Chủ nhật 12/07/2026 12:42
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số giải pháp giải quyết tình trạng hôn nhân cận huyết trên địa bàn tỉnh Tây Nguyên

Trên cơ sở nghiên cứu các quy định pháp luật về điều kiện kết hôn, thực trạng hôn nhân cận huyết trên địa bàn tỉnh Tây Nguyên, tác giả đề xuất một số giải pháp để giải quyết tình trạng này trên thực tiễn.

1. Quy định pháp luật về điều kiện kết hôn

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định chế độ hôn nhân và gia đình; chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử giữa các thành viên gia đình; trách nhiệm của cá nhân, tổ chức, nhà nước và xã hội trong việc xây dựng, củng cố chế độ hôn nhân và gia đình (Điều 1); khuyến khích kế thừa, phát huy truyền thống văn hóa, đạo đức tốt đẹp của dân tộc Việt Nam về hôn nhân và gia đình (khoản 5 Điều 2); cấm tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn (điểm b khoản 2 Điều 5). Pháp luật quy định cấm việc kết hôn đối với những hành vi kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng (điểm d khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014).

Theo quy định của pháp luật, những người cùng dòng máu về trực hệ là những người có quan hệ huyết thống, trong đó, người này sinh ra người kia kế tiếp nhau (khoản 17 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014); những người có họ trong phạm vi ba đời là những người cùng một gốc sinh ra gồm cha mẹ là đời thứ nhất; anh, chị, em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha là đời thứ hai; anh, chị, em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì là đời thứ ba (khoản 18 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014).

Bên cạnh quy định điều kiện kết hôn, pháp luật quy định các chế tài đảm bảo cho pháp luật được thực thi trong thực tiễn. Khi các chủ thể vi phạm điều cấm sẽ bị áp dụng chế tài của Nhà nước (chế tài hành chính, chế tài hình sự), tùy vào tính chất, mức độ của hành vi mà áp dụng chế tài để đạt hiệu quả trong việc giáo dục, răn đe đối với chủ thể vi phạm cũng như đối với cộng đồng.

Bên cạnh đó, nhằm nâng cao nhận thức, ý thức pháp luật về hôn nhân và gia đình, góp phần giải quyết tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết, nâng cao chất lượng dân số và nguồn nhân lực ở vùng dân tộc thiểu số, ngày 14/4/2015 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 498/QĐ-TTg ngày 14/4/2015 phê duyệt Đề án “Giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2015 - 2025”.

2. Thực trạng hôn nhân cận huyết trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên

Hôn nhân là một nét văn hóa đặc trưng của mỗi cộng đồng, dân tộc, do nhiều yếu tố, trong đó, điều kiện phát triển xã hội là một tiêu chí để đánh giá sự tiến bộ của hôn nhân. Trong luật tục đồng bào dân tộc thiểu số vùng Tây Nguyên có nhiều yếu tố phù hợp với chế độ hôn nhân hiện đại theo quy định của pháp luật, như: Việc kết hôn trên cơ sở tự nguyện, xem xét ý kiến người xung quanh đã có gia đình chưa… đề cao sự chung thủy vợ chồng, những trường hợp ngoại tình, “gian dâm” bị cộng đồng lên án và xử phạt nặng. Thực tiễn, chế độ hôn nhân một vợ, một chồng của dân tộc ở Tây Nguyên đã được xác lập vững chắc.

Trong quá trình triển khai, áp dụng pháp luật vào thực tế, do ảnh hưởng nhiều yếu tố, như vị trí địa lý, đi lại khó khăn, tập quán, luật tục, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật chưa hiệu quả… ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật trên thực tiễn. Thực tiễn cho thấy, các báo cáo hàng năm của các địa phương, các chương trình giám sát, chương trình khảo sát về tình trạng hôn nhân cận huyết ngày càng giảm, đó là một dấu hiệu tích cực đối với chính sách pháp luật.

Khi tiếp cận hiện tượng hôn nhân cận huyết đa số các báo cáo thể hiện sự quan sát từ ngoài vào trong, tuy nhiên, nguyên nhân nội tại (luật tục, trình độ dân trí) chi phối hiện tượng vi phạm pháp luật. Để giải quyết triệt để tình trạng này cần có cách tiếp cận phù hợp, có thể là: Cách tiếp cận từ phía ngoài và cách tiếp cận từ phía trong.

Thứ nhất, tiếp cận vấn đề từ phía ngoài vào trong (từ chính sách và thực thi chính sách áp dụng cho một đối tượng) cho thấy có một số nguyên nhân sau:

(i) Địa bàn tỉnh Tây Nguyên, nhìn rộng hơn là dọc dãy Trường Sơn, đa số các dân tộc theo chế độ mẫu hệ. Thực chất, đây là cách tính nguồn gốc được tính theo dòng nữ, về tập tục tính theo dòng nữ xưa kia. Theo một số nghiên cứu thì việc xác định nguồn gốc tính theo nguồn gốc dòng nữ xuất hiện từ thời thị tộc[1].

(ii) Về điều kiện sinh hoạt. Thực tế cho thấy, hôn nhân cận huyết thường xảy ra ở những vùng đồng bào dân tộc thiểu số, sống ở những địa bàn hẻo lánh; điều kiện sinh hoạt xã hội chưa phát triển so với các vùng có điều kiện vị trí thuận lợi; đời sống dân cư khó khăn, thiếu công ăn việc làm, hoạt động kinh tế chủ yếu làm nương rẫy, chưa áp dụng kiến thức khoa học vào đời sống, sản xuất; trình độ nhận thức, hiểu biết và trình độ dân trí của người dân còn thấp; điều kiện giao thông khó khăn, địa hình hiểm trở nên trai gái khác buôn làng ít có dịp gặp nhau.

(iii) Tác động của luật tục. Trong đời sống của người dân chịu chi phối nhiều luật tục chưa có khoa học kiểm chứng chi phối trong hành vi của người dân; một trong những hủ tục đó là do sự sắp xếp của gia đình hai bên; trong quan niệm của một bộ phận người dân còn cho rằng những người gần dòng máu lấy nhau thì gần gũi nhau hơn, thương yêu nhau hơn, khó bỏ nhau giữa chừng. Cùng với đó, nếu lấy cùng họ hàng thì của cải, ruộng đất không bị phân chia cho họ hàng người khác… Người dân chưa nhận thức được những hệ quả của việc kết hôn cùng huyết thống.

(iv) Chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật một số nơi chưa phù hợp, người dân tiếp cận được thông tin pháp luật nhưng chưa hiểu; có nơi tình trạng “nới lỏng” pháp luật và các chế tài xử phạt vi phạm hôn nhân cận huyết thống chưa đủ mạnh để ngăn ngừa, răn đe tình trạng hôn nhân cận huyết thống, việc xử phạt chưa quyết liệt.

Thứ hai, tiếp cận vấn đề từ trong tiếp cận ra (luật tục ảnh hưởng và tác động đến hành vi, quan niệm của cộng đồng xảy ra tình trạng hôn nhân cận huyết).

Theo cách tiếp cận này cho thấy: Điều kiện sinh hoạt của đồng bào dân tộc chịu chi phối nhiều bởi luật tục, luật tục gần như in sâu vào trong tâm trí, chi phối hành vi và sinh hoạt hàng ngày. Trên địa bàn tỉnh Tây Nguyên, mỗi dân tộc có một luật tục riêng, trong mỗi dân tộc có nhánh (nhóm) riêng, cùng một dân tộc sinh sống ở những địa phương khác nhau sẽ có sự giao thoa với các nhánh và các dân tộc khác có những điểm riêng, như trong ngôn ngữ gọi là “phương ngữ”.

Về luật tục trong hôn nhân nhiều biểu hiện, nhưng với góc độ tiếp cận từ trong ra thì hôn nhân của đồng bào dân tộc thiểu số vùng Tây Nguyên tồn tại hai hình thức là nội tộc hôn tộc người và ngoại tộc hôn dòng họ.

(i) Nội tộc hôn tộc người: Xét trong điều kiện sinh hoạt xã hội của đồng bào dân tộc thiểu số là hôn nhân cùng dân tộc. Nguyên tắc nội hôn tộc người, luật tục chỉ cho phép nam, nữ kết hôn với những người trong cùng dân tộc. Những trường hợp hôn nhân ngoại tộc không được khuyến khích, thậm chí bị cấm đoán. Tuy nhiên, trải qua quá trình chung sống cùng địa vực, hình thành các mối quan hệ kinh tế, văn hóa ngày càng sâu rộng với các tộc người lân cận nên hôn nhân giữa các cư dân bản địa với nhau, giữa người bản địa với các dân tộc khác không còn là hiện tượng hiếm gặp. Cho đến nay, việc kết hôn với người ngoại tộc đã được đa số thành viên trong cộng đồng chấp nhận. Ðây là một sự thay đổi theo chiều hướng tiến bộ, giúp tăng cường sự hiểu biết, thúc đẩy mối quan hệ đoàn kết giữa các dân tộc anh em.

(ii) Ngoại tộc hôn dòng họ: Nguyên tắc ngoại tộc hôn dòng họ cũng là một nguyên tắc cơ bản trong phong tục hôn nhân của nhiều dân tộc trên địa bàn tỉnh Tây Nguyên. Trong cách hiểu về huyết thống, thì người đồng bào ở Tây Nguyên hiểu theo trực quan “cùng dòng họ”, trên cơ sở cách hiểu luật tục nhiều dân tộc quy định dạng “không được kết hôn trong cùng một dòng họ”. Luật tục đa số tồn tại dạng cấm, đây là một dạng quy định cấm, vì đi theo quy định cấm là những hiện tượng thiên nhiên khắc nghiệt và sự phản ứng của cộng đồng.

Ví dụ: Một người họ Siu[2] ở Gia Lai thì không được kết hôn với người họ Siu sinh sống ở bất kỳ đâu, cho dù người đó sống ở địa phương khác cách xa về khoảng cách địa lý. Vì, theo quan niệm của người dân đó là cùng huyết thống. Đây cũng là một nội dung cần chú ý trong công tác tuyên truyền. Do nhận thức, cộng với cách tính theo dòng nữ nên việc kết hôn giữa con của người gái và con của người trai trong gia đình[3] được xem là loại hình hôn nhân ưu tiên để duy trì và bảo vệ tài sản trong gia đình, dòng họ[4].

Chính nguyên nhân nội tại bên trong của mỗi cộng đồng người quyết định đến quan điểm hôn nhân của cộng đồng, nếu thay đổi từ trong thì tình trạng hôn nhân cận huyết sẽ được giải quyết triệt để.

3. Một số giải pháp giải quyết tình trạng hôn nhân cận huyết trên địa bàn khu vực Tây Nguyên

Thứ nhất, về tổ chức việc thi hành pháp luật. Pháp luật được ban hành trên cơ sở khoa học và áp dụng chung cho mọi đối tượng, tuy nhiên, vì một số nguyên nhân nào đó (chủ yếu về địa lý) thì vẫn tồn tại một số luật tục ở một số địa bàn. Do vậy, chính quyền địa phương cần rà soát đối với những địa bàn có vùng kinh tế, điều kiện xã hội khó khăn để có biện pháp thi hành pháp luật phù hợp.

Thứ hai, tăng cường phổ biến, giáo dục pháp luật bằng các hình thức phù hợp. Việc hoàn thiện pháp luật là một chức năng của Nhà nước, nhưng để pháp luật đi vào cuộc sống thì cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật đến những vùng địa lý khó khăn, nhiều luật tục, tránh hiện tượng “cưỡi ngựa xem hoa”. Muốn làm được điều đó thì phải có sự phối hợp với các cấp chính quyền, các cơ quan trong hệ thống chính trị để có sự tiếp cận đến từng nhóm đối tượng cụ thể, mỗi nhóm đối tượng có trình độ, điều kiện kinh tế xã hội và nhận thức khác nhau thì cần có cách tiếp cận phù hợp. Đối với những vùng sâu, vùng xa trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cần sử dụng hình ảnh trực quan nhiều hơn; chú trọng phát huy tối đa vai trò của những người có uy tín trong cộng đồng. Công tác tuyên truyền vận động người dân về tình trạng hôn nhân cận huyết cần tiến hành thường xuyên.

Thứ ba, nâng cao dân trí vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn. Thực tế cho thấy thì hiện tượng hôn nhân cận huyết xảy ra ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, chịu sự tác động của nhiều luật tục chi phối, trong cách hiểu và thực hiện của người dân cũng chưa nhận thức được trên cơ sở khoa học. Vì vậy, cần đẩy mạnh việc nâng cao dân trí ở những vùng xảy ra hiện tượng này, áp dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất cũng là một cách tạo áp lực để người dân tự nâng cao kiến thức của mình trong sản xuất và sinh hoạt.

Thứ tư, xây dựng cây phả hệ cho mỗi gia đình. Đây là điều nên khuyến khích làm, trong sinh hoạt của cộng đồng, thì mỗi cá nhân cũng có lòng tự hào, tự trọng riêng về gia đình, dòng họ. Trong cuộc sống có sự so sánh giữa các chủ thể, điều này thể hiện tính tự tôn giữa làng này với làng khác, dân tộc này với dân tộc khác trên cùng địa vực. Bên cạnh đó, xây dựng cây phả hệ về mặt y học cũng theo dõi được sự di truyền, di cư… của một gia đình. Chính điều này nếu áp dụng đúng với một quy trình chuẩn thì không những xóa được tình trạng hôn nhân cận huyết mà có thể là một đòn bẩy trong xóa đói, giảm nghèo và đạt nhiều mục đích hơn nữa đối với những địa bàn khó khăn. Vì, khi đã hướng đến một “giá trị” thì người ta có kiến thức về sự vật, nhưng điều quan trọng người ta biết lưu giữ, phát huy, trong trường hợp này là giá trị văn hóa gia đình./.

ThS. Trần Đức Thú

Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh Gia Lai


[1] Nghiên cứu các con đường đi lên của loài người từ mông muội qua dã man đến văn minh (Chương XIV), của L.H. Morgan, Nxb. Giáo dục Việt Nam.

[2] Người Jarai có một số họ chính như: Siu, Nay, Rơ Chăm, Rơ Mah, Rơ Lan, Ksor …. Người Ba Na có một số họ: Đinh, Hồ, Hà, Siu…

[3] Con cô, con cậu.

[4] Một số dân tộc vùng Tây Nguyên sau giải phóng năm 1975 mới có họ. Người Ba Na trước đây không mang họ, con sinh ra chỉ đặt tên.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Ngày 02/7/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1189/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam (Kế hoạch), với các nội dung chế hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa Việt Nam; đưa các hệ giá trị thấm sâu vào đời sống xã hội; chủ động ngăn chặn tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống; nâng cao sức đề kháng của người dân trước những tác động tiêu cực.
Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Ngày 24/4/2026, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI thống nhất thông qua Nghị quyết số 24/2026/QH16 về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công trong thời gian 02 năm. Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2026 và được thực hiện đến hết ngày 30/9/2028.
Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Trong tiến trình đổi mới và phát triển đất nước, công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật luôn được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động kinh tế - xã hội. Nếu như nhiệm kỳ trước đặt nền móng cho nhiều cải cách thể chế thì ngay từ những tháng đầu của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI, công tác lập pháp đã được triển khai với cường độ cao, thể hiện rõ quyết tâm đưa thể chế đi trước một bước trong tiến trình phát triển đất nước.
Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026. Luật đã cụ thể hóa các văn bản quan trọng của Bộ Chính trị và Ban Bí thư, như: Kết luận số 12-KL/TW ngày 19/3/2016 của Bộ Chính trị về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; Chỉ thị số 27-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Quy định số 231-QĐ/TW ngày 17/01/2025 của Bộ Chính trị về bảo vệ người đấu tranh chống lãng phí.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Trong tháng 6/2026, nhiều văn bản pháp luật mới đã được cập nhật, bao quát các lĩnh vực hành chính, tư pháp, thuế - phí, tài chính - ngân hàng, giao thông, xây dựng, đầu tư, khoa học - công nghệ và thương mại… Đây là những quy định quan trọng, tác động trực tiếp đến cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân.
Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Ngày 01/7/2026, Luật Viên chức số 129/2025/QH15 và Nghị định số 232/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực thi hành, tạo cơ sở pháp lý mới cho việc quản lý viên chức theo vị trí việc làm. Hai văn bản này cụ thể hóa chủ trương của Đảng về đổi mới cơ chế quản lý viên chức, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của viên chức.
Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Để bảo đảm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng được triển khai kịp thời, thống nhất và hiệu quả trên phạm vi cả nước, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu đã ký Quyết định số 925/QĐ-TTg ngày 25/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.
Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 1111/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch tổ chức "Ngày Văn hóa Việt Nam" giai đoạn 2026 - 2030 (Kế hoạch), đánh dấu bước triển khai quan trọng Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 130/2025/QH15 (Luật năm 2025) được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10 (ngày 10/12/2025), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 gồm 11 Chương và 107 Điều quy định về hoạt động hàng không dân dụng, bao gồm các quy định về tàu bay, cảng hàng không, nhân viên hàng không, hoạt động bay, vận tải hàng không thương mại, hàng không chuyên dùng, hàng không chung, an toàn hàng không, an ninh hàng không, trách nhiệm dân sự và các hoạt động khác có liên quan đến hàng không dân dụng.
Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Quy định mới tại Nghị quyết số 254/2025/QH15 và Nghị định số 49/2026/NĐ-CP với cơ chế đồng thuận trên 75% được kỳ vọng khơi thông hàng nghìn dự án, sẽ tháo gỡ một trong những vướng mắc lớn nhất trong quá trình triển khai các dự án có sử dụng đất.
Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Ngày 10/12/2025, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 chính thức thông qua Luật số 132/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026).
Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 thay thế Pháp lệnh Dân số số 06/2004/PL-UBTVQH11 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Pháp lệnh số 07/2025/UBTVQH15). Một trong những thay đổi căn bản của Luật Dân số năm 2025 là chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển. Những nội dung liên quan đến dân số và phát triển đã được thể hiện trong việc hướng tới giải quyết đồng bộ các vấn đề về quy mô dân số, cơ cấu dân số, thích ứng với già hóa dân số, nâng cao chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của từng địa phương, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.
Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.

Theo dõi chúng tôi trên: