Thứ ba 26/05/2026 02:14
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số giải pháp tăng cường quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên trường chính trị

Tăng cường quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên các trường chính trị là một nhu cầu cấp bách và cần được xem xét một cách toàn diện, thấu đáo. Những giải pháp đề ra đúng đắn sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục của các trường chính trị và góp phần chấn hưng giáo dục nước nhà. Bài viết đề cập nghiên cứu và đề xuất giải pháp nhằm tăng cường quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên các trường chính trị ở nước ta hiện nay.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ lãnh đạo, quản lý thì việc nâng cao chất lượng giảng dạy lý luận chính trị trở thành nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của các trường chính trị hiện nay. Một trong những yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng giảng dạy trước hết cần nâng cao chất lượng của đội ngũ giảng viên. Đội ngũ giảng viên các trường chính trị có vị trí rất quan trọng, vì đây là nơi đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong hệ thống chính trị. Chất lượng cán bộ, công chức, viên chức phụ thuộc rất lớn vào chất lượng đào tạo, bồi dưỡng của các trường chính trị. Đội ngũ cán bộ có tác động trực tiếp tới sự vững mạnh của hệ thống chính trị, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng ở địa phương, cơ sở.

Quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên các trường chính trị được hiểu là hoạt động chấp hành - điều hành, theo đó, chấp hành là hoạt động thực hiện trên thực tế các quy định pháp luật của Nhà nước và quy chế của các trường chính trị đối với đội ngũ giảng viên; điều hành là hoạt động chỉ đạo của cơ quan nhà nước cấp trên đối với đội ngũ giảng viên. Đặc trưng của hoạt động điều hành là ban hành văn bản pháp luật và hướng dẫn thi hành pháp luật. Trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật khá phong phú và bước đầu đã tạo nền tảng pháp lý đẩy mạnh hoạt động quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên các trường chính trị cấp tỉnh. Tuy nhiên, trên thực tế, việc quản lý đội ngũ giảng viên các trường chính trị vẫn đang gặp phải rất nhiều vấn đề bất cập, việc thu hút những cán bộ đã có kinh nghiệm công tác, có kỹ năng thuyết trình chuyển công tác về trường chính trị là điều vô cùng khó khăn, sức hấp dẫn của chính sách, môi trường làm việc chưa đủ lớn để giảng viên yên tâm gắn bó với trường, với nghề. Đội ngũ giảng viên các trường chính trị rất cần một sự đánh giá công tâm, chính xác, chân thành về năng lực, trình độ và những đóng góp của mình. Họ cũng rất cần sự biểu dương kịp thời, những chính sách đãi ngộ xứng đáng với những nỗ lực và cống hiến của họ. Vì vậy, nhu cầu tăng cường quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên các trường chính trị được đặt ra hết sức cấp thiết và coi đây là khâu bứt phá nhằm nâng cao chất lượng và phát triển toàn diện giáo dục tại các các trường chính trị.

Để tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên các trường chính trị, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho Nhà nước và xã hội, cần quan tâm thực hiện một số giải pháp sau:

1. Tăng cường nhận thức về quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên các trường chính trị

Quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên các trường chính trị là yêu cầu bức thiết đặt ra, để thực hiện tốt nội dung này thì các cơ quan nhà nước, các trường chính trị và bản thân đội ngũ giảng viên cần nhận thức một cách đầy đủ và đúng đắn tầm quan trọng của quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên. Muốn vậy, trước hết, các cơ quan có thẩm quyền cần tuyên truyền, giáo dục vị thế, vai trò của giảng viên để họ tự hào khi được đứng trong hàng ngũ này. Khi đó, giảng viên sẽ có động lực phấn đấu hoàn thiện bản thân và thực sự là người quyết định chất lượng, thương hiệu của các trường chính trị.

Cơ quan nhà nước và lãnh đạo các trường chính trị cần phổ biến sâu rộng quy định của pháp luật về tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn của giảng viên, đảm bảo nhận thức của đội ngũ giảng viên, nhằm thực hiện đầy đủ các văn bản pháp luật liên quan đến giảng viên. Lãnh đạo các trường chính trị cần phổ biến các yêu cầu, nhiệm vụ giáo dục chính trị, đặc biệt là nhiệm vụ đào tạo lý luận chính trị để mỗi giảng viên không ngừng học tập, nâng cao trình độ, đổi mới phương pháp giảng dạy đáp ứng nhu cầu nâng cao chất lượng giáo dục. Đặc biệt là đội ngũ giảng viên trẻ phải thấy trách nhiệm trong việc nâng cao trình độ chuyên môn và trau dồi kinh nghiệm giảng dạy, học hỏi từ các giảng viên có kinh nghiệm, rèn luyện về tác phong, kỷ luật phát ngôn và bản lĩnh chính trị.

Các trường chính trị cần tiếp tục tổ chức phong trào thi đua dạy tốt, từ đó phát hiện và nhân rộng những điển hình tiên tiến; nâng cao nhận thức của xã hội đối với đội ngũ giảng viên, nhằm tạo sự đồng thuận về các giải pháp tăng cường quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên các trường chính trị như Chỉ thị số 40-CT/TW: “Các cấp ủy Đảng, chính quyền và các cấp quản lý giáo dục cần tăng cường tuyên truyền, giáo dục làm cho nhân dân và toàn xã hội nhận thức rõ vai trò quan trọng hàng đầu của đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục trong sự nghiệp nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước”[1].

2. Hoàn thiện pháp luật về quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên các trường chính trị

Cần nhanh chóng “luật hóa” các quan điểm, chủ trương của Đảng về quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên các trường chính trị, bởi nội dung quản lý nhà nước cần được thực hiện trên nền tảng pháp lý vững chắc đó là văn bản pháp luật. Quy định cơ chế quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên, giao quyền tự chủ cho các trường chính trị. Điều này sẽ tạo điều kiện cho các trường chính trị quản lý tốt hơn đội ngũ giảng viên. Nhà nước đề ra các nguyên tắc, chính sách, mục tiêu cụ thể, còn các trường chính trị sẽ chủ động trong tuyển dụng, sử dụng, quản lý, đánh giá, khen thưởng, kỷ luật giảng viên. Quy định cụ thể về tiêu chí đánh giá giảng viên. Bộ tiêu chí này phải cụ thể và định lượng hơn trong việc đánh giá giảng viên cũng như phương pháp đánh giá đảm bảo công tác phân loại, đánh giá viên chức được thuận tiện và chính xác hơn. Thực tế cho thấy, do không có những quy định cụ thể nên việc đánh giá giảng viên chưa chính xác, còn nặng về hình thức, giảng viên chưa nhận thức rõ những ưu điểm và hạn chế của bản thân.

3. Tăng cường hiệu quả công tác quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên các trường chính trị

Thứ nhất, lập kế hoạch công tác cụ thể cho đội ngũ giảng viên

Lãnh đạo trường chính trị cần hướng dẫn các khoa và giảng viên xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng phù hợp với mục tiêu, yêu cầu và nhiệm vụ của nhà trường. Kế hoạch cần cụ thể, chi tiết và đạt được những chỉ tiêu đã đề ra trong từng giai đoạn. Nhà trường căn cứ vào nội dung đăng ký của các khoa để xây dựng kế hoạch, dự trù kinh phí và các điều kiện đảm bảo tổ chức thực hiện có hiệu quả. Định kỳ hàng năm, nhà trường sẽ tổ chức sơ kết quá trình triển khai thực hiện và điều chỉnh kịp thời, xử lý những khó khăn trong quá trình thực hiện.

Thứ hai, đổi mới công tác tuyển dụng, bố trí, sử dụng giảng viên

Hoàn thiện quy định của pháp luật về tuyển dụng, sử dụng, quản lý giảng viên, trong đó cần chú ý việc cụ thể hóa các chủ trương của Đảng như: “Tăng thêm biên chế”, “tuyển chọn trực tiếp không qua thi” được nêu tại Kết luận số 86-KL/TW: “Sinh viên tốt nghiệp xuất sắc và các cán bộ khoa học trẻ được thu hút theo chính sách này được bổ sung tăng thêm biên chế vào tổng số biên chế của các cơ quan, đơn vị đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt”[2]. Thực hiện phân cấp công tác tuyển chọn giảng viên cho các khoa để phát huy tính tự chủ về chuyên môn, nghiệp vụ. Giảng viên trẻ thuộc diện quy hoạch thì lãnh đạo nhà trường có thể phân công một số công việc để họ làm quen với công tác quản lý như chủ trì thông tin khoa học, chủ trì họp chuyên môn. Xây dựng đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn cao làm công tác tuyển dụng, sử dụng, quản lý giảng viên... Thường xuyên thực hiện việc kiểm tra, thanh tra liên quan đến tuyển chọn, bố trí và sử dụng giảng viên.

Thứ ba, tích cực đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho giảng viên

Cần xây dựng các chương trình đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu phù hợp với đặc thù của giảng viên các trường chính trị. Nội dung đào tạo phải có tính mới gắn với thực tiễn thời đại. Bên cạnh đó, cần tập trung vào các chương trình bồi dưỡng kỹ năng như: Kỹ năng quản lý nhà nước, phương pháp giảng dạy hiện đại, kỹ năng nói chuyện trước công chúng, phương pháp nghiên cứu khoa học, kỹ năng xử lý tình huống...

Thứ tư, thực hiện tốt chế độ, chính sách khen thưởng, kỷ luật giảng viên

Cơ quan có thẩm quyền cần tiếp tục chỉ đạo thực hiện nghiêm túc chế độ, chính sách cho giảng viên. Các trường chính trị cần rà soát, bổ sung các quy định về chế độ, chính sách, tạo điều kiện cho giảng viên có điều kiện làm việc tốt nhất; được tăng lương trước hạn khi có thành tích xuất sắc trong giảng dạy. Nhà trường cần thường xuyên quan tâm động viên, hỗ trợ các giảng viên có hoàn cảnh khó khăn, giảng viên thuộc diện gia đình chính sách. Bên cạnh đó, cần quan tâm đến việc đề nghị phong tặng các danh hiệu vinh dự đối với nhà giáo, có các hoạt động tôn vinh nhà giáo có thành tích xuất sắc. Thường xuyên tổ chức thi, xét tuyển vào các chức danh nghề nghiệp để giảng viên có điều kiện nâng lương, phù hợp với vị trí làm việc và sự cống hiến, phấn đấu của giảng viên. Sớm luật hóa các quy định về chế độ, chính sách đãi ngộ cho giảng viên để đảm bảo tính pháp lý. Nghị quyết số 29-NQ/TW đã nêu rõ: “Lương của nhà giáo được ưu tiên xếp cao nhất trong hệ thống thang bậc lương hành chính sự nghiệp và có thêm phụ cấp tùy theo tính chất công việc, theo vùng”[3]. Tuy nhiên, chủ trương này chưa được cụ thể hóa bằng pháp luật, nên lương của nhà giáo nói chung trong đó có đội ngũ giảng viên các trường chính trị vẫn chưa có sự ưu tiên như chủ trương đã đề ra.

Thứ năm, thực hiện hiệu quả việc đánh giá đội ngũ giảng viên

Cần nhanh chóng xây dựng tiêu chí đánh giá chung cho viên chức và những tiêu chí đặc thù cho đội ngũ giảng viên các trường chính trị. Bởi mỗi viên chức với chức trách, nhiệm vụ, vị trí việc làm khác nhau thì cần có tiêu chí đánh giá khác nhau cho phù hợp với từng đối tượng[4]. Các trường cần xác định nội dung và phương pháp đánh giá cho phù hợp, đánh giá theo định kỳ phải khác với đánh giá để đưa vào diện quy hoạch bổ nhiệm hay để khen thưởng, luân chuyển cán bộ[5]. Xây dựng bảng mô tả chức trách, nhiệm vụ, các công việc giao cho giảng viên càng cụ thể, có định mức, dễ kiểm tra thì càng có cơ sở thuận lợi cho việc đánh giá chính xác[6]. Chú trọng đến việc tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ về công tác đánh giá cho cán bộ phụ trách công tác này.

Thứ sáu, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát

Các cơ quan có thẩm quyền cần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác thanh tra giáo dục, thường xuyên cử đi đào tạo, bồi dưỡng trên cơ sở rà soát lại trình độ, kỹ năng nghiệp vụ. Khi đội ngũ này được tăng cường về chất lượng sẽ góp phần đạt được hiệu quả quản lý nhà nước và mục tiêu đề ra. Hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát phải được thực hiện thường xuyên, đồng bộ giữa các đơn vị, kịp thời tuyên dương, khích lệ những giảng viên điển hình, hoàn thành tốt nhiệm vụ và cương quyết xử lý khi phát hiện hành vi vi phạm. Hoàn thiện các công cụ quản lý và vai trò kiểm tra, giám sát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với đội ngũ giảng viên, điều này phải gắn liền với cải cách thủ tục hành chính, gắn với việc áp dụng công nghệ thông tin vào quản lý giảng viên.

Thứ bảy, xây dựng môi trường làm việc khoa học, đảm bảo các điều kiện phục vụ giảng dạy và học tập hiệu quả

Môi trường làm việc của giảng viên là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy. Môi trường làm việc thuận lợi sẽ giúp đội ngũ giảng viên phát huy hết khả năng, cùng chung tay thực hiện nhiệm vụ chung của nhà trường. Ngược lại, môi trường làm việc không tốt sẽ làm cho đội ngũ giảng viên giảm sút động lực phấn đấu. Chú trọng đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, thông qua nghiên cứu khoa học sẽ giúp đội ngũ giảng viên từng bước nâng cao trình độ lý luận, chuyên môn, nghiệp vụ, giữ vững bản lĩnh chính trị vững vàng và gắn những vấn đề lý luận với thực tiễn trong công tác giảng dạy. Các trường chính trị cũng cần nghiên cứu tổng kết nội dung các chương trình đào tạo mà nhà trường đã thực hiện; rút kinh nghiệm phương pháp giảng dạy; phương pháp, nội dung nghiên cứu khoa học;... Qua đó, khả năng tư duy độc lập, khả năng tổng hợp, phân tích, nhìn nhận vấn đề ngày càng sâu sắc, khả năng viết, diễn đạt ngày càng được trau dồi, phục vụ tốt hơn công tác giảng dạy.

Bên cạnh đó, việc đảm bảo các điều kiện về nguồn lực cũng là nhân tố thúc đẩy, góp phần tăng hiệu quả quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên các trường chính trị[7]. Bởi vậy, cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần ban hành văn bản pháp luật tạo hành lang pháp lý để các trường chính trị có cơ sở chủ động trong việc quyết định những vấn đề về cơ sở vật chất trong nguồn kinh phí được cấp trên phê duyệt. Xây dựng cơ chế kiểm tra, giám sát việc trang bị cơ sở vật chất, tránh thất thoát tài sản của Nhà nước và cần trang bị những máy móc, thiết bị hiện đại, tránh mua những thiết bị lạc hậu, nhanh xuống cấp. Cần khảo sát ý kiến của giảng viên và người học về nhu cầu sử dụng các trang thiết bị, tránh việc đầu tư dàn trải nhưng hiệu quả sử dụng kém vì không phù hợp với đối tượng và nội dung đào tạo, bồi dưỡng.

ThS. Trần Tuấn Duy

Học viện Cán bộ thành phố Hồ Chí Minh





[1]. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2004), Chỉ thị số 40-CT/TW về xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục.

[2]. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2014), Kết luận số 86-KL/TW của Bộ Chính trị về chính sách thu hút, tạo nguồn cán bộ từ sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, cán bộ khoa học trẻ.

[3]. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2013), Nghị quyết số 29-NQ/TW khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.

[4]. Nguyễn Văn Nhứt (2016), Xây dựng quy trình, tiêu chí đánh giá cán bộ, viên chức của Học viện Cán bộ thành phố Hồ Chí Minh, Đề tài khoa học cấp cơ sở, Học viện Cán bộ thành phố Hồ Chí Minh, tr. 75.

[5]. Nguyễn Văn Nhứt (2016), Xây dựng quy trình, tiêu chí đánh giá cán bộ, viên chức của Học viện Cán bộ thành phố Hồ Chí Minh, Đề tài khoa học cấp cơ sở, Học viện Cán bộ thành phố Hồ Chí Minh, tr. 76.

[6]. Nguyễn Văn Nhứt (2016), Xây dựng quy trình, tiêu chí đánh giá cán bộ, viên chức của Học viện Cán bộ thành phố Hồ Chí Minh, Đề tài khoa học cấp cơ sở, Học viện Cán bộ thành phố Hồ Chí Minh, tr. 78.

[7]. Hoàng Minh Tuấn (2017), Quản lý nhà nước về viên chức từ thực tiễn các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Luận án Tiến sĩ luật học, Học viện Khoa học Xã hội.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: