Thứ tư 21/01/2026 14:14
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số góp ý về việc sửa đổi Luật Thanh niên năm 2005

Luật Thanh niên được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 29/11/2005 tại Kỳ họp lần thứ 8 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2006, đây là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc xây dựng chiến lược, chính sách, chương trình phát triển thanh niên và công tác thanh niên Việt Nam.

Qua hơn 10 năm thực hiện, Luật đã góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy Đảng, chính quyền, các tổ chức chính trị, xã hội trong việc chăm lo, tạo điều kiện cho thanh niên phát triển; xây dựng thế hệ thanh niên Việt Nam giàu lòng yêu nước, có đạo đức cách mạng, ý thức công dân và lý tưởng xã hội chủ nghĩa; có trình độ học vấn, nghề nghiệp, việc làm, có tính kỷ luật cao; tạo nguồn nhân lực trẻ có chất lượng cao đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng của dân tộc trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu to lớn mà Luật Thanh niên năm 2005 mang lại thì Luật này cũng đã bộc lộ những hạn chế rõ rệt, chưa tạo được tác động thực sự đối với đời sống xã hội và sự phát triển của đại bộ phận thanh niên, chưa có những đột phá cần thiết về chính sách để hình thành đội ngũ thanh niên có tài năng, được bố trí sử dụng đúng năng lực, tạo động lực cho thế hệ trẻ học tập và phấn đấu. Hiện nay, với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin trong thời đại cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, thanh niên sẽ trở thành lực lượng lao động ngày càng có tính chất quyết định đến việc định hình một cơ cấu kinh tế mới, thực hiện thành công công cuộc đổi mới mà Đảng đã đề ra. Trước bối cảnh đó, đòi hỏi Đảng và Nhà nước ta phải sửa đổi kịp thời các chính sách, quy định đối với thanh niên. Trong đó, việc nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Luật Thanh niên năm 2005 là rất cần thiết.

1. Các chính sách cơ bản của Dự án Luật Thanh niên (sửa đổi)

Trong thời gian vừa qua, Bộ Nội vụ - cơ quan quản lý nhà nước về công tác thanh niên đã tổ chức tổng kết thực tiễn hơn 10 năm thi hành Luật Thanh niên năm 2005, trên cơ sở đó, báo cáo với Chính phủ về việc sửa đổi Luật Thanh niên và được Chính phủ nhất trí, báo cáo Quốc hội đưa vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2019. Theo đó, Đề nghị xây dựng Dự án Luật Thanh niên (sửa đổi) được Chính phủ thông qua bao gồm 07 chính sách quan trọng hướng tới giải quyết những vấn đề vướng mắc, khó khăn, hạn chế trong các quy định của Luật Thanh niên năm 2005 và bổ sung một số nội dung đáp ứng yêu cầu của công tác thanh niên trong tình hình mới. Cụ thể:

Một là, chính sách về đối thoại với thanh niên, Tháng Thanh niên, bảo đảm nguồn lực thực hiện chính sách phát triển thanh niên với nội dung: Quy định trách nhiệm người đứng đầu các cơ quan, tổ chức, đơn vị trong việc đối thoại với thanh niên để tham vấn ý kiến của thanh niên, lắng nghe ý kiến của thanh niên trong xây dựng và thực hiện chính sách, pháp luật liên quan đến thanh niên. Tổ chức Tháng Thanh niên để huy động cả xã hội quan tâm đầu tư cho thanh niên và bảo đảm nguồn lực phát triển thanh niên trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước được quy định trong Luật này.

Hai là, chính sách quy định về trách nhiệm của thanh niên trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc với nội dung: Quy định trách nhiệm của thanh niên trong học tập, lao động; trong bảo vệ Tổ quốc; trong hoạt động khoa học, công nghệ; trong bảo vệ tài nguyên, môi trường; trong bảo vệ sức khỏe, hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao; trong hôn nhân và gia đình; trong quản lý nhà nước và xã hội; trong giám sát và phản biện chính sách, pháp luật liên quan đến thanh niên.

Ba là, chính sách quy định về trách nhiệm của Nhà nước đối với thanh niên với nội dung: Quy định về trách nhiệm của Nhà nước đối với thanh niên để làm rõ trách nhiệm của Nhà nước đối với việc phát triển thanh niên trong 08 lĩnh vực cơ bản liên quan đến 10 nhóm trách nhiệm của thanh niên, cụ thể là: Trong học tập, trong lao động, việc làm; trong hoạt động khoa học, công nghệ và bảo vệ môi trường; trong bảo vệ Tổ quốc; trong hoạt động văn hóa, văn nghệ, vui chơi, giải trí, thể dục, thể thao; trong chăm sóc và bảo vệ sức khỏe; trong hôn nhân và gia đình; trong tham gia quản lý nhà nước và xã hội nhằm chăm lo, giáo dục, bồi dưỡng và phát huy thanh niên; đồng thời, bảo đảm sự thống nhất với các quy định khác của pháp luật có liên quan đến thanh niên.

Bốn là, chính sách của Nhà nước đối với nhóm thanh niên đặc thù với nội dung: Quy định trách nhiệm của Nhà nước đối với thanh niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi; thanh niên tài năng, thanh niên dân tộc thiểu số, thanh niên di cư, thanh niên xung phong, thanh niên khuyết tật, thanh niên nhiễm HIV/AIDS, thanh niên sau cai nghiện ma túy, sau cải tạo nhằm hỗ trợ cho nhóm yếu thế và phát huy nhóm thanh niên tích cực tạo cơ hội bình đẳng về phát triển cho mọi đối tượng thanh niên; đồng thời, bảo đảm thực hiện các cam kết của Việt Nam tại Công ước quốc tế về quyền trẻ em (lứa tuổi thanh niên từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi).

Năm là, chính sách quy định về trách nhiệm của gia đình, nhà trường, xã hội đối với thanh niên với nội dung: Quy định trách nhiệm của Nhà nước, gia đình, nhà trường, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế trong việc bảo đảm cho thanh niên thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình nhằm phát huy vai trò của gia đình, nhà trường, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế trong việc chăm lo giáo dục, bồi dưỡng các thế hệ thanh niên; đồng thời, huy động các nguồn lực hợp pháp của xã hội để đầu tư cho phát triển thanh niên.

Sáu là, quy định về trách nhiệm của các tổ chức thanh niên: Trên cơ sở kế thừa quy định về tổ chức thanh niên tại Chương V Luật Thanh niên năm 2005, Dự án Luật cần sửa đổi, bổ sung làm rõ vị trí, chức năng, vai trò và trách nhiệm của Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh và các tổ chức khác của thanh niên trong việc bảo đảm thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của thanh niên. Đồng thời, nâng cao vị thế, vai trò của tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam trong việc đề xuất với cấp có thẩm quyền xây dựng, ban hành chính sách phát triển thanh niên nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng của thanh niên; hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp; giám sát, phản biện xã hội trong quá trình xây dựng và thực thi các chính sách phát triển thanh niên.

Bảy là, quy định trách nhiệm quản lý nhà nước về thanh niên: Quy định nội dung quản lý nhà nước về thanh niên; trách nhiệm của Bộ Nội vụ, trách nhiệm của các bộ, ngành trung ương và Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp trong việc thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về thanh niên và việc ban hành, tổ chức thực hiện các chính sách được quy định trong Luật Thanh niên; quy định trách nhiệm điều phối và phối hợp trong việc thực hiện chính sách, pháp luật liên quan đến thanh niên.

2. Một số góp ý

Trên cơ sở kết quả tổng kết 10 năm thi hành Luật Thanh niên năm 2005, nghiên cứu nội dung những chính sách cơ bản của Đề nghị xây dựng Dự án Luật Thanh niên (sửa đổi), các quy định Luật Thanh niên năm 2005 và thực tiễn, tác giả góp ý, sửa đổi, bổ sung Luật Thanh niên năm 2005, cụ thể như sau:

Thứ nhất, về quyền và nghĩa vụ của thanh niên, Luật Thanh niên quy định 08 nhóm quyền và nghĩa vụ của thanh niên về học tập, lao động, văn hóa, nghệ thuật, vui chơi, giải trí… về cơ bản, các nhóm quyền này khá bao quát, tuy nhiên lại chưa đầy đủ và cụ thể. Bên cạnh các nhóm quyền và nghĩa vụ nêu trên, đề nghị nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện thêm quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của thanh niên trong các hoạt động liên quan đến báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, tín ngưỡng, tôn giáo và bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, chấp hành những quy tắc sinh hoạt công cộng, quyền việc làm… cho phù hợp với quy định của Hiến pháp năm 2013, qua đó, tạo động lực để thanh niên được phát huy vai trò, tiềm năng to lớn của mình trong phát triển kinh tế, xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Thứ hai, về quyền và nghĩa vụ của thanh niên trong vấn đề lao động, tại Điều 10 Luật Thanh niên năm 2005 quy định:

“1. Lao động để lập thân, lập nghiệp, làm giàu chính đáng, góp phần xây dựng đất nước.

2. Chủ động tiếp cận thông tin thị trường lao động; lựa chọn việc làm và nơi làm việc phù hợp với khả năng của bản thân và nhu cầu của xã hội.

3. Rèn luyện tác phong công nghiệp, năng lực quản lý, kinh doanh, tuân thủ kỷ luật lao động; phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật; nâng cao trình độ nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu phát triển khoa học và công nghệ.

4. Xung kích thực hiện các chương trình phát triển kinh tế - xã hội ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn”.

Quy định như trên làm cho nội dung về quyền và nghĩa vụ của thanh niên trong vấn đề lao động, việc làm không có sự tách bạch rõ ràng, gây khó khăn cho thanh niên trong việc xác định đâu là quyền lợi được hưởng, đâu là nghĩa vụ phải thực hiện trong các lĩnh vực nhằm nâng cao trách nhiệm đối với bản thân, đối với đất nước; đồng thời, cũng gây khó khăn khi ban hành các chính sách, xác định trách nhiệm của Nhà nước, gia đình và xã hội nhằm tạo điều kiện cho việc phát triển thanh niên và tiếp cận việc làm.

Thứ ba, Điều 16 Luật Thanh niên năm 2005 đã quy định, thanh niên “…được bày tỏ ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị với cơ quan, tổ chức về những vấn đề mà mình quan tâm; tham gia góp ý xây dựng các chính sách, pháp luật liên quan đến thanh niên và các chính sách, pháp luật khác…”, tuy nhiên, quy định như vậy vẫn chung chung, chưa có cơ chế cụ thể, các hình thức tham gia để quy định này được thực thi trên thực tế. Chính vì vậy, vai trò của các tổ chức Đoàn cũng như của thanh niên trong việc đóng góp xây dựng chính sách pháp luật và quản lý nhà nước ở nhiều nơi chưa được người đứng đầu coi trọng. Do vậy, cần bổ sung quy định về quyền của thanh niên trong việc tham gia xây dựng chính sách, pháp luật, tham gia vào quản lý nhà nước. Quy định cụ thể các hình thức, phương thức để tổ chức Đoàn các cấp, các tổ chức của thanh niên, thanh niên tham gia vào quy trình xây dựng chính sách, pháp luật và các hoạt động quản lý nhà nước.

Thứ tư, về trách nhiệm quản lý nhà nước về thanh niên, theo Điều 5 Luật Thanh niên năm 2005 thì hiện nay, Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về công tác thanh niên mà chưa có quy định cụ thể bộ, ngành nào làm đầu mối giúp Chính phủ thực hiện việc này; đồng thời, cũng không quy định trách nhiệm của các bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong việc phối hợp triển khai, không có chế tài đảm bảo thực hiện Luật nên các đơn vị không thực hiện đầy đủ trách nhiệm của mình.

Theo Kết luận của Bộ Chính trị tại Thông báo số 327-TB/TW ngày 16/4/2010 về Đề án tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về công tác thanh niên và Nghị định số 78/2017/NĐ-CP ngày 03/7/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 120/2007/NĐ-CP ngày 23/7/2007 của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thanh niên thì Bộ Nội vụ được giao trách nhiệm giúp Chính phủ thống nhất quản lý về thanh niên.

Do vậy, trong Luật Thanh niên sửa đổi, đề nghị quy định rõ việc giao bộ, ngành nào là cơ quan đầu mối tham mưu, giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về công tác thanh niên; quy định trách nhiệm của Bộ Nội vụ và các bộ, ngành, chính quyền địa phương đối với việc quản lý nhà nước về thanh niên; phân định rõ trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc chủ trì, phối hợp để tổ chức triển khai thực hiện các quy định của Luật Thanh niên. Đồng thời, cần quy định các chế tài cụ thể đối với các cơ quan, tổ chức thực hiện nhằm bảo đảm nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi và quản lý nhà nước về thanh niên trên thực tế.

Thứ năm, các hành vi bị nghiêm cấm tại Điều 8 Luật Thanh niên năm 2005 được liệt kê cụ thể, chi tiết, đây là những hành vi đặc thù thường xảy ra đối với lứa tuổi thanh niên (tội phạm ma túy, mại dâm, gây rối trật tự công cộng…). Tuy nhiên, việc quy định cụ thể, chi tiết như hiện nay sẽ dễ dẫn đến việc hiểu và áp dụng không thống nhất, không đầy đủ, không bao quát hết những quy định ở các lĩnh vực khác nhau trong đó có thanh niên là đối tượng áp dụng. Do đó, cần sửa đổi, bổ sung các hành vi bị nghiêm cấm để bao quát những quy định về hành vi bị nghiêm cấm trong các văn bản thuộc các lĩnh vực quản lý khác nhau hoặc bỏ quy định về các hành vi bị nghiêm cấm mà chỉ cần áp dụng các quy định của luật chuyên ngành về vấn đề này.

Thứ sáu, việc cấp ủy đối thoại với thanh niên được thể hiện rõ trong Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 25/7/2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và Chỉ thị số 42-CT/TW ngày 24/3/2015 của Ban Chấp hành Trung ương về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thế hệ trẻ giai đoạn 2015 - 2030, tuy nhiên, vấn đề này lại chưa được quy định trong Luật Thanh niên; tại các bộ, địa phương, việc bố trí kinh phí thực hiện chiến lược, chương trình, mục tiêu phát triển thanh niên chưa được bảo đảm và không có nguồn lực để bố trí thực hiện... Do vậy, cần quy định trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong việc đối thoại với thanh niên, tổ chức Tháng Thanh niên; các giải thưởng cho thanh niên bảo đảm phát huy nguồn lực phát triển thanh niên trong thời kỳ mới.

Thứ bảy, tại khoản 1 Điều 26 Luật Thanh niên năm 2005 quy định: “Nhà nước có cơ chế, chính sách để phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng những thanh niên có năng khiếu, có thành tích xuất sắc trong học tập, hoạt động khoa học và công nghệ, lao động, sản xuất, kinh doanh, quản lý, an ninh, quốc phòng, văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao để trở thành những người tài năng”. Với quy định này, có thể thấy, chính sách đối với thanh niên có tài năng còn chung chung, khó đi vào thực tế, không có cơ quan chịu trách nhiệm chính, mô hình rõ ràng trong việc thực hiện chính sách. Chính vì vậy, cần quy định rõ ràng, cụ thể hơn chính sách đối với thanh niên có tài năng về phạm vi đối tượng (những đối tượng nào được coi là thanh niên tài năng); cơ quan, tổ chức làm đầu mối trong tập hợp, quản lý danh sách những thanh niên có tài năng, chủ động xây dựng các kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, thu hút những đối tượng này vào làm việc trong các lĩnh vực thuộc cơ quan nhà nước; các chế độ, chính sách đối với thanh niên có tài năng nằm trong đối tượng thu hút làm việc cho cơ quan nhà nước;...

Có thể nói, thanh niên là một bộ phận rất quan trọng của xã hội, là một trong những nhân tố quyết định tương lai, vận mệnh của đất nước. Đặt trong bối cảnh cuộc cách mạng khoa học lần thứ tư, trước những cơ hội và thách thức to lớn, Nhà nước cần có những chính sách và định hướng cụ thể hướng đến đối tượng đặc biệt này, nhất là việc hỗ trợ thanh niên trong việc hợp tác quốc tế để đổi mới, học tập và phát triển. Theo đó, Luật Thanh niên sửa đổi cần tiếp cận theo hướng: (i) Sửa đổi, bổ sung quy định trách nhiệm của Nhà nước trong việc phân luồng giáo dục, đào tạo để tạo cơ hội cho thanh niên được học tập, học nghề, nâng cao trình độ ngôn ngữ, được tư vấn hướng nghiệp, được miễn giảm học phí, cấp học bổng... Từ đó, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong phạm vi trách nhiệm của mình sẽ cụ thể hóa và triển khai các chính sách đó trong đời sống trước bối cảnh của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư; (ii) Nhà nước cần thay đổi cách tiếp cận về chính sách lao động và tạo việc làm, có những định hướng, hỗ trợ đặc thù cho thanh niên như các chính sách hướng nghiệp có trình độ cao, khuyến khích thanh niên khởi nghiệp sáng tạo bắng các quy định hỗ trợ về tài chính và các chính sách pháp lý. Đặc biệt, giải quyết việc làm cho thanh niên gắn với đào tạo và phát triển nguồn nhân lực quốc gia, bên cạnh việc phát triển các hệ thống dịch vụ tư vấn, tiếp cận thị trường khởi nghiệp và lao động nước ngoài./.

Minh Minh

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích những bất cập trong quy định của pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con, từ đó, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy quyền được giáo dục của con trong gia đình được thực hiện hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển của trẻ em và xã hội trong bối cảnh hiện nay.
Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu một số học thuyết và phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật, chỉ ra những bất cập tồn tại trong quy định pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam chưa phù hợp với các học thuyết này. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng trong thời gian tới.
Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Tóm tắt: Cải cách thủ tục hành chính là yếu tố quan trọng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính, thúc đẩy cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đặc biệt là tạo động lực cho đổi mới sáng tạo. Nghiên cứu này phân tích sự cần thiết của cải cách thủ tục hành chính và thực trạng cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam trong việc khơi thông động lực đổi mới sáng tạo, từ đó, đề xuất giải pháp cải cách.
Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích quá trình phát triển tư tưởng về mối quan hệ giữa luật pháp và kinh tế học, tập trung vào trường phái kinh tế học pháp luật với phương pháp phân tích chi phí - lợi ích làm nổi bật vai trò quan trọng của việc cân nhắc các tác động hành vi cùng hiệu quả phân bổ nguồn lực trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật. Trên cơ sở đó, đề xuất áp dụng phương pháp kinh tế học pháp luật vào quy trình lập pháp tại Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả, tính minh bạch, sự công bằng xã hội và góp phần thúc đẩy cải cách pháp luật bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chuyển đổi số.
Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Tranh chấp lao động cá nhân là tranh chấp phổ biến nhất trong quan hệ lao động và ngày càng diễn biến phức tạp, cùng với đó, nhu cầu về cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả, linh hoạt và bảo đảm quyền lợi cho các bên cũng ngày càng tăng trong lĩnh vực lao động. Trọng tài lao động với tính chất độc lập và được thiết kế theo cơ chế ba bên, có tiềm năng trở thành phương thức giải quyết tranh chấp lao động cá nhân hiệu quả. Bài viết phân tích thực trạng pháp luật hiện hành về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.
Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích các dấu hiệu nhận diện đặc trưng của tài sản số, những khó khăn, bất cập khi thiếu khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số, kinh nghiệm của Hoa Kỳ và giá trị tham khảo cho Việt Nam. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng khung pháp lý vững chắc giúp Việt Nam có cơ hội phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực công nghệ, bảo vệ quyền lợi của người sở hữu tài sản số, tận dụng tối đa tiềm năng từ tài sản số và tiếp tục vững bước trên con đường phát triển kinh tế số.

Theo dõi chúng tôi trên: