Thứ hai 25/05/2026 10:12
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số góp ý về việc sửa đổi Luật Thanh niên năm 2005

Luật Thanh niên được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 29/11/2005 tại Kỳ họp lần thứ 8 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2006, đây là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc xây dựng chiến lược, chính sách, chương trình phát triển thanh niên và công tác thanh niên Việt Nam.

Qua hơn 10 năm thực hiện, Luật đã góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy Đảng, chính quyền, các tổ chức chính trị, xã hội trong việc chăm lo, tạo điều kiện cho thanh niên phát triển; xây dựng thế hệ thanh niên Việt Nam giàu lòng yêu nước, có đạo đức cách mạng, ý thức công dân và lý tưởng xã hội chủ nghĩa; có trình độ học vấn, nghề nghiệp, việc làm, có tính kỷ luật cao; tạo nguồn nhân lực trẻ có chất lượng cao đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng của dân tộc trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu to lớn mà Luật Thanh niên năm 2005 mang lại thì Luật này cũng đã bộc lộ những hạn chế rõ rệt, chưa tạo được tác động thực sự đối với đời sống xã hội và sự phát triển của đại bộ phận thanh niên, chưa có những đột phá cần thiết về chính sách để hình thành đội ngũ thanh niên có tài năng, được bố trí sử dụng đúng năng lực, tạo động lực cho thế hệ trẻ học tập và phấn đấu. Hiện nay, với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin trong thời đại cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, thanh niên sẽ trở thành lực lượng lao động ngày càng có tính chất quyết định đến việc định hình một cơ cấu kinh tế mới, thực hiện thành công công cuộc đổi mới mà Đảng đã đề ra. Trước bối cảnh đó, đòi hỏi Đảng và Nhà nước ta phải sửa đổi kịp thời các chính sách, quy định đối với thanh niên. Trong đó, việc nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Luật Thanh niên năm 2005 là rất cần thiết.

1. Các chính sách cơ bản của Dự án Luật Thanh niên (sửa đổi)

Trong thời gian vừa qua, Bộ Nội vụ - cơ quan quản lý nhà nước về công tác thanh niên đã tổ chức tổng kết thực tiễn hơn 10 năm thi hành Luật Thanh niên năm 2005, trên cơ sở đó, báo cáo với Chính phủ về việc sửa đổi Luật Thanh niên và được Chính phủ nhất trí, báo cáo Quốc hội đưa vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2019. Theo đó, Đề nghị xây dựng Dự án Luật Thanh niên (sửa đổi) được Chính phủ thông qua bao gồm 07 chính sách quan trọng hướng tới giải quyết những vấn đề vướng mắc, khó khăn, hạn chế trong các quy định của Luật Thanh niên năm 2005 và bổ sung một số nội dung đáp ứng yêu cầu của công tác thanh niên trong tình hình mới. Cụ thể:

Một là, chính sách về đối thoại với thanh niên, Tháng Thanh niên, bảo đảm nguồn lực thực hiện chính sách phát triển thanh niên với nội dung: Quy định trách nhiệm người đứng đầu các cơ quan, tổ chức, đơn vị trong việc đối thoại với thanh niên để tham vấn ý kiến của thanh niên, lắng nghe ý kiến của thanh niên trong xây dựng và thực hiện chính sách, pháp luật liên quan đến thanh niên. Tổ chức Tháng Thanh niên để huy động cả xã hội quan tâm đầu tư cho thanh niên và bảo đảm nguồn lực phát triển thanh niên trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước được quy định trong Luật này.

Hai là, chính sách quy định về trách nhiệm của thanh niên trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc với nội dung: Quy định trách nhiệm của thanh niên trong học tập, lao động; trong bảo vệ Tổ quốc; trong hoạt động khoa học, công nghệ; trong bảo vệ tài nguyên, môi trường; trong bảo vệ sức khỏe, hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao; trong hôn nhân và gia đình; trong quản lý nhà nước và xã hội; trong giám sát và phản biện chính sách, pháp luật liên quan đến thanh niên.

Ba là, chính sách quy định về trách nhiệm của Nhà nước đối với thanh niên với nội dung: Quy định về trách nhiệm của Nhà nước đối với thanh niên để làm rõ trách nhiệm của Nhà nước đối với việc phát triển thanh niên trong 08 lĩnh vực cơ bản liên quan đến 10 nhóm trách nhiệm của thanh niên, cụ thể là: Trong học tập, trong lao động, việc làm; trong hoạt động khoa học, công nghệ và bảo vệ môi trường; trong bảo vệ Tổ quốc; trong hoạt động văn hóa, văn nghệ, vui chơi, giải trí, thể dục, thể thao; trong chăm sóc và bảo vệ sức khỏe; trong hôn nhân và gia đình; trong tham gia quản lý nhà nước và xã hội nhằm chăm lo, giáo dục, bồi dưỡng và phát huy thanh niên; đồng thời, bảo đảm sự thống nhất với các quy định khác của pháp luật có liên quan đến thanh niên.

Bốn là, chính sách của Nhà nước đối với nhóm thanh niên đặc thù với nội dung: Quy định trách nhiệm của Nhà nước đối với thanh niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi; thanh niên tài năng, thanh niên dân tộc thiểu số, thanh niên di cư, thanh niên xung phong, thanh niên khuyết tật, thanh niên nhiễm HIV/AIDS, thanh niên sau cai nghiện ma túy, sau cải tạo nhằm hỗ trợ cho nhóm yếu thế và phát huy nhóm thanh niên tích cực tạo cơ hội bình đẳng về phát triển cho mọi đối tượng thanh niên; đồng thời, bảo đảm thực hiện các cam kết của Việt Nam tại Công ước quốc tế về quyền trẻ em (lứa tuổi thanh niên từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi).

Năm là, chính sách quy định về trách nhiệm của gia đình, nhà trường, xã hội đối với thanh niên với nội dung: Quy định trách nhiệm của Nhà nước, gia đình, nhà trường, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế trong việc bảo đảm cho thanh niên thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình nhằm phát huy vai trò của gia đình, nhà trường, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế trong việc chăm lo giáo dục, bồi dưỡng các thế hệ thanh niên; đồng thời, huy động các nguồn lực hợp pháp của xã hội để đầu tư cho phát triển thanh niên.

Sáu là, quy định về trách nhiệm của các tổ chức thanh niên: Trên cơ sở kế thừa quy định về tổ chức thanh niên tại Chương V Luật Thanh niên năm 2005, Dự án Luật cần sửa đổi, bổ sung làm rõ vị trí, chức năng, vai trò và trách nhiệm của Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh và các tổ chức khác của thanh niên trong việc bảo đảm thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của thanh niên. Đồng thời, nâng cao vị thế, vai trò của tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam trong việc đề xuất với cấp có thẩm quyền xây dựng, ban hành chính sách phát triển thanh niên nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng của thanh niên; hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp; giám sát, phản biện xã hội trong quá trình xây dựng và thực thi các chính sách phát triển thanh niên.

Bảy là, quy định trách nhiệm quản lý nhà nước về thanh niên: Quy định nội dung quản lý nhà nước về thanh niên; trách nhiệm của Bộ Nội vụ, trách nhiệm của các bộ, ngành trung ương và Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp trong việc thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về thanh niên và việc ban hành, tổ chức thực hiện các chính sách được quy định trong Luật Thanh niên; quy định trách nhiệm điều phối và phối hợp trong việc thực hiện chính sách, pháp luật liên quan đến thanh niên.

2. Một số góp ý

Trên cơ sở kết quả tổng kết 10 năm thi hành Luật Thanh niên năm 2005, nghiên cứu nội dung những chính sách cơ bản của Đề nghị xây dựng Dự án Luật Thanh niên (sửa đổi), các quy định Luật Thanh niên năm 2005 và thực tiễn, tác giả góp ý, sửa đổi, bổ sung Luật Thanh niên năm 2005, cụ thể như sau:

Thứ nhất, về quyền và nghĩa vụ của thanh niên, Luật Thanh niên quy định 08 nhóm quyền và nghĩa vụ của thanh niên về học tập, lao động, văn hóa, nghệ thuật, vui chơi, giải trí… về cơ bản, các nhóm quyền này khá bao quát, tuy nhiên lại chưa đầy đủ và cụ thể. Bên cạnh các nhóm quyền và nghĩa vụ nêu trên, đề nghị nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện thêm quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của thanh niên trong các hoạt động liên quan đến báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, tín ngưỡng, tôn giáo và bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, chấp hành những quy tắc sinh hoạt công cộng, quyền việc làm… cho phù hợp với quy định của Hiến pháp năm 2013, qua đó, tạo động lực để thanh niên được phát huy vai trò, tiềm năng to lớn của mình trong phát triển kinh tế, xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Thứ hai, về quyền và nghĩa vụ của thanh niên trong vấn đề lao động, tại Điều 10 Luật Thanh niên năm 2005 quy định:

“1. Lao động để lập thân, lập nghiệp, làm giàu chính đáng, góp phần xây dựng đất nước.

2. Chủ động tiếp cận thông tin thị trường lao động; lựa chọn việc làm và nơi làm việc phù hợp với khả năng của bản thân và nhu cầu của xã hội.

3. Rèn luyện tác phong công nghiệp, năng lực quản lý, kinh doanh, tuân thủ kỷ luật lao động; phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật; nâng cao trình độ nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu phát triển khoa học và công nghệ.

4. Xung kích thực hiện các chương trình phát triển kinh tế - xã hội ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn”.

Quy định như trên làm cho nội dung về quyền và nghĩa vụ của thanh niên trong vấn đề lao động, việc làm không có sự tách bạch rõ ràng, gây khó khăn cho thanh niên trong việc xác định đâu là quyền lợi được hưởng, đâu là nghĩa vụ phải thực hiện trong các lĩnh vực nhằm nâng cao trách nhiệm đối với bản thân, đối với đất nước; đồng thời, cũng gây khó khăn khi ban hành các chính sách, xác định trách nhiệm của Nhà nước, gia đình và xã hội nhằm tạo điều kiện cho việc phát triển thanh niên và tiếp cận việc làm.

Thứ ba, Điều 16 Luật Thanh niên năm 2005 đã quy định, thanh niên “…được bày tỏ ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị với cơ quan, tổ chức về những vấn đề mà mình quan tâm; tham gia góp ý xây dựng các chính sách, pháp luật liên quan đến thanh niên và các chính sách, pháp luật khác…”, tuy nhiên, quy định như vậy vẫn chung chung, chưa có cơ chế cụ thể, các hình thức tham gia để quy định này được thực thi trên thực tế. Chính vì vậy, vai trò của các tổ chức Đoàn cũng như của thanh niên trong việc đóng góp xây dựng chính sách pháp luật và quản lý nhà nước ở nhiều nơi chưa được người đứng đầu coi trọng. Do vậy, cần bổ sung quy định về quyền của thanh niên trong việc tham gia xây dựng chính sách, pháp luật, tham gia vào quản lý nhà nước. Quy định cụ thể các hình thức, phương thức để tổ chức Đoàn các cấp, các tổ chức của thanh niên, thanh niên tham gia vào quy trình xây dựng chính sách, pháp luật và các hoạt động quản lý nhà nước.

Thứ tư, về trách nhiệm quản lý nhà nước về thanh niên, theo Điều 5 Luật Thanh niên năm 2005 thì hiện nay, Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về công tác thanh niên mà chưa có quy định cụ thể bộ, ngành nào làm đầu mối giúp Chính phủ thực hiện việc này; đồng thời, cũng không quy định trách nhiệm của các bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong việc phối hợp triển khai, không có chế tài đảm bảo thực hiện Luật nên các đơn vị không thực hiện đầy đủ trách nhiệm của mình.

Theo Kết luận của Bộ Chính trị tại Thông báo số 327-TB/TW ngày 16/4/2010 về Đề án tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về công tác thanh niên và Nghị định số 78/2017/NĐ-CP ngày 03/7/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 120/2007/NĐ-CP ngày 23/7/2007 của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thanh niên thì Bộ Nội vụ được giao trách nhiệm giúp Chính phủ thống nhất quản lý về thanh niên.

Do vậy, trong Luật Thanh niên sửa đổi, đề nghị quy định rõ việc giao bộ, ngành nào là cơ quan đầu mối tham mưu, giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về công tác thanh niên; quy định trách nhiệm của Bộ Nội vụ và các bộ, ngành, chính quyền địa phương đối với việc quản lý nhà nước về thanh niên; phân định rõ trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc chủ trì, phối hợp để tổ chức triển khai thực hiện các quy định của Luật Thanh niên. Đồng thời, cần quy định các chế tài cụ thể đối với các cơ quan, tổ chức thực hiện nhằm bảo đảm nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi và quản lý nhà nước về thanh niên trên thực tế.

Thứ năm, các hành vi bị nghiêm cấm tại Điều 8 Luật Thanh niên năm 2005 được liệt kê cụ thể, chi tiết, đây là những hành vi đặc thù thường xảy ra đối với lứa tuổi thanh niên (tội phạm ma túy, mại dâm, gây rối trật tự công cộng…). Tuy nhiên, việc quy định cụ thể, chi tiết như hiện nay sẽ dễ dẫn đến việc hiểu và áp dụng không thống nhất, không đầy đủ, không bao quát hết những quy định ở các lĩnh vực khác nhau trong đó có thanh niên là đối tượng áp dụng. Do đó, cần sửa đổi, bổ sung các hành vi bị nghiêm cấm để bao quát những quy định về hành vi bị nghiêm cấm trong các văn bản thuộc các lĩnh vực quản lý khác nhau hoặc bỏ quy định về các hành vi bị nghiêm cấm mà chỉ cần áp dụng các quy định của luật chuyên ngành về vấn đề này.

Thứ sáu, việc cấp ủy đối thoại với thanh niên được thể hiện rõ trong Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 25/7/2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và Chỉ thị số 42-CT/TW ngày 24/3/2015 của Ban Chấp hành Trung ương về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thế hệ trẻ giai đoạn 2015 - 2030, tuy nhiên, vấn đề này lại chưa được quy định trong Luật Thanh niên; tại các bộ, địa phương, việc bố trí kinh phí thực hiện chiến lược, chương trình, mục tiêu phát triển thanh niên chưa được bảo đảm và không có nguồn lực để bố trí thực hiện... Do vậy, cần quy định trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong việc đối thoại với thanh niên, tổ chức Tháng Thanh niên; các giải thưởng cho thanh niên bảo đảm phát huy nguồn lực phát triển thanh niên trong thời kỳ mới.

Thứ bảy, tại khoản 1 Điều 26 Luật Thanh niên năm 2005 quy định: “Nhà nước có cơ chế, chính sách để phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng những thanh niên có năng khiếu, có thành tích xuất sắc trong học tập, hoạt động khoa học và công nghệ, lao động, sản xuất, kinh doanh, quản lý, an ninh, quốc phòng, văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao để trở thành những người tài năng”. Với quy định này, có thể thấy, chính sách đối với thanh niên có tài năng còn chung chung, khó đi vào thực tế, không có cơ quan chịu trách nhiệm chính, mô hình rõ ràng trong việc thực hiện chính sách. Chính vì vậy, cần quy định rõ ràng, cụ thể hơn chính sách đối với thanh niên có tài năng về phạm vi đối tượng (những đối tượng nào được coi là thanh niên tài năng); cơ quan, tổ chức làm đầu mối trong tập hợp, quản lý danh sách những thanh niên có tài năng, chủ động xây dựng các kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, thu hút những đối tượng này vào làm việc trong các lĩnh vực thuộc cơ quan nhà nước; các chế độ, chính sách đối với thanh niên có tài năng nằm trong đối tượng thu hút làm việc cho cơ quan nhà nước;...

Có thể nói, thanh niên là một bộ phận rất quan trọng của xã hội, là một trong những nhân tố quyết định tương lai, vận mệnh của đất nước. Đặt trong bối cảnh cuộc cách mạng khoa học lần thứ tư, trước những cơ hội và thách thức to lớn, Nhà nước cần có những chính sách và định hướng cụ thể hướng đến đối tượng đặc biệt này, nhất là việc hỗ trợ thanh niên trong việc hợp tác quốc tế để đổi mới, học tập và phát triển. Theo đó, Luật Thanh niên sửa đổi cần tiếp cận theo hướng: (i) Sửa đổi, bổ sung quy định trách nhiệm của Nhà nước trong việc phân luồng giáo dục, đào tạo để tạo cơ hội cho thanh niên được học tập, học nghề, nâng cao trình độ ngôn ngữ, được tư vấn hướng nghiệp, được miễn giảm học phí, cấp học bổng... Từ đó, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong phạm vi trách nhiệm của mình sẽ cụ thể hóa và triển khai các chính sách đó trong đời sống trước bối cảnh của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư; (ii) Nhà nước cần thay đổi cách tiếp cận về chính sách lao động và tạo việc làm, có những định hướng, hỗ trợ đặc thù cho thanh niên như các chính sách hướng nghiệp có trình độ cao, khuyến khích thanh niên khởi nghiệp sáng tạo bắng các quy định hỗ trợ về tài chính và các chính sách pháp lý. Đặc biệt, giải quyết việc làm cho thanh niên gắn với đào tạo và phát triển nguồn nhân lực quốc gia, bên cạnh việc phát triển các hệ thống dịch vụ tư vấn, tiếp cận thị trường khởi nghiệp và lao động nước ngoài./.

Minh Minh

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: