ về bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ; phê chuẩn hoặc bãi bỏ các điều ước quốc tế cụ thể do Chủ tịch nước ký hoặc các điều ước quốc tế khác đã được ký kết hoặc gia nhập theo đề nghị của Chủ tịch nước; điều chỉnh địa giới hành chính cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; thành lập, giải thể các đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt; thành lập, sáp nhập, chia tách, giải thể các Bộ và cơ quan ngang Bộ của Chính phủ; thực hiện hoạt động giám sát; hủy bỏ, bãi bỏ văn bản pháp luật khác của Quốc hội hoặc của cơ quan nhà nước cấp dưới; điều hành những công việc cụ thể phát sinh trong nội bộ của Quốc hội; quyết định tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, áp dụng các biện pháp đặc biệt khác trong những trường hợp cụ thể nhằm đảm bảo quốc phòng và an ninh quốc gia; quyết định việc trưng cầu ý dân...

(iii) Nghị quyết chủ đạo: Nghị quyết chủ đạo được ban hành theo trình tự, thủ tục và hình thức mà Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định nhằm đề ra những chủ trương, đường lối, chính sách quan trọng, to lớn mang tính chiến lược, quyết định những vấn đề quan trọng của quốc gia. Đây là loại nghị quyết không trực tiếp điều chỉnh hành vi của các đối tượng chịu sự tác động của văn bản (không chứa đựng quy phạm pháp luật) mà có nội dung là chủ trương, đường lối, chính sách mang tính định hướng làm cơ sở để đặt ra quy phạm pháp luật. Ví dụ Nghị quyết số 77/2014/QH13 ngày 10/11/2014 của Quốc hội khóa XIII về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2015. Đối với loại nghị quyết chủ đạo này, thông thường có bố cục ổn định, bao gồm các nội dung như đánh giá tình hình và kết quả thực hiện kế hoạch năm trước; đặt ra các mục tiêu, chỉ tiêu tổng hợp về kinh tế - xã hội năm tiếp theo; đề ra các nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu; tổ chức thực hiện bằng cách giao cho các cơ quan quyền lực, hành chính, tòa án, viện kiểm sát và các tổ chức đoàn thể thực hiện nghị quyết. Do vậy, các Nghị quyết về nhiệm vụ kinh tế - xã hội hàng năm không có điều, khoản, điểm như các văn bản quy phạm pháp luật thông thường và nội dung của nghị quyết này thường định lượng rõ các mục tiêu, chỉ tiêu chủ yếu, đồng thời xác định luôn các nhiệm vụ, giải pháp.

Hai là, căn cứ vào nội dung của văn bản, nghị quyết của Quốc hội được chia thành: Nghị quyết ban hành ra quy phạm pháp luật; nghị quyết được ban hành nhằm hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật khác...

(i) Nghị quyết ban hành ra quy phạm pháp luật: Các văn bản này tuy không chứa đựng các quy phạm pháp luật nhưng nó tạo cơ sở cho các cơ quan nhà nước ban hành các văn bản quy phạm pháp luật[1]. Do đó, loại nghị quyết ban hành ra quy phạm pháp luật thường có nội dung quyết định những chủ trương, chính sách hoặc mệnh lệnh pháp luật mới. Nhóm nghị quyết này được Quốc hội ban hành để thực hiện thẩm quyền của mình trong hoạt động quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước trên mọi lĩnh vực. Chẳng hạn, Nghị quyết số 98/2015/QH13 ngày 10/11/2015 về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2016;

(ii) Nghị quyết được ban hành nhằm hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật khác: Thông thường, các nghị quyết được Quốc hội ban hành để sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ những văn bản quy phạm pháp luật được ban hành trước đó nếu nội dung của chúng không còn phù hợp với thực tiễn hoặc có nội dung không đúng (kể cả các văn bản luật và Hiến pháp). Ví dụ, Nghị quyết số 51/2001/QH10 của Quốc hội về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992.

Ba là, căn cứ vào giá trị pháp lý của văn bản pháp luật, có thể phân loại thành: Nghị quyết có giá trị như các đạo luật và nghị quyết có giá trị như các văn bản dưới luật

(i) Các nghị quyết có giá trị như đạo luật: Là những văn bản pháp luật được ban hành nhằm điều chỉnh những vấn đề quan trọng mà chưa hoặc không thể điều chỉnh bằng luật. Chẳng hạn, Nghị quyết số 83/2014/QH13 về việc phê chuẩn công ước của Liên Hợp Quốc về chống tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người được Quốc hội thông qua ngày 28/11/2014. Đối với loại nghị quyết này, quan điểm nhất quán của Việt Nam cũng như sự thống nhất trong quy định của pháp luật nước ta là tôn trọng điều ước quốc tế nếu xảy ra tình huống có trong các điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của Luật Việt Nam thì áp dụng theo quy định của điều ước quốc tế. Điều này có thể thấy giá trị pháp lý của loại nghị quyết này là văn bản luật hoặc “là văn bản có giá trị tương đương với luật”[2]. Ngoài ra, Nghị quyết của Quốc hội về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp cũng được coi “là văn bản Luật”. Ví dụ, trong hoạt động thực tiễn của Quốc hội nước ta, Quốc hội đã dùng Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25/12/2001 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992;

(ii) Nghị quyết có giá trị pháp lý như các văn bản dưới luật: Nhóm nghị quyết này được ban hành chủ yếu dùng để phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước; nghị quyết quy định chế độ làm việc của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội; nghị quyết về thi hành luật... Ví dụ như Nghị quyết số 109/2015/QH13 ngày 27/11/2015 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự.

Bốn là, căn cứ vào yêu cầu ban hành, nghị quyết của Quốc hội còn được chia thành các loại như:

(i) Nghị quyết của Quốc hội được ban hành để quyết định nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội; nghị quyết về dự toán ngân sách nhà nước và phân bổ ngân sách trung ương; điều chỉnh ngân sách nhà nước; phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước; quy định chế độ làm việc của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội; nghị quyết về phê chuẩn điều ước quốc tế; nghị quyết quyết định các vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Quốc hội[3].

(ii) Nghị quyết quy định về tình trạng khẩn cấp, các biện pháp đặc biệt khác nhằm bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia; nghị quyết về tỉ lệ phân chia các khoản thu và nhiệm vụ chi giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương; nghị quyết về thực hiện thí điểm một số chính sách mới thuộc thẩm quyền quyết định của Quốc hội nhưng chưa có luật điều chỉnh hoặc khác với quy định của luật hiện hành; nghị quyết về tạm ngưng hoặc kéo dài thời hạn áp dụng toàn bộ hoặc một phần luật, nghị quyết của Quốc hội đáp ứng các yêu cầu cấp bách về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quyền con người, quyền công dân[4]...

Năm là, căn cứ vào nhóm các quan hệ xã hội được điều chỉnh bởi nghị quyết của Quốc hội, có thể phân thành: Nghị quyết về công trình quan trọng của đất nước; nghị quyết về tổ chức bộ máy nhà nước và nghị quyết về vấn đề kinh tế - xã hội.

Có thể nói, Quốc hội đã ban hành số lượng lớn các văn bản luật, song nghị quyết vẫn được xác định là văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền ban hành của Quốc hội. Điều này cho thấy, nghị quyết có vai trò nhất định mà các văn bản luật không thể thay thế. Do đó, việc xác định các căn cứ để phân loại nghị quyết là điều cần thiết làm cơ sở để xác định nội dung, tính chất của loại văn bản này.

Nguyễn Thị Thủy
Học viện Chính trị khu vực II

Tài liệu tham khảo:

[1]. Phan Trung Hiền, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 203, tháng 9/2011.

[2]. Phan Trung Hiền, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 203, tháng 9/2011.

[3]. Khoản 3 Điều 11 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008.

[4]. Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (có hiệu lực ngày 01/7/2016).

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích những bất cập trong quy định của pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con, từ đó, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy quyền được giáo dục của con trong gia đình được thực hiện hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển của trẻ em và xã hội trong bối cảnh hiện nay.
Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu một số học thuyết và phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật, chỉ ra những bất cập tồn tại trong quy định pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam chưa phù hợp với các học thuyết này. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng trong thời gian tới.
Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Tóm tắt: Cải cách thủ tục hành chính là yếu tố quan trọng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính, thúc đẩy cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đặc biệt là tạo động lực cho đổi mới sáng tạo. Nghiên cứu này phân tích sự cần thiết của cải cách thủ tục hành chính và thực trạng cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam trong việc khơi thông động lực đổi mới sáng tạo, từ đó, đề xuất giải pháp cải cách.
Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích quá trình phát triển tư tưởng về mối quan hệ giữa luật pháp và kinh tế học, tập trung vào trường phái kinh tế học pháp luật với phương pháp phân tích chi phí - lợi ích làm nổi bật vai trò quan trọng của việc cân nhắc các tác động hành vi cùng hiệu quả phân bổ nguồn lực trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật. Trên cơ sở đó, đề xuất áp dụng phương pháp kinh tế học pháp luật vào quy trình lập pháp tại Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả, tính minh bạch, sự công bằng xã hội và góp phần thúc đẩy cải cách pháp luật bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chuyển đổi số.

Theo dõi chúng tôi trên: