Thứ bảy 24/10/2026 22:00
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số giải pháp nhằm tăng cường sự lãnh đạo của đảng đối với công tác tổ chức thi hành pháp luật trong lĩnh vực nội chính

Ngoài việc lãnh đạo công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, Đảng còn chú trọng và không ngừng nâng cao hiệu quả lãnh đạo công tác tổ chức thi hành pháp luật, bảo đảm sự gắn kết giữa khâu xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật. Tổ chức thi hành pháp luật là hoạt động để hiện thực hóa kết quả của hoạt động lập pháp, lập quy trong thực tiễn. Vì thế, nó là đầu ra quan trọng nhất của hoạt động lập pháp, đảm bảo cho sản phẩm của hoạt động lập pháp có hiệu lực và hiệu quả trong thực tế.

1. Tăng cường, nâng cao nhận thức về vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công tác tổ chức thi hành pháp luật

Pháp luật về lĩnh vực nội chính là mảng pháp luật quan trọng, liên quan trực tiếp đến công tác bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trị, trong đó, đặc biệt chú trọng đến tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp… Vì vậy, Đảng ta luôn quan tâm lãnh đạo chặt chẽ, toàn diện công tác tổ chức thi hành pháp luật trong lĩnh vực này. Đảng lãnh đạo công tác tổ chức thi hành pháp luật trong lĩnh vực nội chính thông qua việc: (i) Đề ra chủ trương, quan điểm, đường lối về tổ chức thi hành pháp luật trong lĩnh vực nội chính. (ii) Lãnh đạo thông qua công tác xây dựng, kiện toàn tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ làm công tác tổ chức thi hành pháp luật trong lĩnh vực nội chính. (iii) Lãnh đạo thông qua công tác theo dõi, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác tổ chức thi hành pháp luật trong lĩnh vực nội chính.

2. Tăng cường, nâng cao hiệu quả công tác ban hành văn bản, cho chủ trương, định hướng về tổ chức thi hành pháp luật

Thứ nhất, nghiên cứu, ban hành các chủ trương, định hướng về trình tự, thủ tục tổ chức thi hành pháp luật trong lĩnh vực nội chính theo hướng công khai, minh bạch, bảo đảm cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước, cơ chế giám sát của cơ quan nhà nước và xã hội đối với công tác thi hành pháp luật trong lĩnh vực nội chính.

Thứ hai, quy định cụ thể tiêu chí đánh giá hiệu quả thi hành pháp luật trong lĩnh vực nội chính; xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành và xác định trách nhiệm phối hợp của các cơ quan để thực hiện tốt công việc tổ chức thi hành Hiến pháp và pháp luật trong lĩnh vực nội chính.

Thứ ba, tăng cường khả năng tiếp cận của người dân với hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. Nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác rà soát, hệ thống quy phạm pháp luật về nội chính, giúp cán bộ, công chức, viên chức, người dân và doanh nghiệp thuận tiện trong tra cứu, tìm kiếm, thực hiện các quy định của pháp luật cũng như bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, tính công khai, minh bạch của hệ thống pháp luật.

Thứ tư, tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về nội chính một cách thiết thực, hiệu quả.

Thứ năm, phát triển đồng bộ các dịch vụ pháp lý, tiếp tục đẩy mạnh xã hội hóa các dịch vụ pháp lý. Phát triển mạnh mẽ đội ngũ luật sư vững vàng, bản lĩnh chính trị và đạo đức nghề nghiệp, đủ về số lượng, giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ. Tiếp tục đẩy mạnh việc xã hội hóa một số hoạt động bổ trợ tư pháp.

3. Tăng cường, nâng cao hiệu quả công tác lãnh đạo việc hoàn thiện pháp luật về tổ chức thi hành pháp luật

Thứ nhất, tiếp tục quán triệt, thể chế hóa các chủ trương, định hướng về hoàn thiện chính sách, pháp luật về hình sự, dân sự, tố tụng tư pháp, về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, về tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp... Sửa đổi, bổ sung các quy định không phù hợp với thực tiễn triển khai công tác phòng, chống vi phạm, tội phạm, giải quyết các tranh chấp dân sự, kinh tế.

Thứ hai, đề cao trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức thực hiện nhiệm vụ tổ chức thi hành pháp luật trong lĩnh vực nội chính trong việc đánh giá và phản ứng chính sách.

Pháp luật về tổ chức thi hành pháp luật trong lĩnh vực nội chính cần quan tâm đến biện pháp nâng cao năng lực thực thi pháp luật thông qua những quy định cụ thể về trách nhiệm đánh giá chính sách của các chủ thể tổ chức thực thi.

Thứ ba, hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa cơ quan ban hành pháp luật, cơ quan tổ chức thi hành pháp luật và cơ quan bảo vệ pháp luật trong lĩnh vực nội chính.

Thước đo hiệu lực, hiệu quả của công tác thực thi pháp luật bao gồm nhiều tiêu chí khác nhau như: Chất lượng văn bản quy phạm pháp luật, kết quả tác động của văn bản đến các quan hệ xã hội được điều chỉnh, chi phí trong hoạt động xây dựng, ban hành, tổ chức và giám sát thực hiện. Do vậy, cơ chế phối hợp giữa cơ quan ban hành, cơ quan tổ chức thi hành pháp luật và cơ quan bảo vệ pháp luật có vai trò rất quan trọng nhằm bảo đảm hiệu lực của pháp luật. Trong thực thi pháp luật trong lĩnh vực nội chính, cần xây dựng cơ chế phối hợp giữa Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan tư pháp theo hướng kết quả hoạt động giám sát của Quốc hội đối với hoạt động tổ chức thi hành pháp luật trong lĩnh vực nội chính là cơ sở để thẩm định, thẩm tra những chính sách mới trong lĩnh vực nội chính do Chính phủ, các cơ quan tư pháp trình. Bên cạnh đó, vai trò, cơ chế phối hợp của Tòa án trong việc đề nghị xem xét tính hợp pháp, tính hợp lý của các văn bản quy phạm pháp luật khi quy định của các văn bản quy phạm pháp luật đó được áp dụng để giải quyết các vụ việc cụ thể tại Tòa án, trên cơ sở đề nghị của Tòa án với tư cách là chủ thể có thẩm quyền tổ chức thi hành pháp luật, Quốc hội thực hiện quyền giám sát.

Thứ tư, quy định rõ trách nhiệm giải trình của các chủ thể tổ chức thi hành pháp luật làm cơ sở cho cơ chế giải trình của các chủ thể thi hành pháp luật trên mọi lĩnh vực, trong đó có pháp luật trong lĩnh vực nội chính.

Nội dung giải trình phải tập trung làm rõ tình hình ban hành văn bản quy định chi tiết thi hành văn bản quy phạm pháp luật (tính kịp thời, thống nhất, đồng bộ); tình hình tuân thủ pháp luật của các chủ thể tổ chức thi hành và các đối tượng thi hành; đánh giá về tính khả thi của các văn bản quy phạm pháp luật được tổ chức thi hành; các giải pháp khắc phục tình trạng vi phạm pháp luật trong công tác tổ chức thi hành.

Thứ năm, quy định khung tiêu chí đánh giá năng lực thực thi pháp luật trong lĩnh vực nội chính của đội ngũ cán bộ, công chức.

Theo tác giả, tiêu chí đánh giá năng lực tổ chức thi hành pháp luật trong lĩnh vực nội chính của cán bộ, công chức trên 04 lĩnh vực cơ bản: (i) Năng lực đánh giá chính và phản ứng chính sách trong lĩnh vực nội chính; (ii) Năng lực soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật; (iii) Trách nhiệm giải trình; (iv) Năng lực rà soát, kiểm tra, đánh giá tình hình thi hành pháp luật trong lĩnh vực nội chính.

Xây dựng tiêu chí cụ thể đánh giá năng lực thực thi pháp luật trong lĩnh vực nội chính của đội ngũ cán bộ, công chức sẽ là một trong những giải pháp góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong tổ chức thi hành pháp luật trong lĩnh vực nội chính; xây dựng các tiêu chí cụ thể, định lượng để xác định được mức độ thực thi pháp luật, cũng như đánh giá được chính xác, toàn diện hiệu quả, tác động của văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực nội chính.

Thứ năm, hoàn thiện cơ chế pháp lý xem xét, xử lý đối với những vi phạm trong quá trình tổ chức thi hành pháp luật trong lĩnh vực nội chính.

Cơ chế xem xét, xử lý vi phạm pháp luật trong quá trình tổ chức thi hành pháp luật trong lĩnh vực nội chính được tiếp cận điều chỉnh ở hai góc độ: Xử lý vi phạm pháp luật đối với chủ thể tổ chức thi hành pháp luật và xử lý vi phạm pháp luật đối với những hành vi vi phạm được phát hiện trong quá trình quản lý, tổ chức thi hành pháp luật. Đối với cơ chế xử lý vi phạm đối với chủ thể tổ chức thi hành pháp luật, pháp luật về tổ chức thi hành pháp luật trong lĩnh vực nội chính cần quy định cụ thể các nhiệm vụ, quyền hạn tổ chức thi hành pháp luật của Quốc hội, Chính phủ, cơ quan tư pháp… làm cơ sở cho việc xem xét, đánh giá hành vi vi phạm pháp luật của các chủ thể, đồng thời, xác định rõ cơ chế xử lý vi phạm đối với từng hành vi đó.

4. Tăng cường, nâng cao hiệu quả công tác theo dõi, kiểm tra, giám sát việc tổ chức thi hành pháp luật

Một là, tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện nghiêm túc nhiệm vụ theo dõi, kiểm tra, giám sát việc thể chế hóa các chủ trương, nghị quyết của Đảng về tổ chức thi hành pháp luật trong lĩnh vực nội chính. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thanh tra vụ việc, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án tham nhũng, kinh tế nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm…

Hai là, các cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc trung ương cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao hiệu quả công tác tự thanh tra, kiểm tra, kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm các sai phạm, tiêu cực, tham nhũng trong nội bộ cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương; đưa nội dung kiểm tra, giám sát về tổ chức thi hành pháp luật trong lĩnh vực nội chính vào chương trình kiểm tra, giám sát hàng năm của cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, tổ chức, đơn vị mình.

Ba là, rà soát, sửa đổi, bổ sung hoàn thiện các quy chế, quy định, quy trình, hướng dẫn phục vụ công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng thuộc thẩm quyền của các cấp ủy, tổ chức đảng về tổ chức thi hành pháp luật trong lĩnh vực nội chính.

5. Tăng cường, nâng cao hiệu quả trong lãnh đạo việc nâng cao năng lực cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong tổ chức thi hành pháp luật

Một là, tiếp tục đổi mới phương thức, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động, tăng tính dân chủ, pháp quyền, chuyên nghiệp trong tổ chức và hoạt động của Quốc hội trong thực hiện chức năng lập pháp, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao. Hoàn thiện cơ chế bảo vệ Hiến pháp. Thiết lập đồng bộ, gắn kết cơ chế giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân với kiểm tra, giám sát của Đảng, với giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân.

Hai là, tiếp tục kiện toàn tổ chức và hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước, theo hướng tinh gọn, hợp lý, hiệu lực, hiệu quả, tránh tình trạng trùng lặp, chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ hoặc tổ chức không phù hợp; Chính phủ tập trung thực hiện quyền hành pháp; tổ chức thi hành pháp luật; tạo cơ chế gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng pháp luật với tổ chức thi hành pháp luật, trong đó, cần tập trung chỉ đạo quyết liệt, đầu tư hợp lý nguồn lực và điều kiện khác để thực hiện tốt các nhiệm vụ nâng cao hiệu lực, hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật, thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật.

Ba là, tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Cơ quan điều tra, Cơ quan thi hành án tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

Bốn là, tiếp tục hoàn thiện cơ chế phát triển đội ngũ luật sư và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của luật sư; mở rộng phạm vi xã hội hóa hoạt động trợ giúp pháp lý.

Hoàn thiện chính sách, pháp luật về giám định tư pháp theo hướng khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để các cơ quan, tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện tham gia hoạt động giám định. Xác định rõ cơ chế bảo đảm tính chuyên môn hóa, chuyên nghiệp hóa, độc lập chịu trách nhiệm về kết quả giám định của đội ngũ giám định viên.

Năm là, tăng cường đào tạo cán bộ làm công tác tổ chức thi hành pháp luật trong lĩnh vực nội chính; tiếp tục đổi mới cơ chế thu hút, tuyển chọn người có đủ tiêu chuẩn về chính trị, phẩm chất đạo đức, chuyên môn nghiệp vụ, kinh nghiệm, kiến thức xã hội vào làm việc trong các cơ quan nội chính; tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm.

Sáu là, về hoàn thiện cơ chế giám sát của các cơ quan dân cử, nhân dân trong công tác tổ chức thi hành pháp luật trong lĩnh vực nội chính.

Bảy là, tiếp tục đổi mới, hoàn thiện cơ chế phân bổ ngân sách, đầu tư kinh phí cho việc xây dựng đồng bộ cơ sở vật chất; đẩy nhanh việc ứng dụng công nghệ hiện đại cho các cơ quan được giao thực hiện các hoạt động tổ chức thi hành pháp luật trong lĩnh vực nội chính.

ThS. Nguyễn Thị Hương
Ban Nội chính Trung ương


Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: