Thứ năm 27/08/2026 03:56
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số giải pháp tăng cường quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên trường chính trị

Tăng cường quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên các trường chính trị là một nhu cầu cấp bách và cần được xem xét một cách toàn diện, thấu đáo. Những giải pháp đề ra đúng đắn sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục của các trường chính trị và góp phần chấn hưng giáo dục nước nhà. Bài viết đề cập nghiên cứu và đề xuất giải pháp nhằm tăng cường quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên các trường chính trị ở nước ta hiện nay.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ lãnh đạo, quản lý thì việc nâng cao chất lượng giảng dạy lý luận chính trị trở thành nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của các trường chính trị hiện nay. Một trong những yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng giảng dạy trước hết cần nâng cao chất lượng của đội ngũ giảng viên. Đội ngũ giảng viên các trường chính trị có vị trí rất quan trọng, vì đây là nơi đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong hệ thống chính trị. Chất lượng cán bộ, công chức, viên chức phụ thuộc rất lớn vào chất lượng đào tạo, bồi dưỡng của các trường chính trị. Đội ngũ cán bộ có tác động trực tiếp tới sự vững mạnh của hệ thống chính trị, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng ở địa phương, cơ sở.

Quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên các trường chính trị được hiểu là hoạt động chấp hành - điều hành, theo đó, chấp hành là hoạt động thực hiện trên thực tế các quy định pháp luật của Nhà nước và quy chế của các trường chính trị đối với đội ngũ giảng viên; điều hành là hoạt động chỉ đạo của cơ quan nhà nước cấp trên đối với đội ngũ giảng viên. Đặc trưng của hoạt động điều hành là ban hành văn bản pháp luật và hướng dẫn thi hành pháp luật. Trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật khá phong phú và bước đầu đã tạo nền tảng pháp lý đẩy mạnh hoạt động quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên các trường chính trị cấp tỉnh. Tuy nhiên, trên thực tế, việc quản lý đội ngũ giảng viên các trường chính trị vẫn đang gặp phải rất nhiều vấn đề bất cập, việc thu hút những cán bộ đã có kinh nghiệm công tác, có kỹ năng thuyết trình chuyển công tác về trường chính trị là điều vô cùng khó khăn, sức hấp dẫn của chính sách, môi trường làm việc chưa đủ lớn để giảng viên yên tâm gắn bó với trường, với nghề. Đội ngũ giảng viên các trường chính trị rất cần một sự đánh giá công tâm, chính xác, chân thành về năng lực, trình độ và những đóng góp của mình. Họ cũng rất cần sự biểu dương kịp thời, những chính sách đãi ngộ xứng đáng với những nỗ lực và cống hiến của họ. Vì vậy, nhu cầu tăng cường quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên các trường chính trị được đặt ra hết sức cấp thiết và coi đây là khâu bứt phá nhằm nâng cao chất lượng và phát triển toàn diện giáo dục tại các các trường chính trị.

Để tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên các trường chính trị, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho Nhà nước và xã hội, cần quan tâm thực hiện một số giải pháp sau:

1. Tăng cường nhận thức về quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên các trường chính trị

Quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên các trường chính trị là yêu cầu bức thiết đặt ra, để thực hiện tốt nội dung này thì các cơ quan nhà nước, các trường chính trị và bản thân đội ngũ giảng viên cần nhận thức một cách đầy đủ và đúng đắn tầm quan trọng của quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên. Muốn vậy, trước hết, các cơ quan có thẩm quyền cần tuyên truyền, giáo dục vị thế, vai trò của giảng viên để họ tự hào khi được đứng trong hàng ngũ này. Khi đó, giảng viên sẽ có động lực phấn đấu hoàn thiện bản thân và thực sự là người quyết định chất lượng, thương hiệu của các trường chính trị.

Cơ quan nhà nước và lãnh đạo các trường chính trị cần phổ biến sâu rộng quy định của pháp luật về tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn của giảng viên, đảm bảo nhận thức của đội ngũ giảng viên, nhằm thực hiện đầy đủ các văn bản pháp luật liên quan đến giảng viên. Lãnh đạo các trường chính trị cần phổ biến các yêu cầu, nhiệm vụ giáo dục chính trị, đặc biệt là nhiệm vụ đào tạo lý luận chính trị để mỗi giảng viên không ngừng học tập, nâng cao trình độ, đổi mới phương pháp giảng dạy đáp ứng nhu cầu nâng cao chất lượng giáo dục. Đặc biệt là đội ngũ giảng viên trẻ phải thấy trách nhiệm trong việc nâng cao trình độ chuyên môn và trau dồi kinh nghiệm giảng dạy, học hỏi từ các giảng viên có kinh nghiệm, rèn luyện về tác phong, kỷ luật phát ngôn và bản lĩnh chính trị.

Các trường chính trị cần tiếp tục tổ chức phong trào thi đua dạy tốt, từ đó phát hiện và nhân rộng những điển hình tiên tiến; nâng cao nhận thức của xã hội đối với đội ngũ giảng viên, nhằm tạo sự đồng thuận về các giải pháp tăng cường quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên các trường chính trị như Chỉ thị số 40-CT/TW: “Các cấp ủy Đảng, chính quyền và các cấp quản lý giáo dục cần tăng cường tuyên truyền, giáo dục làm cho nhân dân và toàn xã hội nhận thức rõ vai trò quan trọng hàng đầu của đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục trong sự nghiệp nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước”[1].

2. Hoàn thiện pháp luật về quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên các trường chính trị

Cần nhanh chóng “luật hóa” các quan điểm, chủ trương của Đảng về quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên các trường chính trị, bởi nội dung quản lý nhà nước cần được thực hiện trên nền tảng pháp lý vững chắc đó là văn bản pháp luật. Quy định cơ chế quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên, giao quyền tự chủ cho các trường chính trị. Điều này sẽ tạo điều kiện cho các trường chính trị quản lý tốt hơn đội ngũ giảng viên. Nhà nước đề ra các nguyên tắc, chính sách, mục tiêu cụ thể, còn các trường chính trị sẽ chủ động trong tuyển dụng, sử dụng, quản lý, đánh giá, khen thưởng, kỷ luật giảng viên. Quy định cụ thể về tiêu chí đánh giá giảng viên. Bộ tiêu chí này phải cụ thể và định lượng hơn trong việc đánh giá giảng viên cũng như phương pháp đánh giá đảm bảo công tác phân loại, đánh giá viên chức được thuận tiện và chính xác hơn. Thực tế cho thấy, do không có những quy định cụ thể nên việc đánh giá giảng viên chưa chính xác, còn nặng về hình thức, giảng viên chưa nhận thức rõ những ưu điểm và hạn chế của bản thân.

3. Tăng cường hiệu quả công tác quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên các trường chính trị

Thứ nhất, lập kế hoạch công tác cụ thể cho đội ngũ giảng viên

Lãnh đạo trường chính trị cần hướng dẫn các khoa và giảng viên xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng phù hợp với mục tiêu, yêu cầu và nhiệm vụ của nhà trường. Kế hoạch cần cụ thể, chi tiết và đạt được những chỉ tiêu đã đề ra trong từng giai đoạn. Nhà trường căn cứ vào nội dung đăng ký của các khoa để xây dựng kế hoạch, dự trù kinh phí và các điều kiện đảm bảo tổ chức thực hiện có hiệu quả. Định kỳ hàng năm, nhà trường sẽ tổ chức sơ kết quá trình triển khai thực hiện và điều chỉnh kịp thời, xử lý những khó khăn trong quá trình thực hiện.

Thứ hai, đổi mới công tác tuyển dụng, bố trí, sử dụng giảng viên

Hoàn thiện quy định của pháp luật về tuyển dụng, sử dụng, quản lý giảng viên, trong đó cần chú ý việc cụ thể hóa các chủ trương của Đảng như: “Tăng thêm biên chế”, “tuyển chọn trực tiếp không qua thi” được nêu tại Kết luận số 86-KL/TW: “Sinh viên tốt nghiệp xuất sắc và các cán bộ khoa học trẻ được thu hút theo chính sách này được bổ sung tăng thêm biên chế vào tổng số biên chế của các cơ quan, đơn vị đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt”[2]. Thực hiện phân cấp công tác tuyển chọn giảng viên cho các khoa để phát huy tính tự chủ về chuyên môn, nghiệp vụ. Giảng viên trẻ thuộc diện quy hoạch thì lãnh đạo nhà trường có thể phân công một số công việc để họ làm quen với công tác quản lý như chủ trì thông tin khoa học, chủ trì họp chuyên môn. Xây dựng đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn cao làm công tác tuyển dụng, sử dụng, quản lý giảng viên... Thường xuyên thực hiện việc kiểm tra, thanh tra liên quan đến tuyển chọn, bố trí và sử dụng giảng viên.

Thứ ba, tích cực đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho giảng viên

Cần xây dựng các chương trình đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu phù hợp với đặc thù của giảng viên các trường chính trị. Nội dung đào tạo phải có tính mới gắn với thực tiễn thời đại. Bên cạnh đó, cần tập trung vào các chương trình bồi dưỡng kỹ năng như: Kỹ năng quản lý nhà nước, phương pháp giảng dạy hiện đại, kỹ năng nói chuyện trước công chúng, phương pháp nghiên cứu khoa học, kỹ năng xử lý tình huống...

Thứ tư, thực hiện tốt chế độ, chính sách khen thưởng, kỷ luật giảng viên

Cơ quan có thẩm quyền cần tiếp tục chỉ đạo thực hiện nghiêm túc chế độ, chính sách cho giảng viên. Các trường chính trị cần rà soát, bổ sung các quy định về chế độ, chính sách, tạo điều kiện cho giảng viên có điều kiện làm việc tốt nhất; được tăng lương trước hạn khi có thành tích xuất sắc trong giảng dạy. Nhà trường cần thường xuyên quan tâm động viên, hỗ trợ các giảng viên có hoàn cảnh khó khăn, giảng viên thuộc diện gia đình chính sách. Bên cạnh đó, cần quan tâm đến việc đề nghị phong tặng các danh hiệu vinh dự đối với nhà giáo, có các hoạt động tôn vinh nhà giáo có thành tích xuất sắc. Thường xuyên tổ chức thi, xét tuyển vào các chức danh nghề nghiệp để giảng viên có điều kiện nâng lương, phù hợp với vị trí làm việc và sự cống hiến, phấn đấu của giảng viên. Sớm luật hóa các quy định về chế độ, chính sách đãi ngộ cho giảng viên để đảm bảo tính pháp lý. Nghị quyết số 29-NQ/TW đã nêu rõ: “Lương của nhà giáo được ưu tiên xếp cao nhất trong hệ thống thang bậc lương hành chính sự nghiệp và có thêm phụ cấp tùy theo tính chất công việc, theo vùng”[3]. Tuy nhiên, chủ trương này chưa được cụ thể hóa bằng pháp luật, nên lương của nhà giáo nói chung trong đó có đội ngũ giảng viên các trường chính trị vẫn chưa có sự ưu tiên như chủ trương đã đề ra.

Thứ năm, thực hiện hiệu quả việc đánh giá đội ngũ giảng viên

Cần nhanh chóng xây dựng tiêu chí đánh giá chung cho viên chức và những tiêu chí đặc thù cho đội ngũ giảng viên các trường chính trị. Bởi mỗi viên chức với chức trách, nhiệm vụ, vị trí việc làm khác nhau thì cần có tiêu chí đánh giá khác nhau cho phù hợp với từng đối tượng[4]. Các trường cần xác định nội dung và phương pháp đánh giá cho phù hợp, đánh giá theo định kỳ phải khác với đánh giá để đưa vào diện quy hoạch bổ nhiệm hay để khen thưởng, luân chuyển cán bộ[5]. Xây dựng bảng mô tả chức trách, nhiệm vụ, các công việc giao cho giảng viên càng cụ thể, có định mức, dễ kiểm tra thì càng có cơ sở thuận lợi cho việc đánh giá chính xác[6]. Chú trọng đến việc tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ về công tác đánh giá cho cán bộ phụ trách công tác này.

Thứ sáu, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát

Các cơ quan có thẩm quyền cần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác thanh tra giáo dục, thường xuyên cử đi đào tạo, bồi dưỡng trên cơ sở rà soát lại trình độ, kỹ năng nghiệp vụ. Khi đội ngũ này được tăng cường về chất lượng sẽ góp phần đạt được hiệu quả quản lý nhà nước và mục tiêu đề ra. Hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát phải được thực hiện thường xuyên, đồng bộ giữa các đơn vị, kịp thời tuyên dương, khích lệ những giảng viên điển hình, hoàn thành tốt nhiệm vụ và cương quyết xử lý khi phát hiện hành vi vi phạm. Hoàn thiện các công cụ quản lý và vai trò kiểm tra, giám sát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với đội ngũ giảng viên, điều này phải gắn liền với cải cách thủ tục hành chính, gắn với việc áp dụng công nghệ thông tin vào quản lý giảng viên.

Thứ bảy, xây dựng môi trường làm việc khoa học, đảm bảo các điều kiện phục vụ giảng dạy và học tập hiệu quả

Môi trường làm việc của giảng viên là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy. Môi trường làm việc thuận lợi sẽ giúp đội ngũ giảng viên phát huy hết khả năng, cùng chung tay thực hiện nhiệm vụ chung của nhà trường. Ngược lại, môi trường làm việc không tốt sẽ làm cho đội ngũ giảng viên giảm sút động lực phấn đấu. Chú trọng đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, thông qua nghiên cứu khoa học sẽ giúp đội ngũ giảng viên từng bước nâng cao trình độ lý luận, chuyên môn, nghiệp vụ, giữ vững bản lĩnh chính trị vững vàng và gắn những vấn đề lý luận với thực tiễn trong công tác giảng dạy. Các trường chính trị cũng cần nghiên cứu tổng kết nội dung các chương trình đào tạo mà nhà trường đã thực hiện; rút kinh nghiệm phương pháp giảng dạy; phương pháp, nội dung nghiên cứu khoa học;... Qua đó, khả năng tư duy độc lập, khả năng tổng hợp, phân tích, nhìn nhận vấn đề ngày càng sâu sắc, khả năng viết, diễn đạt ngày càng được trau dồi, phục vụ tốt hơn công tác giảng dạy.

Bên cạnh đó, việc đảm bảo các điều kiện về nguồn lực cũng là nhân tố thúc đẩy, góp phần tăng hiệu quả quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên các trường chính trị[7]. Bởi vậy, cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần ban hành văn bản pháp luật tạo hành lang pháp lý để các trường chính trị có cơ sở chủ động trong việc quyết định những vấn đề về cơ sở vật chất trong nguồn kinh phí được cấp trên phê duyệt. Xây dựng cơ chế kiểm tra, giám sát việc trang bị cơ sở vật chất, tránh thất thoát tài sản của Nhà nước và cần trang bị những máy móc, thiết bị hiện đại, tránh mua những thiết bị lạc hậu, nhanh xuống cấp. Cần khảo sát ý kiến của giảng viên và người học về nhu cầu sử dụng các trang thiết bị, tránh việc đầu tư dàn trải nhưng hiệu quả sử dụng kém vì không phù hợp với đối tượng và nội dung đào tạo, bồi dưỡng.

ThS. Trần Tuấn Duy

Học viện Cán bộ thành phố Hồ Chí Minh





[1]. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2004), Chỉ thị số 40-CT/TW về xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục.

[2]. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2014), Kết luận số 86-KL/TW của Bộ Chính trị về chính sách thu hút, tạo nguồn cán bộ từ sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, cán bộ khoa học trẻ.

[3]. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2013), Nghị quyết số 29-NQ/TW khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.

[4]. Nguyễn Văn Nhứt (2016), Xây dựng quy trình, tiêu chí đánh giá cán bộ, viên chức của Học viện Cán bộ thành phố Hồ Chí Minh, Đề tài khoa học cấp cơ sở, Học viện Cán bộ thành phố Hồ Chí Minh, tr. 75.

[5]. Nguyễn Văn Nhứt (2016), Xây dựng quy trình, tiêu chí đánh giá cán bộ, viên chức của Học viện Cán bộ thành phố Hồ Chí Minh, Đề tài khoa học cấp cơ sở, Học viện Cán bộ thành phố Hồ Chí Minh, tr. 76.

[6]. Nguyễn Văn Nhứt (2016), Xây dựng quy trình, tiêu chí đánh giá cán bộ, viên chức của Học viện Cán bộ thành phố Hồ Chí Minh, Đề tài khoa học cấp cơ sở, Học viện Cán bộ thành phố Hồ Chí Minh, tr. 78.

[7]. Hoàng Minh Tuấn (2017), Quản lý nhà nước về viên chức từ thực tiễn các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Luận án Tiến sĩ luật học, Học viện Khoa học Xã hội.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.

Theo dõi chúng tôi trên: